Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng xây dựng nam định trong giai đoạn hiện nay luận văn ths g - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Khoa Sư phạm

Lê Văn Dũng

Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng
Nam Định trong giai đoạn hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số:

60 14 05

HÀ NỘI – 2007


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong định hướng xây dựng mục tiêu tổng quát chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội năm 2006 - 2010 của Đảng đã khẳng định: “Sớm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên cần
phải có nhiều yếu tố trong đó một yếu tố rất quan trọng là nguồn nhân lực.
Giáo dục đào tạo cần đi trước trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất
lượng cao đáp ứng được nhu cầu mới của đất nước. Như vậy là chất lượng
đào tạo cần phải được nâng lên một bước nhằm phát triển nguồn nhân lực,
yếu tố cơ bản để kinh tế, xã hội tăng trưởng và phát triển bền vững.
Chỉ thị 40/TC-TW ngày 15/6/2004 của BCH Trung ương Đảng khoá
IX chỉ rõ “ Trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời
kỳ CNH- HĐH, đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD có những hạn chế, bất
cập. Số lượng giáo viên còn thiếu. Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa
các môn học, bậc học, các vùng miền. Chất lượng chuyên môn nghiệp vụ

nhà nước và xã hội đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên và công
nhân viên của nhà trường. Trong bước phát triển mới Đảng uỷ, Ban giám
hiệu đã đặt ra nhiều nhiệm vụ mới, trong đó trọng tâm là xây dựng đội ngũ
giảng viên đủ phẩm chất và năng lực nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ mới của trường.
Từ những lý do trên, việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Các biện
pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Xây dựng Nam
Định trong giai đoạn hiện nay” là phù hợp và hữu ích góp phần xây dựng
Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định nói riêng và công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước tiến tới hội nhập trong khu vực và thế giới nói
chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao
đẳng Xây dựng Nam Định đáp ứng nhu cầu phát triển hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triẻn đội ngũ giảng viên
Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên
Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định trong giai đoạn phát triển hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2


- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận cho việc đề xuất và thực hiện các biện
pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao
đẳng Xây dựng Nam Định hiện nay.
- Đề xuất các biện pháp mang tính khả thi nhằm xây dựng và phát triển
đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định.
5. Giả thuyết khoa học

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đề
cập ngay từ khi vừa giành được chính quyền với phong trào “bình dân học
vụ”. Giặc dốt đã được coi là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chính quyền
non trẻ ngang với giặc ngoại xâm và giặc đói. Đi đôi với đó là vấn đề phát
triển đội ngũ giáo viên đã được Đảng, Nhà nước và cả xã hội hết sức quan
tâm. Khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là từ khi đất nước
thống nhất, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện tốt
nhất cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trong đó có việc
nghiên cứu về đội ngũ giảng viên. Tiên phong là các công trình nghiên cứu
về đội ngũ giảng viên được triển khai dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và
Đào tạo. Đó là các công trình nghiên cứu về mô hình nhân cách của đội ngũ
giáo viên các bậc học, cấp học và mô hình nhân cách của người quản lý nhà
trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Các hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dưới góc độ quản
lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Một số nghiên cứu của
các tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003). Quản lý đội
ngũ. Modul C - Chuyên đề 6, Chương trình huấn luyện kỹ năng quản lý và
dự án lãnh đạo, Dự án giáo viên THCS, Hà Nội [22]; Đỗ Minh Cương Nguyễn Thị Doan (2002). Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục Đại học
Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội [27] …
Gần đây, nhất là từ khi ngành quản lý giáo dục được đưa vào đào tạo
trong bậc sau đại học, nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu
4


thuộc lĩnh vực quản lý đội ngũ trong giáo dục, trong đó có vấn đề phát triển
đội ngũ giáo viên. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo
viên theo bậc học và ngành học trong đó chủ yếu đề cập đến đội ngũ giáo
viên của các khối trường Trung học chuyên nghiệp và giảng viên của các

phổ thông trung học và các trường cao đẳng.
- Tại Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định chưa có nghiên cứu cụ
thể nào về đội ngũ giảng viên.
Việc nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Cao đẳng
Xây dựng Nam Định cần được quan tâm nghiên cứu một cách hệ thống.

1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Đội ngũ giảng viên
1.2.1.1. Giảng viên
Theo điều 61 Luật giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 chỉ rõ “Nhà giáo
là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ
sở giáo dục khác. Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học và
sau đại học gọi là giảng viên” [13, tr.56].
Theo Luật giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
“Giảng viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo
dục tại các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học”. Trang 50 Luật
giáo dục (1999), Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo
dục (10.2004). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội.
Nhà giáo là nhân tố ảnh hưởng chính và quyết định đến chất lượng
của giáo dục. Lao động của họ tạo ra sản phẩm là con người được giáo dục,
đào tạo về kiến thức cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng lao động
đáp ứng nhu cầu của kinh tế xã hội. Trong công cuộc đổi mới, mở cửa hội
nhập của đất nước ta hiện nay, lao động của nhà giáo trực tiếp đáp ứng nhu
cầu về nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước. Lao động của nhà giáo đồng
thời hình thành nhân cách cho lớp thế hệ trẻ theo nhu cầu của công cuộc
6





- Phẩm chất đạo đức tốt. Phẩm chất hàng đầu của nhà giáo là lòng yêu
nước, giác ngộ xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện ở niềm tin cách mạng trong
sáng và cao thượng. Tình cảm này xuất phát từ lòng yêu nước, lý tưởng cách
mạng đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Nó
còn thể hiện ở lòng yêu nghề và có nhu cầu làm việc tại cơ sở đào tạo; có
trách nhiệm với học sinh, có tính kiên trì, thái độ kiềm chế và chủ động trong
cách đối xử với học sinh; có nếp sống giản dị, khiêm tốn, lịch sự.
- Về trình độ chuyên môn, trong công tác đào tạo, đội ngũ nhà giáo giữ
vai trò quyết định đối với chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Trước hết họ là những người thầy và mặc dù không phải là nguồn kiến
thức chủ yếu, độc tôn đối với người học xong nhiệm vụ quan trọng của nhà
giáo là cung cấp những kiến thức một cách chính xác, có hệ thống đồng thời
giúp người học biết cách tự học, biết cách nghiên cứu khoa học, tổng kết rút
kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
Trình độ chuyên môn của thầy phải giỏi, có chuyên môn sâu, có bằng
cấp đạt tiêu chuẩn, có khả năng trả lời những câu hỏi của người học, ít nhất
là trong chuyên môn của mình phụ trách. Luôn luôn quan tâm đổi mới, lựa
chọn nội dung, chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo.
- Yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm. Trình độ sư phạm là trình độ nghề
nghiệp hoạt động cao của những nhà giáo, đó là sự thể hiện độc đáo không
chỉ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả việc xử lý những tình huống
khó đòi hỏi có tính tâm lý giáo dục, nhân cách được phát triển phù hợp với
các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp. Muốn có chất lượng dạy học tốt thì nhà
giáo phải có trình độ sư phạm tốt, phải có một hệ thống tri thức giỏi về
chuyên môn, phải nắm được một hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, phải
rèn luyện được những phẩm chất, nhân cách đặc trưng cho nghề dạy học.
Điều kiện để hình thành trình độ sư phạm là nhà giáo phải biết tích lũy kiến
thức khoa học ở trình độ cao, phải biết nghiên cứu khoa học, phải tích cực

và giáo dục.
- Được đảm bảo mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần; được chăm sóc
sức khỏe theo các chính sách, chế độ đối với nhà giáo.
9


- Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý
nhà trường.
- Được hưởng nguyên lương và phụ cấp khi được cử đi học để nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học theo quy định.
- Được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.
1.2.1.2. Đội ngũ
Người ta thường dùng khái niệm đội ngũ để chỉ các tổ chức xã hội một
cách rộng rãi như: Đội ngũ công nhân viên ngành xây dựng, đội ngũ tri thức
trẻ… đó là một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng có
cùng nghề nghiệp…
Theo từ điển Tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu đội ngũ là khối đông
người cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng.
Đội ngũ được định nghĩa như sau: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số
đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực
lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất
định”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, chúng ta có thể hiểu đội ngũ là một tập
thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau
về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc.
Với nhiều cách diễn đạt khác nhau, các định nghĩa đều nêu rõ đội ngũ
là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để cùng
thực hiện một hay nhiều chức năng có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nhau

giảng viên nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một cao của giáo dục. Sau đây là các
khái niệm cơ bản:
- Phát triển
Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho biến
đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Lý
luận của phép biện chứng duy vật khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng không
phải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn
biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái
11


mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình
phát triển, tiến lên mãi mãi. Nguyên nhân của sự phát triển là ở sự liên hệ tác
động qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong của các sự vật, hiện tượng.
Hình thái, cách thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng dẫn đến
sự biến đổi về chất và ngược lại. Con đường, xu hướng của sự phát triển
không đi theo đường thẳng, cũng không đi theo đường tròn khép kín mà theo
đường xoáy ốc, tạo thành xu thế phát triển, tiến lên từ từ, từ đơn giản đến
phức tạp, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.
Những năm của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ “phát triển”
được sử dụng khá rộng rãi với cách hiểu đơn giản là phát triển kinh tế. Sau
đó, khái niệm này được bổ sung thêm về nội hàm và được hiểu một cách
toàn diện hơn. Ngày nay, khái niệm phát triển được sử dụng để chỉ cả ba mục
tiêu cơ bản của nhân loại là: phát triển con người toàn diện; bảo vệ môi
trường; tạo hòa bình và ổn định chính trị.
Phát triển là một quá trình nội tại, là bước chuyển hóa từ thấp đến cao.
Trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn
đến cái cao. Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã
hội. Phát triển là một quá trình hiện thực nhưng cũng có thể là một tiềm năng
của sự vật, hiện tượng.

nguồn
nhân lực

Sử dụng
nguồn
nhân lực

- Giáo dục
- Đào tạo
- Bồi dưỡng
- Phát triển
- Nghiên cứu,
phục vụ

- Tuyển dụng
- Sàng lọc
- Bố trí
- Đánh giá
- Đãi ngộ
- Kế hoạch hóa
sức lao động

Môi
trường
nguồn
nhân lực

- Mở rộng việc làm
- Mở rộng quy mô
việc làm

kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn phong phú.
- Nhiều giảng viên kết hợp tham gia chỉ đạo, giám sát, thi công các
công trình xây dựng vừa và nhỏ ở ngoài thực tế sản xuất.
1.3.2. Những yêu cầu về đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng
1.3.2.1. Chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng đội ngũ là một khái niệm rộng bao hàm nhiều yếu tố như:
trình độ được đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên công tác
của các thành viên, thâm niên trong vị trí làm việc, khả năng thâm nhập thực
tế, sự thích ứng với những thay đổi, sự hài hòa giữa các yếu tố… Có thể khái
quát chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng ở:
- Phẩm chất và năng lực của đội ngũ giảng viên.
- Sự hài hòa giữa các yếu tố trong đội ngũ.
Trong đó, sự hài hòa giữa chức vụ, ngạch bậc và trình độ được đào
tạo. Sự hài hòa giữa nội dung công việc và vị trí mà người giảng viên đang
15


đảm nhiệm. Theo các tiêu chí trên, khi đánh giá chất lượng đội ngũ giảng
viên trường Cao đẳng Xây dựng cần chú ý tới các khía cạnh như:
- Trong đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng tình trạng đạt
chuẩn và chưa đạt chuẩn như thế nào? Các biện pháp cần được thực thi để
đạt được mục đích mong muốn về trình độ đào tạo của đội ngũ?
- Khi đã đạt được trình độ đào tạo, giảng viên trường Cao đẳng Xây
dựng có đáp ứng được các yêu cầu giảng dạy trong nhà trường hiện nay
không? Có bao nhiêu giảng viên cần phải được bồi dưỡng và áp dụng hình
thức, biện pháp nào? Việc bố trí giảng viên hiện nay đã hợp lý chưa, có hiệu
quả chưa?
Tất cả các vấn đề nêu trên phải được phân tích theo mô hình nhân cách
của người giảng viên sư phạm với hệ thống phẩm chất và năng lực cụ thể
được xác định như trong mô hình (hình 2).


PHẨM CHẤT NHÀ GIÁO

NĂNG LỰC SƯ PHẠM

CÁC
CÁC
CÁC
NĂNG LỰC NĂNG LỰC NĂNG LỰC
DẠY HỌC GIÁO DỤC TỰ HOÀN
THIỆN

Hình 1.2: Mô hình nhân cách của giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng

1.3.2.2. Số lượng đội ngũ giảng viên
Số lượng đội ngũ giảng viên được xác định trên cơ sở số lượng sinh
viên (biên chế theo đơn vị lớp học) và định mức biên chế theo quy định của
Nhà nước.
Khi tính toán số lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng
cần quan tâm đến một số vấn đề sau:
17


- Công tác tuyển sinh ở các ngành, nghề có khác nhau. Có ngành, nghề
dễ tuyển sinh thì số lượng sinh viên nhiều; có ngành nghề khó tuyển sinh thì
số lượng sinh viên ít. Trong khi đó vẫn phải đảm bảo tổng chỉ tiêu tuyển sinh
nên quy mô lớp học (sĩ số sinh viên/ lớp học) sẽ làm ảnh hưởng đến số lượng
giảng viên. Do đó số lượng giảng viên cũng sẽ có những thay đổi không theo
định mức chung.
- Đặc thù của trường là có tổ chức liên kết đào tạo với các cơ sở ngoài

Khi nghiên cứu cơ cấu độ tuổi, người ta thường sử dụng công cụ là
tháp tuổi để mô hình hóa làm cho việc phân tích được trực quan hơn. Hiện
nay, khi nghiên cứu cơ cấu giảng viên theo độ tuổi, những khoảng cách tuổi
sau hay được sử dụng: từ 20 đến 30, từ 31 đến 35, từ 36 đến 40, từ 41 đến
45, từ 46 đến 50, từ 51 đến 55, từ 56 đến 60 và lớn hơn 60.
Cơ cấu giới tính
Cơ cấu giới tính cho phép phân tổ đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng Xây dựng về giới. Tại các trường Cao đẳng Xây dựng tỷ lệ giảng viên
nam cao hơn tỷ lệ giảng viên nữ. Nếu chỉ xét về mặt tỷ lệ của cơ cấu giới
tính của đội ngũ giảng viên cao đẳng xây dựng chưa cho nhiều thông tin về
phát triển đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, về các khía cạnh khác như điều
kiện được đào tạo để nâng cao trình độ, bồi dưỡng thường xuyên; thời gian
học tập cá nhân; thời gian nghỉ ốm đau, thai sản, con ốm… lại là những yếu
tố tác động đến chất lượng của đội ngũ. Do vậy, cơ cấu giới tính của đội ngũ
giảng viên khác nhau thì hệ thống biện pháp liên quan đến những thay đổi
của mỗi đội ngũ cũng đương nhiên phải là khác nhau.
Tóm lại, để đánh giá về sự phát triển của đội ngũ giảng viên nói
chung, đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng nói riêng cần phải căn
cứ vào các đặc trưng của đội ngũ đó. Những đặc trưng này được xác định cả
về số lượng và chất lượng cũng như cơ cấu của đội ngũ. Ba phương diện nêu
trên được tách ra để nghiên cứu chi tiết về phương diện lý thuyết. Trên thực
tế các phương diện này có quan hệ và chi phối nhau một cách mật thiết, khó
tách bạch cụ thể từng phương diện. Số lượng và cơ cấu của đội ngũ ảnh
19


hưởng đến chất lượng của đội ngũ. Ngược lại, chất lượng của đội ngũ luôn
thể hiện những thay đổi trong số lượng và cơ cấu của đội ngũ đó. Có thể mô
tả tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng Xây dựng qua các đặc trưng của đội ngũ đó như hình 3 dưới đây:

CƠ CẤU
ĐỘI NGŨ

Cơ cấu
về
độ tuổi

Cơ cấu
về
giới

Hình 1.3: Tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Xây dựng
1.4. Phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng
1.4.1. Quan điểm phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng
1.4.1.1. Quan điểm phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng
theo các nội dung của công tác phát triển đội ngũ.
* Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Xây dựng theo các
phương pháp tiếp cận quản lý nguồn nhân lực.

20


Sơ đồ quản lý nguồn nhân lực sẽ được sử dụng chủ yếu để tìm kiếm
các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng.
Thuật ngữ quản lý nguồn nhân lực bao hàm nhiều hoạt động khác nhau thuộc
phạm vi hoạch định chính sách để quản lý nguồn nhân lực. Các nghiên cứu
về lĩnh vực này đã khái quát ba cấp độ của sơ đồ quản lý nguồn nhân lực:
- Quản lý nguồn nhân lực xây dựng từ một chuẩn đoán về các hoạt
động quản lý.

Quản lý nguồn

thể về tổ chức

nhân lực xây
dựng từ một
chuẩn đoán về
các hoạt động
quản lý
Hình 1. 4: Ba cấp độ của quản lý nguồn nhân lực
- Phương pháp nghiên cứu theo sơ đồ cấp độ một: Phương pháp này
chủ yếu dựa vào việc phân tích các hoạt động quản lý nguồn nhân lực hiện
tại. Đây là phương pháp mang tính định tính, áp dụng cho quản lý nguồn
nhân lực của một tổ chức nhằm tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng… Trong một
số trường hợp, phương pháp này cho phép tái thiết kế tổ chức, tái thiết kế
logic hoạt động quản lý nguồn nhân lực của tổ chức làm tăng giá trị bổ sung
cho tổ chức.
- Phương pháp nghiên cứu theo sơ đồ cấp độ hai: Những phương pháp
này được xây dựng kỹ lưỡng hơn vì không chỉ dựa trên sự chuẩn đoán các

22


hoạt động quản lý nguồn nhân lực hiện có mà còn dựa trên sự phân tích tổng
thể về hoạt động của tổ chức.
- Phương pháp nghiên cứu theo sơ đồ cấp độ ba: Phương pháp này
dựa vào cả hai loại sơ đồ nói trên. Nó không chỉ dựa trên sự phân tích, chuẩn
đoán tình hình hiện tại mà trước hết dựa trên phân tích, dự báo chi tiết về nhu
cầu tương lai. Phương pháp này xác định các hoạt động bao quát cần tiến
hành để giảm thiểu sự chênh lệch về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn

sơ đồ quản lý
nguồn
nhân lực

Theo
sơ đồ 1

Theo
sơ đồ 2

Tiếp cận
thực tiễn
của
tổ chức

Theo
sơ đồ 3

Phân tích
thực tế

Hoạch định
chính sách

Áp dụng trong nghiên cứu
phát triển đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Xây dựng
Hình 1. 5: Quan điểm phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng
Xây dựng theo các nội dung của công tác phát triển đội ngũ
1.4.1.2. Quan điểm phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status