ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRẦN ĐỨC HIỂN
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRỌNG HẬU
Hà Nội – 2007
26
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
BGH
Ban Giám hiệu
CBGV
Cán bộ giáoviên
CBQLGD
Cán bộ quản lý giáo dục
Học sinh sinh viên
KHKT
Khoa học kỹ thuật
MT
Mục tiêu
MTĐT
Mục tiêu đào tạo
NCGD
Nghiên cứu giáo dục
ND
Nội dung
ND ĐT
Nội dung đào tạo
NN
Ngoại ngữ
Quản lý
QLTBDH
Quản lý thiết bị dạy học
TBDH
Thiết bị dạy học
TBGD
Thiết bị giáo dục
TH
Tin học
Th
Thầy
TN
Thực nghiệm
TTKHGD
Thông tin khoa học giáo dục
về TBDH. Việc cải tiến nội dung phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện
được nếu có thiết bị dạy học đảm bảo tính phù hợp vừa phục vụ tốt cho cải
tíên vừa hiện đại theo sự tiến bộ của nội dung, phương pháp đào tạo. Để đổi
mới phương pháp giáo dục đào tạo đòi hỏi phải có đội ngũ người dạy có trình
độ cao, đồng thời cần phải trang bị cho họ công cụ lao động đó là TBDH. Với
phương pháp dạy học tiên tiến, TBDH giữ vai trò không thể thiếu được, nó
1
vừa là nguồn tri thức, vừa là phương tiện chứa đựng, chuyển tải thông tin và
điều khiển hoạt động nhận thức nhằm đạt mục đích quá trình dạy học.
Chúng ta biết rằng TBDH được mua sắm, trang bị từ nhiều nguồn khác
nhau. Song, dù từ nguồn nào đi nữa thì TBDH cũng phải được quản lý, bảo
quản và sử dụng có hiệu quả. Thực hiện công tác này như thế nào để đạt được
hiệu quả là vấn đề khó khăn ở các trường học hiện nay. Vì vậy, vấn đề quản lý
TBDH sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học và thực hiện mục tiêu đào tạo
là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Trong thập niên qua nhiều trường học trong cả nước đã thực hiện chủ
trương của Đảng và Nhà nước đổi mới phương pháp đào tạo. Tuy nhiên mới
chỉ có một số trường thành công trong việc này. Phần lớn các trường còn có
những khó khăn, bất cập về TBDH và quản lý TBDH: Số lượng TBDH còn
thiếu, chưa đồng bộ trong cơ cấu, chưa tương hợp với sự tiến bộ nội dung và
phương pháp đào tạo, công tác quản lý khai thác còn yếu, đội ngũ giáo viên
chưa đáp ứng kịp về trình độ sử dụng TBDH hiện đại. Tình trạng dạy ‘chay”,
học “chay” còn phổ biến.
Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Công nghiệp I, trực thuộc Bộ Công
nghiệp với chức năng nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Trong
những năm qua Nhà trường đã từng bước trang bị những TBDH hiện đại phục
vụ giảng dạy và học tập, để thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp đào tạo,
hiệu quả TBDH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường đáp
ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
5. Giả thuyết nghiên cứu.
Nếu có hệ thống biện pháp khoa học và phù hợp đối với việc quản lý
TBDH tại trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I, thì sẽ nâng cao
3
chất lượng dạy học ở trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp I và đáp
ứng được yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Đề tài đưa ra các biện pháp khoa học quản lý, phát triển thiết bị dạy học
tại trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Công nghiệp I trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu.
Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Tham khảo luật giáo dục, các
văn kiện của Đảng, Nhà nước, các bộ liên quan, tài liệu, báo cáo khoa học có
liên quan.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, phương
pháp quan sát, tọa đàm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, thống kê toán
học.
8. Giới hạn đề tài.
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng TBDH và công tác quản lý TBDH
ở một số khoa: Khoa Dệt may Thời Trang, khoa Hóa Công nghiệp, khoa Công
nghệ thông tin, khoa Cơ khí, bộ môn Ngoại ngữ trong những năm học 20012006. Từ đó khái quát chung cho trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công
nghiệp I.
9. Kế hoạch thực hiện.
Bắt đầu: Tháng 5 năm 2007.
Kết thúc: Tháng 12 năm 2007.
và hướng tới cùng mục đích. Nó là sự vận hành biện chứng của các yếu tố :
Mục tiêu dạy học, nguyên tắc dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy
học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, hoạt động dạy, hoạt
động học, môi trường sư phạm, các mối quan hệ, kết quả dạy học.
Quá trình dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm nó mang tính
mục đích rất cao với các nhiệm vụ:
- Cung cấp kiến thức cho học sinh:
Cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học toàn diện về tự
nhiên xã hội, tư duy về kỹ thuật và nghệ thuật… cùng với nó là kỹ năng thực
hành và phương pháp tư duy sáng tạo.
- Phát triển trí tuệ cho học sinh:
Trên cơ sở cung cấp kiến thức cho học sinh quá trình dạy học còn chú
trọng đến việc bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo cho học sinh. Phát
triển trí tuệ là chức năng vốn có, là mục đích tự thân của quá trình dạy học.
6
Ngược lại quá trình dạy học bằng mọi khả năng của mình tác động đến học
sinh làm phát triển tối đa tiềm năng trí tuệ của họ.
- Giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh:
Nhân cách là bộ mặt tâm lý đặc trưng của một cá nhân, với tổ hợp những
phẩm chất phù hợp với những giá trị và chuẩn mực xã hội, được xã hội thừa
nhận. Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là là hình thành các phẩm
chất nhân cách cho học sinh.
1.1.2. Yêu cầu và đặc điểm về dạy học ở trường ĐH, CĐ.
Điều 40 của Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Yêu cầu về nội dung
phương pháp giáo dục:
Đào tạo Cao đẳng phải đảm bảo cho sinh viên có kiến thức khoa học cơ
bản và kiến thức chuyên môn cần thiêt, chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và
Quan điểm khác, PTDH là một trong những thành tố của quá trình dạy
học tác dụng quyết định tới kết quả hoạt động dạy học. Là tập hợp những vật
mang tin và truyền tin, đóng vai trò hỗ trợ để thực hiện các mục đích nhiệm vụ
cũng như nội dung của quá trình dạy học. PTDH được hiểu là toàn bộ những
trang thiết bị đồ dùng dụng cụ phục vụ cho việc giảng dạy và học tập.
Ở Việt Nam trong quá trình dạy học, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt
động dạy học mà thầy trò thường sử dụng đến gọi là học cụ, đồ dùng dạy học,
thiết bị giáo dục, thiết bị dạy học. Việc có quá nhiều thuật ngữ để chỉ một khái
niệm, phản ánh tình trạng thiếu chính quy của hệ thống này.
Khi xã hội còn ở trình độ phát triển thấp trong giai đoạn ban đầu, nhà
trường còn ở trạng thái giản đơn, cơ sở vật chất trường học có nội hàm đơn
giản. Khi xã hội phát triển ở trình độ cao dưới ảnh hưởng khoa học kỹ thuật và
công nghệ làm cho cơ sở vật chất trường học trong đó có TBDH trở nên hết
sức phong phú đa dạng. Nó tác động mạnh vào nhà trường, vào quá trình đào
8
tạo. Một trường hiện đại là nhà trường có nội dung, phương pháp đào tạo hiện
đại và việc đảm bảo cho việc thực hiện nội dung phương pháp hiện đại này
chính là cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường phải hiện đại mới thực hiện có
hiệu quả các chương trình giáo dục .
Có thể hiểu: Cơ sở vật chất trường học là tất cả các phương tiện vật chất
được được thầy và trò cùng sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương
trình giáo dục, giảng dạy.
Tuy nhiên, để chỉ bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt
trong các giờ học được thầy, trò cùng sử dụng thì khái niệm TBDH được
nhiều người sử dụng và được coi là đại diện cho các cách gọi trên.
Như vậy: TBDH là bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt
trong các giờ học được thầy và trò cùng sử dụng nhằm thực hiện mục đích
động giảng dạy của mình.
1.3. Khái niệm quản lý và quản lý giáo dục.
1.3.1. Khái niệm quản lý: Có nhiều khái niệm quản lý do nhiều nhà lý
luận cũng như thực hành quản lý nêu ra .
Theo F.W. Taylor: “ Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”
Theo Ia. Tikhomirop: “ Quản lý là tác động có hướng đích, dựa trên nhận
thức tính quy luật khách quan của quan hệ quản lý đến các quá trình đang diễn
ra nhằm đạt được một cách tối ưu mục đích đặt ra”
Theo Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt
tối đa mục đích đề ra.”
Từ đó rút ra các ý cơ bản khái niệm quản lý như sau:
10
- Quản lý được coi là tập hợp những tác động có mục đích đến những tập
thể trong hệ thống xã hội.
- Quản lý là sự phối hợp hoạt động của nhiều người, theo lịch sử phát
triển xã hội loài người thì quản lý nảy sinh cùng với sự phân công và hợp tác
lao động trong xã hội để thực hiện chức năng chung.
- Quản lý nhằm bảo toàn hệ thống làm cho hệ thống vận động tới những
trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới của môi trường tuân theo quy luật
xã hội thực hiện chức năng đặc thù.
1.3.2. Các chức năng cơ bản của Quản lý
Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu công
việc của họ cũng chính là tìm hiểu các chức năng quản lý và tìm hiểu họ làm
công tác này như thế nào, nói cách khác đi xem xét họ đóng vai trò quản lý
nào. Phần này chỉ đề cập sơ bộ về bốn chức năng cơ bản quản lý là: Lập kế
Kiểm tra
TTQL
Tổ chức
Lãnh đạo
Sơ đồ 1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý
1.4 Khái niệm Quản lý giáo dục và Quản lý trường học
1.4.1. Quản lý giáo dục.
12
Theo Nguyễn Ngọc Quang “ QLGD là hệ thống tác động có mục đích có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực nhiện các tính chất của nhà
trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo
dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục đích dự kiến, tiến lên trạng thái mới
về vật chất “
1.4.2. Quản lý trường học.
Là tập hợp các tác động tối ưu của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý,
để duy trì hoạt động dạy và học nhằm phát triển toàn diện nhà trường theo
mục tiêu đã định. Nói các khác, Quản lý nhà trường là hoạt động các cơ quan
quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các
lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.
1.5. Quản lý quá trình dạy học và quản lý thiết bị dạy học.
học tiếp nhận học sinh tốt nghiệp phổ thông, được đào tạo 3 năm để trở thành
kỹ sư thực hành, những cán bộ điều hành sản xuất.
Tại điều 39 của Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Mục tiêu đào tạo
trường cao đẳng là giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực
hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành
được đào tạo.
Nhiệm vụ:
14
- Đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến
thức và năng lực thực hành nghề nghiệp ở trình độ Cao đẳng, trung cấp
chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng việc
làm trong xã hội.
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Kết hợp đào tạo với
nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ.
Trong tình hình hiện nay, nước ta đã gia nhập WTO, cho nên rất cần đào
tạo nguồn nhân lực vừa có kiến thức, vừa có kỹ năng thực hành cho đất nước.
Việc đào tạo đa bậc học từ công nhân lành nghề, kỹ thuật viên trung cấp đến
cử nhân cao đẳng (kỹ thuật viên cấp cao) là phù hợp quy luật và kinh nghiệm
của các nước phát triển trong khu vực, trên thế giới và là nhu cầu cấp thiết để
hội nhập và phát triển kinh tế đất nước.
1.6.2. Vai trò TBDH trong quá trình dạy học.
Như đã biết, mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp đào
tạo, quy trình đào tạo là các yếu tố quy định TBDH về các mặt: Trang bị cái
gì?, trang bị cho khoa, ngành nào? sử dụng nó như thế nào? và ai là người
quản lý? Muốn vậy để trang bị và quản lý TBDH được tốt trước hết ta phải
nghiên cứu kỹ mục tiêu, chương trình đào tạo thì công tác quản lý TBDH mới
đạt kết quả cao.
Mặt khác, TBDH là đối tượng của công tác QLGD. Một mâu thuẫn lớn
hiện nay là điều kiện để dạy học còn thấp nhưng xã hội lại đòi hỏi ngày càng
cao về chất lượng dạy học. Những thí nghiệm chứng minh còn thiếu và những
thí nghiệm thực hành lại càng thiếu hơn. Các nhà trường vẫn còn tình trạng
“dạy chay”, phương pháp dạy học “đọc – chép” là phổ biến. Những lý luận về
lấy người học làm trung tâm xem ra không dễ thực hiện. Bởi vậy việc đầu tư
cho TBDH là yêu cầu không thể không có của cuộc cải cách giáo dục. Như
16
vậy, TBDH mới tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh tự bồi dưỡng, tự học.
Nó có vai trò lớn trong quá trình dạy học, cụ thể:
1.6.2.1. TBDH nâng cao năng lực nhận thức và rèn kĩ năng của HSSV.
- TBDH là công cụ nhận thức của học sinh, là sự cụ thể hóa nội dung dạy
học và rèn kỹ năng (Nó có thể trở thành nguồn tri thức quan trọng cho người
học, nó có vai trò là đối tượng của nhận thức và rèn luyện kĩ năng).
- TBDH là công cụ hoạt động học. là điều kiện chiếm lĩnh kiến thức kỹ
năng kỹ xảo một cách dễ dàng. Nó không chỉ tham gia xây dựng biểu tượng
phương thức hành động mà còn tham gia kiểm tra, kiểm soát, đánh giá quá
trình và kết quả hoạt động, vì thề người học có thể điều chỉnh hoạt động cho
phù hợp. Nhờ nó mà hoạt động học trở nên đa dạng và hấp dẫn hơn tạo sự say
mê hứng thú trong học tập. Nó giúp cho người học nhớ lâu các kiến thức, các
ấn tượng, khắc sâu trong trí nhớ người học.
- Thực hiện chức năng trực quan hoá hoạt động nhận thức của người học.
Để thay thế cho các sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong hiện thực
mà người dạy cũng như người học không thể tiếp cận trực tiếp. Ngoài ra nó
còn giúp người học làm quen các yếu tố các mối quan hệ bên ngoài, bên trong
của đối tượng học tập. Có thể hiểu sâu sắc nội dung vấn đề đồng thời còn biết
cách tiến hành tự nghiên cứu tìm hiểu chuyên môn mà mình yêu thích.
Nhận thức lí luận và vận dụng nó vào thực tiễn là hai mặt của quá trình
nhận thức nhưng giữa chúng có một khoảng cách rất xa mà chúng ta không
thể vượt qua được nếu không thông qua những hoạt động thực hành. Qua hoạt
động thực tiễn, cấu trúc của các vật và phương pháp hoạt động đối với chúng
dần dần chuyển vào vỏ não biến thành nhận thức cấu trúc của các vật và
phương pháp hoạt động trí tuệ đối với chúng, logic hoạt động thực tiễn chuyển
18
vào vỏ não và biến thành logic tư duy. Do đó qua công tác thực hành với
TBDH năng lực nhận thức của học sinh tăng lên.
Trong quá trình làm việc với các thiết bị dạy học, các kiến thức lí thuyết
mà học sinh tiếp thu trên lớp thường ở dạng tĩnh và cô lập với kiến thức khác,
sẽ tác động tương hỗ làm cho chúng trở nên động, làm lộ rõ bản chất và khả
năng của chúng.
Qua làm việc với các TBDH, hứng thú nhận thức của học sinh được kích
thích, vì tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học sinh luôn được đặt trước những
tình huống mới, mỗi học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ phát triển trí sáng tạo.
Qua làm việc với các TBDH, tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỉ luật
được rèn luyện, đó là những phẩm chất rất cần thiét đối với người lao động và
phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt
động thực hành đa dạng.
1.6.2.2. TBDH vật chất hóa phương pháp đào tạo, làm tăng năng suất
lao động của giáo viên và học sinh.
TBDH là công cụ lao động của giáo viên và học sinh, vật chất hóa
phương pháp đào tạo. Góp phần tích cực vào giải phóng sức lao động của thầy
trò tạo điều kiện cho hoạt động dạy học diễn ra hợp lý, đúng quy luật. Nó cung
cấp cho người học thông tin chính xác chắc chắn về các quá trình diễn ra phức
tạp và trừu tượng mà bình thường bằng ngôn ngữ người dạy diễn đạt khó
trong, mối liên hệ các yếu tố bộ phận của sự vật, sự biến đổi phát triển của sự
vật hiện tượng.
Một nền giáo dục tiên tiến đòi hỏi mục tiêu đào tạo phải luôn bắt kịp mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội, đôi khi nó còn phải đi trước một bước để định
hướng lại cho quá trình kinh tế - xã hội. Yêu cầu này đặt ra cho mọi nền kinh
tế giáo dục phải thường xuyên cải tiến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo.
20
Yêu cầu cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện được khi
có TBDH đủ mạnh theo sự tiến bộ của nội dung và phương pháp đào tạo.
Không có sự tương hợp nhau về nội dung phương pháp đào tạo với
TBDH thì sớm muộn việc thực hiện mục tiêu đào tạo sẽ bị kìm hãm, quá trình
đào tạo sẽ bị phá vỡ sự cân đối toàn vẹn và nền giáo dục sẽ bị suy thoái. Khi
có nội dung và phương pháp đào tạo tiên tiến mà TBDH lạc hậu hoặc khi
TBDH hiện đại mà nội dung phương pháp đào tạo còn lạc hậu, trình độ giáo
viên còn bất cập, thái độ giáo viên còn chưa hăng hái với việc sử dụng TBDH
trong công tác giảng dạy thì đều dẫn đến sự suy thoái chất lượng và hiệu quả
đào tạo.
Nhìn chung, một hệ thống TBDH tốt cho phép chúng ta khai thác những
khả năng sư phạm sau:
- Nâng cao tốc độ tri giác thông tin mà không làm giảm tốc độ lĩnh hội
những thông tin đó.
- Cho phép thầy và trò tăng khối lượng kiến thức chuyển tải và lĩnh hội
đồng thời tiết kiệm thời gian.
- Cho phép diễn đạt một cách tường minh sâu sắc và sinh động những
khái niệm hoặc hiện tượng phức tạp không thể diễn tả bằng cách khác.
- Góp phần rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thông qua hoạt động thường xuyên
với công cụ, phương tiện kết hợp với trí óc chân tay.
1.6.3. Cơ sở pháp lý về quản lý TBDH ở trường cao đẳng.
Như mục1.6.1 đã nêu, Luật giáo dục có quy định Trường Cao đẳng là
một trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống quốc dân nước CHXHCNVN,
nằm trong hệ đại học, đồng thời Bộ Giáo dục và Đào tạo có ban hành Điều lệ
các trường Đại học và Cao đẳng, cho nên mọi công tác quản lý TBDH phải
tuân theo quy định của Nhà nước. Vì vậy các trường Cao đẳng phải dựa trên
22