Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
trêng §¹i häc Vinh
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG LÊ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
VIỆT NAM – HÀN QUỐC, TỈNH NGHỆ AN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
trêng §¹i häc Vinh
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG LÊ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
VIỆT NAM – HÀN QUỐC, TỈNH NGHỆ AN
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Chuyên ngành:
Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60.14.10
Đặng Thị Phương Lê
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CĐ
:
Cao đẳng
ĐH
:
Đại học
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
GV
:
Giáo viên
HS, SV
:
Trung học cơ sở
UBND
:
Ủy ban nhân dân
Nxb
:
Nhà xuất bản
ĐVHT
:
Đơn vị học trình
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số
bảng
2.1
2.2
2.3
học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt
Nam – Hàn Quốc
Ý kiến học sinh, sinh viên về chương trình, nội dung
môn Pháp luật
Chất lượng tổ chức thi kết thúc môn và thi tốt nghiệp
Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn Quốc
Lựa chọn hình thức thi môn Pháp luật của học sinh, sinh
viên Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn
51
58
61
63
Quốc
Kết quả khảo sát các giải pháp nâng cao chất lượng phổ
3.1
biến, GDPL cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng
nghề KTCN Việt Nam – Hàn Quốc
93
MỤC LỤC
Trang
HS, SV trong các nhà trường là giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục ý thức
công dân, ý thức làm người, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp
2
luật thể chế hoá các Nghị quyết của Đảng, khẳng định vai trò chiến lược của
công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc
triển khai thực hiện phổ biến, GDPL trong nhà trường.
Công tác phổ biến, GDPL được thực hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau. Đối với các trường Cao đẳng, Đại học, công tác này được thực hiện
bằng việc giảng dạy môn Pháp luật đại cương cho HS, SV, trang bị cho HS,
SV trình độ đại cương, cơ bản, có hệ thống những tri thức lý luận cơ sở về
lịch sử nhà nước và pháp luật nói chung, về nhà nước và pháp luật Việt Nam
nói riêng; đồng thời giới thiệu khái quát một số lĩnh vực pháp luật thiết yếu
làm cơ sở cho sinh viên tiếp tục tìm hiểu và vận dụng pháp luật trong cuộc
sống và công việc.
Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam - Hàn Quốc, tỉnh Nghệ An có
vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục của
tỉnh Nghệ An. Mục tiêu của nhà trường là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật
có tay nghề cao, phẩm chất, đạo đức tốt, biết tuân thủ các quy định pháp luật
và kỉ luật lao động, là những người công nhân đáp ứng được những yêu cầu
của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, của thời kì hội nhập
kinh tế quốc tế. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho HS, SV luôn luôn là
vấn đề được nhà trường đặc biệt chú trọng. Tuy nhiên, công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật ở trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Để đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao về đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho HS, SV trong trường cần được thực hiện
đồng bộ và nâng cao hơn nữa.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề “Nâng cao chất
Chính phủ Phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật trong nhà trường.
4
- Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật
nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015.
- Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGD&ĐT-BTP ngày 16 tháng
11 năm 2010 của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Tư pháp hướng dẫn phối hợp
công tác PBGDPL trong trường học.
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác phổ biến, GDPL, Quốc hội đã
cho soạn thảo và ban hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật này đã
được Quốc hội khóa XIII, kì họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 06 năm 2012,
có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.
Nhóm thứ hai: nghiên cứu về việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
cho đối tượng là học sinh các bậc học khác nhau thông qua việc giảng dạy môn
Giáo dục công dân. Tác giả Nguyễn Thị Kim Chi có công trình: “Giáo dục ý
thức chấp hành pháp luật cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công
dân lớp 12 (qua khảo sát tại Trường THPT Phan Ngọc Hiển, quận Ninh Kiều,
Thành phố Cần Thơ)”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành Lý
luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị, Trường Đại học
Vinh, 2010.
Tác giả Lê Thị Hưng có công trình: “Nâng cao ý thức chấp hành luật
giao thông đường bộ cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân
lớp 6 - bậc Trung học cơ sở (Qua khảo sát ở Trường Trung học cơ sở Thiệu
Tân, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá)”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị,
Trường Đại học Vinh, 2012.
Như vậy, tính đến nay đã có rất nhiều các văn kiện và công trình khoa
học nghiên cứu về phổ biến, giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật cho HS,
SV ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp
nghiên cứu về nâng cao chất lượng phổ biến, GDPL cho HS, SV Trường Cao
6
đẳng nghề KTCN Việt Nam - Hàn Quốc, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, tác giả chọn
vấn đề này làm công trình nghiên cứu của mình dưới góc độ khoa học Giáo
dục, chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính
trị nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Pháp luật đại cương nói
chung và công tác phổ biến, GDPL cho HS, SV nói riêng. Đề tài nghiên cứu
của tác giả không trùng lặp với các công trình đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của việc nâng cao chất lượng phổ
biến, giáo dục pháp luật cho HS, SV các trường cao đẳng nghề; đề xuất một số
giải pháp nâng cao chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật cho HS, SV Trường
Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc, Tỉnh Nghệ An.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề phổ biến, giáo dục pháp luật cho HS,
SV trong bối cảnh hiện nay.
- Khảo sát, phân tích thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở
Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn Quốc, Tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng phổ biến,
giáo dục pháp luật cho HS, SV ở Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn
Quốc, Tỉnh Nghệ An trong bối cảnh hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
7. Đóng góp của đề tài
- Làm rõ thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học HS,
SV Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn Quốc, Tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp phục vụ công tác phổ
biến, giáo dục ý thức pháp luật cho HS, SV Trường Cao đẳng nghề KTCN
Việt Nam – Hàn Quốc, Tỉnh Nghệ An.
8
- Đề xuất một số kiến nghị cho các cơ quan ban ngành có liên quan
trong việc giáo dục pháp luật cho HS, SV trong các trường Dạy nghề nói
chung và HS, SV Trường Cao đẳng nghề KTCN Việt Nam – Hàn Quốc, Tỉnh
Nghệ An nói riêng.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, đề tài
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng phổ biến, giáo
dục pháp luật cho học sinh, sinh viên các trường cao đẳng dạy nghề
Chương 2: Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học
sinh, sinh viên Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam – Hàn
Quốc, Tỉnh Nghệ An
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng phổ biến,
giáo dục pháp luật ở Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam –
Hàn Quốc, Tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
9
NỘI DUNG
cầu đó, Nhà nước và pháp luật đã ra đời. Nhà nước và pháp luật là sản phẩm
của xã hội có giai cấp. Pháp luật đầu tiên của xã hội loài người là là pháp luật
của Nhà nước chủ nô.
Có thể nhận thấy rằng pháp luật hình thành từ hai con đường:
- Nhà nước thừa nhận những quy tắc vốn tồn tại trong xã hội và cải tạo
những quy tắc đó cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước (Tập quán pháp, án
lệ).
- Thông qua con đường hoạt động xã hội, Nhà nước ban hành các văn
bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh trong thực tế mà
trước đó không có.
Xét về khái niệm “pháp luật” xuất xứ La-tin “Directum” nói lên khái
niệm ngay thẳng, sự chính trực. Theo Đại từ điển Tiếng Việt giải thích: pháp
luật là quy tắc, hành vi của công dân do Nhà nước quy định, ban hành, buộc
phải tuân theo không được trái phạm. Theo định nghĩa này chúng ta có thể thấy
sự chưa đầy đủ và chuẩn xác như định nghĩa của các nhà nghiên cứu pháp luật:
“Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát triển phù hợp với lợi ích giai cấp mình” [16; 154]. Pháp luật, về bản chất
nguyên gốc là mối tương quan giữa con người với con người, giữa con người
với tập thể, lâu dần trở thành quy tắc xử sự, mỗi người phải tuân thủ khi giao
tiếp với nhau cũng như giao tiếp với xã hội, sau này trở thành một định chế
được mọi người tuân hành, được bảo đảm thực hiện và sẽ bị áp dụng các chế
tài khi có hành vi vi phạm pháp luật.
Hiểu theo khoa học pháp lý thì trước hết pháp luật phải là hệ thống các
quy tắc xử sự bắt buộc chung cho mọi chủ thể, mọi cá nhân, tổ chức trong xã
hội phải có nghĩa vụ tuân thủ. Pháp luật phải do Nhà nước ban hành hoặc thừa
11
là coi trọng ý thức chính trị, ý thức đạo đức của người công dân bao trùm toàn
bộ vấn đề, có thể “thế chỗ” cho một hình thái ý thức xã hội khác cần thiết
khác quan trong đời sống xã hội của cá nhân, đó là ý thức, là hiểu biết, thái độ
đối với pháp luật.
Quan điểm thứ hai đã đồng nhất GDPL với việc tuyên truyền phổ biến
giải thích pháp luật, coi đó là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách, các
phương tiện thông tin đại chúng và cả bộ máy tuyên truyền. Quan niệm này
tách rời nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền pháp luật giữa các cơ quan chức năng.
Chức năng tuyên truyền và định hướng xã hội rất quan trọng nhưng không thể
thay thế được giáo dục. Giá trị của tuyên truyền, của giáo dục là to lớn nhưng
không thể thay thế được các biện pháp xử lý của các cơ quan hành pháp.
Quan điểm thứ ba ngược lại quan điểm nêu trên khi cho rằng GDPL
đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở các nhà trường, còn việc tuyên truyền,
phổ biến về pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải là giáo dục pháp luật.
Quan niệm này nhìn GDPL ở một phạm vi rất hẹp trong nhà trường, chưa thể
hiện mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường với xã hội và làm giảm tính phong
phú da dạng của hoạt động GDPL trong nhà trường.
Quan niệm thứ tư cho rằng không có khái niệm GDPL. Bởi pháp luật là
những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, mỗi người phải có nghĩa vụ tuân
thủ. Do đó không cần đặt vấn về GDPL mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mỗi
người tự tìm hiểu mà có cách xử sự cho đúng. Quan điểm này một mặt xuất
phát từ chỗ cho rằng bản than pháp luật của nhà nước ta đã có vai trò giáo
dục. Vai trò này có giá trị tư tưởng lớn và nó sẽ tác động, ảnh hưởng đến nhận
thức của con người. Quan điểm này đánh giá thấp vai trò của ý thức pháp luật,
tình cảm đối với pháp luật của người dân trong việc tiến hành hành vi hợp
pháp mà pháp luật quy định.
Có thể nhận định rằng những quan niệm được nêu trên đây còn phiến
diện, giản đơn, một chiều, chưa thấy hết đặc thù của sự tác động hoặc giá trị
14
phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy
dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.
Về khái niệm phổ biến, GDPL, theo “Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ
biến, giáo dục pháp luật”, phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép hai từ
phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật. Về khái niệm phổ biến pháp luật có
hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của
nó;
- Nghĩa rộng: là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả
nước. Khái niệm giáo dục pháp luật được hiểu là một khái niệm rộng bao gồm
cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách
(thuyết phục, nêu gương, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật
cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật của đối tượng.
Cả cụm từ phổ biến, giáo dục pháp luật có hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao
tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn
trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
- Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực, ngạch (theo nghĩa thông thường
mà không phải nghĩa trong pháp luật về cán bộ, công chức) phổ biến, giáo
dục pháp luật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật: Định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Lập
chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Áp dụng các hình thức
phổ biến, giáo dục pháp luật; Triển khai chương trình kế hoạch phổ biến, giáo
dục pháp luật; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận…
nhóm đông đảo và có vị trí, vai trò quan trọng trong xã hội. Ý thức pháp luật
16
của người học có quan hệ hữu cơ với ý thức pháp luật xã hội. Vị trí của người
học thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ Vì có số lượng đông nên nếu người học có ý thức pháp luật cao thì tỉ
trọng số người có ý thức pháp luật trong xã hội cũng cao. Điều này sẽ có tác
động tích cực tới việc lan tỏa, ảnh hưởng ý thức chấp hành pháp luật tới các
đối tượng khác trong xã hội.
+ HS, SV là những người chủ tương lai của đất nước. Trong bối cảnh
nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh, đất nước
không chỉ đòi hỏi nguồn nhân lực giỏi về chuyên môn mà còn phải có ý thức
đạo đức, ý thức pháp luật cao. HS, SV học nghề là một nguồn lực rất lớn tham
gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Muốn nước ta có thể
hội nhập được vào sự phát triển của thế giới, tất yếu phải xây dựng được những
con người mới XHCN đáp ứng được những yêu cầu về đạo đức và pháp luật.
Điều đó chỉ có được nếu nhà trường hôm nay chủ động chuẩn bị cho người học
những hiểu biết và cả tâm thế để xử lý các quan hệ trong và ngoài nước bằng
pháp luật và theo pháp luật.
- Mạng lưới trường, lớp rộng khắp
Một thế mạnh của ngành giáo dục là mạng lưới trường lớp tạo thành hệ
thống rộng khắp ở mọi miền của đất nước. Riêng đối với hệ thống các trường
dạy nghề, theo số liệu thống kê xã hội năm 2011 của Tổng cục dân số - kế hoạch
hóa gia đình, tính đến cuối năm 2011, cả nước có 128 trường cao đẳng nghề; 308
trường trung cấp nghề; 908 trung tâm dạy nghề và trên 1 nghìn cơ sở có các lớp
dạy nghề. Các cơ sở giáo dục với chức năng nhiệm vụ chuyên môn của mình có
khả năng tổ chức công tác phổ biến, giáo dục pháp luật một các trực tiếp, liên
tục, bài bản và hiệu quả cao. Mặt khác, trường học là nới có cơ sở vật chất rất
18
Nội dung tổng quát và phân bố thời gian cụ thể như sau:
Số
Tên chương mục
Tổng
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Bài 1: Một số vấn đề chung về Nhà
nước và Pháp luật
Bài 2: Hệ thống pháp luật Việt Nam
Bài 3: Một số nội dung cơ bản của
Luật dạy nghề
Bài 4: Pháp luật về lao động
Kiểm tra
Bài 5: Bộ luật lao động
1
3
2
1
5
1
6
2
4
1
5
1.5
1
0.5
2
1.5
0.5
2
19
Số
TT
1
2
3
Tên chương mục
Tổng
số
Bài 1: Một số vấn đề chung về Nhà
nước và Pháp luật
Bài 2: Hệ thống pháp luật Việt Nam
Bài 3: Một số nội dung cơ bản của
Luật dạy nghề
4 Bài 4: Pháp luật về lao động
5
Kiểm tra
Cộng
Thời gian
Lý
Thực Kiểm
thuyết hành
tra
1
1
* Hệ liên thông trung cấp lên cao đẳng
Thời gian học: 15 tiết (Lý thuyết: 11 tiết; Thảo luận và kiểm tra: 4 tiết)
Nội dung tổng quát và phân bố thời gian cụ thể như sau:
TT
1
2
3
4
5
6
Tên chương mục
Bài 5: Bộ luật lao động
Bài 6: Luật Nhà nước
Bài 7: Pháp luật dân sự và pháp luật
hôn nhân gia đình
Bài 8: Pháp luật kinh tế và pháp luật
kinh doanh
Bài 9: Pháp luật hình sự và pháp luật
hành chính
Kiểm tra
Tổng
số
6
2
11
Cộng
15
3
1
* Về nội dung chi tiết, giáo trình Pháp luật có các nội dung cụ thể sau:
Bài 1: Một số vấn đề chung về Nhà nước và pháp luật (3 tiết)
Nghiên cứu những nội dung chính:
+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của Nhà nước;
+ Nguồn gốc, bản chất và vai trò của Pháp luật;