MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 6
I. Tính cấp thiết của đề tài.................................................................................6
II. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................9
III. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................9
IV. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .............................................9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ..................................................................................... 11
1.1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC NGHIÊN CỨU.........................................11
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên .......................................................................11
1.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn ................................................................17
1.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT
TRIỂN..............................................................................................................35
1.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình ...............................................35
1.2.2 Xu thế biến đổi các quá trình tự nhiên và xu thế phát triển kinh tế xã hội
......................................................................................................................41
1.3 QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG LŨ...........46
1.3.1 Quan điểm quy hoạch ...........................................................................46
1.3.2 Mục tiêu quy hoạch...............................................................................46
1.3.3 Các chỉ tiêu tính toán thiết kế phòng chống lũ .......................................47
1.3.4 Mức đảm bảo phòng chống lũ tuyến sông .............................................47
CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN LŨ THIẾT KẾ CHO SÔNG TRÀ LÝ........................ 51
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÔ HÌNH MIKE 11 .............................................51
2.2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TÍNH TOÁN THỦY LỰC CHO HỆ THỐNG
SÔNG TRÀ LÝ................................................................................................56
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu của mô hình thủy lực.............................................56
2.2.2 Biên tính toán mô hình thủy lực ............................................................57
2.2.3 Tài liệu địa hình mạng lưới sông ...........................................................58
2.2.4 Tài liệu thuỷ văn. ..................................................................................59
2.2.5 Tính toán mô phỏng thủy lực hệ thống sông..........................................60
2.3 TÍNH TOÁN LŨ THIẾT KẾ TUYẾN SÔNG TRÀ LÝ ..........................67
2.3.1 Tính toán biên mạng thủy lực hệ thống sông .........................................67
Bảng 3. Lượng mưa 1 ngày max và 3 ngày max vùng nghiên cứu ....................... 22
Bảng 4. Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm vùng nghiên cứu ................... 22
Bảng 5. Phân phối lưu lượng mùa lũ, mùa cạn trước và sau khi có hồ chứa lớn Hòa
Bình. ........................................................................................................... 26
Bảng 6. Mực nước lũ lớn nhất của các trận lũ lớn đã xẩy ra trên các sông Hồng và
các phân lưu ở hạ du ................................................................................... 28
Bảng 7. Đặc trưng trung bình, max, min của mực nước tại các trạm .................... 28
Bảng 8. Đặc trưng trung bình, max, min của mực nước tại các trạm .................... 29
Bảng 9. Mực nước ứng với tần suất thiết kế......................................................... 30
Bảng 10. So sánh các giá trị mực nước max, trung bình, min giữa hai thời kỳ trước
và sau khi có các hồ chứa lớn ...................................................................... 32
Bảng 11. Chiều cao nước dâng vùng bờ biển từ Cửa Ông tới Cửa Vạn theo số trận
xuất hiện ..................................................................................................... 34
Bảng 12. Mực nước lớn nhất tại các trạm theo tần suất........................................ 34
Bảng 13. Tần suất mực nước triều thiên văn lớn nhất vào tháng VIII tại các cửa
sông ............................................................................................................ 35
Bảng 14. Mực nước triều thiết kế P=5% vào tháng VIII tại các cửa có xét tới nước
biển dâng với P=20% .................................................................................. 35
Bảng 15. Hiện trạng dân số 2009 của tỉnh Thái Bình ........................................... 36
Bảng 16. Đóng góp của các ngành kinh tế vào tăng trưởng chung ....................... 37
Bảng 17. Kết quả sản xuất phát triển ngành nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2006 2010 ............................................................................................................ 38
Bảng 18. Dân số năm 2009 phân theo vùng bảo vệ.............................................. 40
Bảng 19. Biến đổi dòng chảy trên sông Hồng tại Sơn Tây năm 2070................... 42
Bảng 20. Tỷ lệ di dân của tỉnh. ............................................................................ 43
Bảng 21. Phân cấp đê chính của đê sông.............................................................. 48
Bảng 22. Phân cấp đê chính của đê sông.............................................................. 48
Bảng 23. Lưu lượng lũ thiết kế - cấp đê............................................................... 49
Bảng 24. Tần suất thiết kế lưu lượng lớn nhất của sông đối với đê chính............. 49
Bảng 25. Tọa độ các biên mô hình.........................................................................58
Hình 10. Kết quả hiệu chỉnh trạm Phải Lại .......................................................... 64
Hình 11. Kết quả hiệu chỉnh trạm Phủ Lý............................................................ 65
Hình 12. Kết quả hiệu chỉnh trạm Gián Khẩu ...................................................... 65
Hình 13. Kết quả hiệu chỉnh trạm Nam Định ....................................................... 66
Hình 14. Mặt cắt thực đo ..................................................................................... 78
Hình 15. Mặt cắt sau khi co hẹp........................................................................... 79
Hình 16. Bối Tịnh Thủy ...................................................................................... 79
Hình 17. Bối Thái Thọ......................................................................................... 80
Hình 18. Bối Trà Lý ............................................................................................ 80
Hình 19. Bối Vũ Đông......................................................................................... 81
Hình 20. Bối Trà Giang ....................................................................................... 81
Hình 21. Bối Hồng Thái ...................................................................................... 82
Hình 22: So sánh cao trình đê hiện tại và mực nước lũ lớn nhất các phương án thiết
kế. ............................................................................................................... 86
5
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Lưu vực sông Trà Lý nằm trọn trong đồng bằng Bắc Bộ, thuộc hạ lưu hệ
thống sông Hồng tiếp giáp với biển Đông. Sông Trà Lý có hướng chung là Tây Đông. Bắt đầu từ xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co,
uốn khúc qua Quyết Chiến, Đồng Phú, Đông Phù của huyện Đông Hưng, Thành
Phố Thái Bình, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phúc của huyện Thái Thụy đổi
hướng Bắc-Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối cùng tới Định Cư rồi đổ ra Vịnh
Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km, và là một con sông tự nhiên, mới chỉ chịu
tác động của con người là việc đắp đê hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các
cống. Sông Trà Lý chảy dọc theo vùng kẹp giữa sông Hồng và sông Hóa, chia vùng
này thành hai hệ thống thủy lợi tách biệt: hệ thống bắc và hệ thống nam. Là vùng
đồng bằng ở hạ du sông Hồng lại ở ven biển nên hệ thống sông ngòi ở đây đều chịu
tăng, ngày 21/6/2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số
92/2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông
Thái Bình. Quy hoạch này nhằm mục tiêu: xác định mức bảo đảm phòng, chống lũ
cho hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình; xác định lũ thiết kế của tuyến sông gồm
lưu lượng lũ thiết kế và mực nước lũ thiết kế; xác định giải pháp công trình, phi
công trình để phòng, chống lũ đối với từng địa phương thuộc hệ thống sông Hồng,
sông Thái Bình; làm cơ sở để lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ
chi tiết thuộc phạm vi quản lý của địa phương; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
xây dựng và các quy hoạch khác liên quan của các Bộ, ngành, địa phương.
Phạm vi quy hoạch bao gồm các tỉnh, thành phố có đê thuộc hệ thống sông
Hồng, sông Thái Bình là Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hoà Bình, Phú Thọ, Hà Nội, Thái
Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam và các tỉnh thượng nguồn của hệ thống
hai sông này. Tiêu chuẩn phòng, chống lũ giai đoạn 2007-2010 bảo đảm chống lũ
có chu kỳ 250 năm (tần suất 0,4%), lưu lượng tương ứng tại Sơn Tây 42.600 m3/s;
giai đoạn 2010-2015 bảo đảm chống lũ có chu kỳ 500 năm (tần suất 0,2%), lưu
lượng tương ứng tại Sơn Tây 48.500 m3/s. Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê:
tại Hà Nội bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm
Long Biên là 13,4 m và thoát được lưu lượng tối thiểu là 20.000 m3/s; tại Phả Lại
7
bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Thái Bình tại trạm Phả Lại là
7,2 m. Đối với hệ thống đê điều các vùng khác bảo đảm chống được lũ tương ứng
với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,1 m, phần lưu lượng vượt quá
khả năng trên được sử dụng các giải pháp khác như: điều tiết hồ chứa, phân lũ,
chậm lũ, cải tạo lòng sông thoát lũ... Các giải pháp phòng, chống lũ hệ thống sông
Hồng, sông Thái Bình bao gồm: điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ; trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn; củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều; cải tạo lòng dẫn tăng khả năng
1. Xác định mức bảo đảm phòng, chống lũ cho tuyến sông Trà Lý tỉnh Thái
Bình.
2. Xác định lũ thiết kế của tuyến sông Trà Lý gồm lưu lượng lũ thiết kế và
mực nước lũ thiết kế.
3. Xác định phương án sử dụng các bối bãi trong quá trình thực hiện quy
hoạch phòng chống lũ cho tuyến sông Trà Lý.
III. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Tính toán trên toàn bộ hệ thống lưu vực sông Trà
Lý tỉnh Thái Bình.
Đối tượng nghiên cứu: Đường quá trình mực nước và lưu lượng tại các
trạm trên hệ thống lưu vực sông Trà Lý tỉnh Thái Bình.
IV. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Hướng tiếp cận: Căn cứ vào tình hình thu thập tài liệu, nghiên cứu trên lưu
vực, tác giả lựa chọn hướng tiếp cận vừa mang tính kế thừa vừa đảm bảo tính sáng
tạo trong nghiên cứu.
Tổng hợp hệ thống, xem xét các thành phần tương tác lẫn nhau như: địa
hình, địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu, nước, sinh vật, con người, điều kiện kinh tế xã
hội, đặc điểm tình hình lũ lụt và những tác hại do lũ lụt gây ra...
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây đã sử dụng mô hình 1
9
chiều và sử dụng mô hình 1 chiều tìm ra được phương án sử dụng các bỗi bãi
trong quá trình quy hoạch lũ cho sông Trà Lý tỉnh Thái Bình.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô hình thủy lực mô phỏng quá
trình thủy động lực học trên hệ thống sông Trà Lý.
10
11
cũng dựa vào hướng đó mà tạo ra các trục sông tiêu thoát nước và lấy nước tưới
ngang dọc chằng chịt mà vẫn đảm bảo hướng chung Tây Bắc – Đông Nam.
Đây là vùng phù sa châu thổ sông Hồng, được bồi tụ phù sa sau nhiều triệu
năm. Sau hàng ngàn năm sinh sống, nhân dân đã xây dựng nên hệ thống đê sông
Hồng, sông Luộc, Trà Lý .. và nhiều hệ thống thuỷ lợi, tạo ra vùng đất phì nhiêu
như ngày nay. Đồng thời hệ thống đê sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông
Hoá… đã chia cắt đồng bằng nói chung và tỉnh Thái Bình ra thành nhiều ô riêng
biệt, có những vùng trũng úng và cũng có những cồn cát cao 2-3 mét. Giữa sông
Trà Lý và sông Hồng có khoảng 25 dải song song tạo thành vùng đất cồn rộng 30
km, cao hơn mặt ruộng 1-2 m, có các làng mạc ở trên đó. Cũng do quá trình khai
hoang lấn biển, qua nhiều năm đất đai đã được mở rộng ra phía biển theo hướng
Đông và Đông Nam.
Cao trình mặt đất trung bình phía bắc tỉnh Thái Bình khoảng +1 ÷ +2.5m
Cao trình mặt đất trung bình phía nam tỉnh Thái Bình khoảng: +0.5 ÷ +1.75m.
Các đường giao thông có cao độ từ +1.75 - +2.5 m.
c. Hệ thống sông ngòi
Diện tích lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình là 169.020 km2, trong đó
phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam là 86.720 km2, tức chiếm 51%. Riêng lưu
vực sông Hồng tính đến Sơn Tây là 143.700 km2, sông Thái Bình là 12.680 km2,
vùng đồng bằng gồm cả sông Tích, sông Bôi là 12.640 km2. Hệ thống sông Hồng,
sông Thái Bình được hợp thành bởi các lưu vực sông sau đây:
• Sông Thao (dòng chính sông Hồng) bắt nguồn từ dãy Ngụy Sơn - Trung
Quốc có diện tích lưu vực 51.800 km2, tổng chiều dài 843 km. Thuộc
lãnh thổ Việt Nam có diện tích 12.000 km2 và chiều dài tới Việt Trì 332
km.
• Sông Đà, chi lưu bên phải cũng bắt nguồn từ dãy Nguỵ Sơn chảy vào
Việt Nam theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và song song với sông Thao.
bằng Bắc Bộ. Cửa vào ở độ cao trung bình +4 ÷ +6m, xuống Quý Cao,
Vĩnh Bảo chỉ còn +1 ÷ 0m. Sông Luộc ít dốc và chảy quanh co, độ rộng
lòng sông trung bình từ 300 – 400 m. Thời gian gần đây ở cửa sông đã
bồi lắng tương đối nghiêm trọng, lòng sông chỉ còn lại một lạch chính
không rộng và không sâu lắm, chảy quanh co giữa các bãi bồi, tàu bè đi
13
lại khó khăn trong mùa kiệt. Sông Luộc có nguy cơ bị bồi lấp dần nếu
không được cải tạo liên tục (sông Luộc là một sông ngang, sông Thái
Bình đang bị bồi lắng rất mạnh ở nhiều đoạn, đặc biệt đoạn Quý Cao).
Hướng nước sông Thái Bình đang chuyển dần sang sông Văn Úc qua các
sông ngang: sông Gùa, sông Mía, sông Mới. Vì vậy, đoạn cửa sông Thái
Bình gần biển có nguy cơ bị lắng đọng và chết dần.
Từ khi có hệ thống đê hoàn chỉnh và sau đó là các cống dọc theo đê, một
số cửa sông chỉ còn được thông nước khi mở cống lấy hoặc khi tiêu nước.
• Sông Trà Lý: Sông Trà Lý là phân lưu của dòng chính sông Hồng,
chuyển tải một lượng nước khá lớn trong năm, tham gia quá trình ngọt
hoá vùng ven biển của tỉnh Thái Bình, tiêu thoát bớt một lượng lũ đáng
kể của sông Hồng ra biển, làm giảm sự căng thẳng cho đoạn đê cuối sông
Hồng. Sông Trà Lý có hướng chung là Tây – Đông. Bắt đầu từ xã Hồng
Minh, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co, uốc khúc qua
Quyết Chiến, Đồng Phú, Đồng Phú của huyện Đông Hưng, TP. Thái
Bình, Đông Mỹ, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phúc của huyện Thái
Thuỵ đột ngột đổi hướng Bắc – Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối
cùng tới Định Cư rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km.
Sông Trà Lý vẫn là sông thiên nhiên, mới chỉ có tác động của con người
là đê được đắp hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các cống.
Sông Trà Lý chảy qua vùng đất thấp, cốt đất đoạn cửa vào phổ biến là
- Các cống cuối: Sa Lung, Thiên Kiều (sông Trà Lý); cống Trà Linh I, Trà
Linh II (cuối sông Diêm Hộ)…
b. Các sông trục trong đồng khu Nam Thái Bình cũng chảy theo hướng dốc
địa hình, thế đất từ Tây Bắc xuống Đông Nam, sát biển đất đai lại bị nâng cao tạo
thành hình yên ngựa. Hai huyện Vũ Thư và Kiến Xương có những dải đất chạy dọc
theo sông Kiến Giang tạo thành hình sống Trâu bất lợi cho cả tưới và tiêu.
* Sông Kiến Giang chạy dọc khu Nam Thái Bình, chia khu này thành hai
phần đất tương đối đều nhau. Các sông ngang đổ vào sông Kiến Giang tạo thành
một hệ thống thuỷ nông khá phức tạp nhưng tương đối hoàn chỉnh. Sông Kiến
Giang được liên hệ với sông Trà Lý, sông Hồng nhờ có các cống lấy nước qua đê
hữu sông Trà Lý, để tả sông Hồng và các đoạn sông kênh ngang hình xương cá.
15
Các cống lấy nước tưới ở dọc bờ đê hữu sông Trà Lý: Cự Lâm, Nang, Ô Mễ,
Tam Lạc, Vũ Đông, Ngữ, Dục Dương. Các cống lấy nước tưới ở dọc bờ đê tả sông
Hồng: Tân Đệ, Ngô Xá, Thái Hạc, Cù Là, Nguyệt Lâm.
Các cống tiêu chính là Lãng Đông, Ngũ Thôn, Tam Đồng, Ngặt Kéo, Định
Cư (sông Trà Lý), Bồng He, Doãn Đông, Khổng, Sáu (sông Hồng), An Long, Nho
Lâm, Hoàng Môn, Cống Lân I, Lân II (Cửa Lân ra Vịnh Bắc Bộ).
c. Đặc điểm hình thái và diễn biến sông Trà Lý
Sông Trà lý dài khoảng 64 km, sông quanh co uốn khúc, nhiều đoạn sông có
bán kính cong khá nhỏ khoảng trên dưới 500m, nhưng cũng có đoạn bán kính cong
lớn khoảng một vài nghìn mét. Bề rộng của sông cũng biến thiên lớn, nhiều đoạn
sông có bề rộng chỉ khoảng hơn trăm mét, nhiều đoạn rộng đến vài trăm mét.
Bảng 1. Các thông số lòng dẫn sông Trà Lý
TT
Đoạn sông cong
Rc
(m)
800
770
900
1060
4500
960
1000
1650
Sông Trà Lý có xu thế gia tăng lượng nước về mùa lũ làm gia tăng nguy cơ
mất ổn định đê, đe dọa an toàn dân sinh, kinh tế xã hội.
Lòng sông Trà Lý nhìn chung không ổn định, dễ biến động. Kết quả tính
toán cho thấy chỉ số ổn định theo chiều ngang φ'h và φb dao động trong khoảng nhỏ
hơn 1.0
d. Khả năng thoát lũ của sông Trà Lý
Sông Trà Lý đóng vai trò quan trọng trong thoát lũ hệ thống sông Hồng. Nếu
lấy coi lượng lũ thoát qua Sơn Tây là 100% thì lượng lũ phân qua sông Trà Lý dao
16
động trong khoảng 8% -11% tùy theo trận lũ và tùy địa hình lòng dẫn của sông Trà
Lý tương ứng với lòng dẫn của hệ thống sông Hồng.
-
Trong thời đoạn 1972 ÷ 1987 lưu lượng đỉnh lũ bình quân ở Sơn Tây là
17.540m3/s (coi 100%) thì phân lưu lượng lũ bình quân vào sông Trà Lý
1.380m3/s chiếm 8,6% lưu lượng sông Hồng ở Sơn Tây.
độ cao nhất tuyệt đối đạt 40-410C. Ban ngày trời nắng gắt, độ ẩm cao không khí oi
bức, chiều tối hay có giông. Lượng mưa tháng trung bình đạt 160-240mm. Có năm
17
gió mùa tây nam hoạt động mạnh gây ra những đợt nắng hạn kéo dài có khi lấn sang
cả tháng VII và chỉ chấm dứt khi có bão và áp thấp ở biển đông lấn vào.
Vào tháng VII, VIII khi giải hội tụ nhiệt đới di chuyển từ nam lên bắc nằm
vắt ngang qua đồng bằng Bắc bộ. Những áp thấp và bão phát triển dọc theo dải hội
tụ này gây lên những đợt mưa lớn có khi bao trùm toàn bộ vùng đồng bằng. Lượng
mưa trong vùng nghiên cứu đạt từ 250-350mm những năm do ảnh hưởng của bão
lượng mưa tháng VIII, IX tại Thái Bình đạt tới 924.7mm (1975), 963.7mm (2003),
tại Thụy Anh đạt 863.5mm (1975), 834.7mm (1973)
Tuy vậy thời tiết của những tháng này biến động rất mạnh mẽ tùy theo tần số
xuất hiện hàng năm của những nhiễu động thời tiết gây mưa lớn như bão và áp thấp
nhiệt đới. Năm ít mưa thì nắng nóng kéo dài lượng mưa chỉ đạt dưới 100mm. Tại
Thái Bình lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất đạt 43.8mm (VII/1968).
Sang tháng X gió mùa đông bắc từ lưỡi áp cao Trung Quốc bắt đầu tràn về
từng đợt làm nhiệt độ giảm và gây ra mưa rải rác ở các vùng. Lượng mưa trung bình
tháng chỉ đạt 9 -10% lượng mưa năm.
Mùa đông: bắt đầu từ tháng XI tới tháng III , gió mùa đông bắc đã ngự trị
hoàn toàn trong vùng nghiên cứu với trung bình từ 2 tới 4 đợt gió mùa Đông bắc
tràn về, nhiệt độ giảm xuống nhanh chóng và đạt thấp nhất vào tháng I. Nhiệt độ
trung bình tháng I đạt 16-16,80C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối đạt 4,5 tới 7,00C.
Lượng mưa trung bình tháng XII, I chỉ bằng 1,2 -1,5% lượng mưa năm.
Vào cuối mùa đông từ tháng II tới tháng IV áp cao Nam Trung Hoa dịch
chuyển sang phía đông gió mùa có hướng lệch sang đông bị biến tính khi thổi qua
biển Nam Hải nhiệt độ không khí cao hơn và độ ẩm tương đối đạt 90-91% bầu trời
u ám mây thấp và mưa phùn ẩm ướt, số ngày mưa lên đến 15-20 ngày mỗi tháng,
89
91
89
86
84
82
87
87
84
83
83
86
Bốc hơi Piche (mm) 59
43
42
51
82 102 115 76
70
84
86
76 886
Tốc độ gió
2.4 2.4 2.2 2.4 2.3 2.3 2.5 1.8 1.8 2.1 2.1 2.1 2.2
* Nắng
Vùng nghiên cứu có số giờ nắng hàng năm khoảng 1600 giờ, tháng có số giờ
nắng nhiều nhất là từ tháng V đến tháng VII, tháng nhiều nhất là tháng VII trong
năm, đạt 205 giờ/tháng, 6,6giờ/ ngày. Tháng có số giờ nắng ít nhất là từ tháng I đến
tháng III có từ 40 ÷ 70 giờ/ tháng đạt bình quân 1 đến 2 giờ/ ngày. Nhìn chung số
giờ nắng các tháng trong năm thuận lợi cho phát triển của cây trồng, đặc biệt là các
tháng mùa hè.
Tới tháng 9, áp cao Thái Bình Dương xuất hiện và hoạt động đồng thời với
gió mùa Tây Nam. Đây là thời kỳ giao thời giữa hai mùa nóng lạnh.
Đến tháng 10, gió tây nam yếu và tan đi, áp cao phía Bắc hoạt động mạnh
dần lên và đi về phía đông, bắt đầu hình thành hoàn lưu gió mùa mùa đông.
Gió mùa mùa đông cũng được chia làm hai thời kỳ khác nhau:
- Đầu mùa đông từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau là thời kỳ lạnh và khô.
Nguyên do áp cao Xiberi tràn qua lục địa Trung Quốc từ phía Bắc xuống Việt Nam.
- Giai đoạn cuối mùa đông từ tháng 1 đến tháng 4, không khí lạnh biến tính
qua biền tới Bắc Bộ cho thời tiết lạnh ẩm, có mưa phùn kèm theo.
Vào mùa đông, luôn có sự tranh giành ảnh hưởng của tín phong và gió mùa cực đới,
do đó thể hiện tính biến động mạnh mẽ: xen kẽ thời tiết lạnh khác thường của gió
mùa cực đới và thời tiết ấm áp của tín phong. Mùa hạ cũng xảy ra sự tranh giành
ảnh hưởng của gió mùa mùa hạ và tín phong xảy ra ở dãy hội tụ- đó là nguyên nhân
gây mưa mùa hạ.
Trong vùng không có sự phân hóa đáng kể từ nơi này qua nơi khác.
20
Bão là nhiễu động thời tiết mạnh mẽ nhất trong cơ chế gió. Bản chất của bão
là vùng áp thấp khá sâu phát triển trên rãnh nội chí tuyến vùng biển nhiệt đới phía
đông nước ta. Bão gây mưa lớn kéo dài vài ngày, lượng mưa lớn từ 100-300 mm
(hoặc hơn) trên diện rộng 100-200 km2 xung quanh tâm bão.
Theo kết quả thống kê 403 trận bão đổ bộ vào Việt Nam trong vòng 100 năm
thì có 126 trận (tức 31%) đổ bộ vào vùng biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.
Trong đó xảy ra vào tháng IX có 37 trận, tháng VII có 35 trận và tháng VIII có 26
trận (cũng là những tháng xảy ra lũ lớn).
Tốc độ gió mạnh làm dâng mực nước biển. Trong 101 trận bão gây nước
dâng thống kê được từ Cửa Ông đến Cửa Đáy, thì có 35 trận gây nước dâng thấp
hơn 0,50 m, 38 trận gây nước dâng từ 0,5÷1,0 m, 17 trận gây nước dâng 1,00 ÷ 1,50
rộng toàn tỉnh Thái Bình, nhiều nơi đã xuất hiện lượng mưa 1 ngày lớn nhất năm
đạt vài trăm mm.
Bảng 3. Lượng mưa 1 ngày max và 3 ngày max vùng nghiên cứu
Tên Trạm
TP. Thái Bình
Tiền Hải
Kiến Xương
Tiên Hưng
Thái Thuỵ
Thuyền Quan
Phủ Dực
Bến Hiệp
Mưa 1 ngày max
300,0 mm (1990)
353,5 mm (1990)
313,3 mm (1982)
428,0 mm (1975)
408,5 mm (1963)
317,3 mm (1966)
379,2 mm (1978)
357,5 mm (1978)
Mưa 3 ngày max
454,0 mm (1990)
555,6 mm (1966)
460,7 mm (1968)
462,7 mm (1975)
436,0 mm (1963)
472,8 mm (1978)
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
25.5
1.51
22.4
1.37
20.7
1.31
21.8
4.89
66.1
167.8
9.97
151.0
9.21
149.4
9.49
156.8
10.13
163.4
188.1
11.18
154.8
9.45
162.1
10.29
184.7
11.93
190.5
224.6
13.34
200.7
12.25
191.7
12.17
200.7
10.46
176.0
70.5
4.19
66.9
4.08
62.9
3.99
62.1
4.01
62.0
25.5
1.52
16.6
1.02
17.2
1.09
25.3
1.64
21.2
1683.1
100
1638.6
100
1575.2
100
1548.1
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
1.50
23.8
1.44
23.3
1.48
25.7
1.65
1.48
28.9
1.75
24.8
1.58
186.5
11.86
193.3
12.40
13.86
211.7
12.80
228.0
14.51
220.4
14.14
19.87
315.5
19.07
294.5
18.74
293.5
18.83
19.44
319.8
19.33
276.5
17.59
283.1
18.16
10.70
thấp lục địa Châu Á cũng phát triển nhanh chóng về phía Nam và Đông Nam còn làn
gió Tây Nam thì tràn qua Đông Dương đâỷ lùi áp cao Thái Bình Dương về phía Bắc và
phía Đông. Vì vậy rãnh của nội chí tuyến trong khi tiến lên vĩ độ cao thì quang dần
sang hướng Tây Bắc - Đông Nam thậm chí hướng Bắc Nam.
Tuỳ thuộc vào sự tương quan giữa 3 khối không khí mà vị trí và tốc độ di
chuyển của trục đó có vị trí khác nhau trong từng năm. Thông thường trong các
tháng này, ít khi rãnh nội chí tuyến kéo dài về phía tây đến lục địa Đông Nam Á,
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam nằm trong lòng khối không khí gió mùa hoặc là Bắc Ấn
Độ Dương hoặc là Thái Bình Dương.
Từ tháng 8 gió mùa Tây Nam bắt đầu suy yếu, lưới áp cao Thái Bình Dương phát
triển về phía lục địa tạo ra sự quay hướng nhanh chóng của rãnh nội chí tuyến. Rãnh
hẹp lại và lùi về vĩ độ thấp đồng thời kéo dài đến lục địa Đông Nam Á . Vì vậy thường
từ tháng 8 mới thấy có hoạt động nội chí tuyến trên lãnh thổ Việt Nam. Trong tháng
này vị trí của nó thường vắt ngang eo biển Basy tới Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam
với hướng Tây - Tây - Bắc, Đông - Đông - Nam.
23
Năm
Tới đầu tháng 9 trục của rãnh hướng dần theo vĩ tuyến và có vị trí trung bình ở
khoảng Trung Bộ.
Sang tháng 10 vị trí trung bình của trục rãnh ở các vĩ độ thấp và nhanh chóng
lùi về phía Nam bán cầu.
Hội tụ nội chí tuyến hoạt động rõ nét nhất trong tháng 8 đặc biệt ở lưu vực
sông Thái Bình, sông Lô, Trung hạ lưu sông Thao và hạ lưu sông Đà.
Tuy nhiên có những năm gió mùa Tây Nam mạnh như năm 1964, 1990, 1991
thì ngay trong tháng 8 hội tụ nội chí tuyến cũng không thâm nhập được vào Bắc Bộ.
ngược lại năm 1992 gió mùa Tây Nam yếu nên ngay trong tháng 7 giải hội tụ nhiệt
ở đỉnh triều và tiêu nước ở chân triều, cũng nhờ dao động triều mà lượng nước
ngọt trong các vùng cửa sông được giữ lại.
Tác động tiêu cực của thủy triều làm cho nước biển có độ mặn cao lấn sâu
vào vùng châu thổ. Trong phần này chỉ xem xét sự phân phối dòng chảy ở các
nhánh sông vùng châu thổ sông Hồng - sông Thái Bình.
•Sông Hồng (ở Sơn Tây): 100%
- Phân sang sông Đuống 28 ÷ 30% vào mùa lũ và 25 ÷ 25,2% vào mùa cạn
(tỷ lệ này đã tăng lên từ năm 1985).
- Phân sang sông Luộc: 10 ÷ 14% (mùa lũ); 7 ÷ 8% (mùa kiệt).
- Phân sang sông Trà Lý: 12 ÷ 17% (mùa lũ); 9 ÷ 11% (mùa kiệt).
- Phân sang sông Đào Nam Định: 29÷31% (mùa lũ); 27÷35% (mùa kiệt).
- Phân sang sông Ninh Cơ: 6 ÷ 9% (mùa lũ); 7 ÷ 10% (mùa kiệt).
- Đổ ra cửa Ba Lạt: 25 ÷ 30%.
•Phân phối ở hạ lưu sông Thái Bình: Tại Phả Lại 100%
- Phân qua sông Kinh Thày: 51%.
- Phân qua sông Gùa: 39%; còn 10% tiếp tục theo sông Thái Bình.
- Sau khi nhận thêm nước từ sông Luộc tiếp tục phân qua Văn Úc 43%.
- Phân qua sông Rạng ở Quảng Đạt: 9,6% sau đó phân sang sông Lạch Tray
5,6%.
•Phân phối dòng chảy dọc sông Kinh Thày
- Phân sang Kinh Môn ở An Phụ: 22%.
25