TÁC ĐỘNG của tự DO hóa THƯƠNG mại đến HOẠT ĐỘNG của các DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KINH DOANH DỊCH vụ vận tải BIỂN - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------------

CHUYÊN ĐỀ 1

ĐỀ TÀI
TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN

NCS: Bùi Thị Thanh Nga
Khóa: 18B
Chuyên ngành: KTQT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Duy Liên

Hà Nội – 2015


1

MỤC LỤC
CHƯƠNG 2. TIẾN TRÌNH THỰC THI TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI 15
VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP.........15
KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM..........................15
2.1. Tiến trình thực thi tự do hóa thương mại tại Việt Nam.....................15
2.1.2. Tiến trình thực thi tự do hóa thương mại tại Việt Nam..................16
(Nguồn: Bộ Tài chính)...................................................................................27
2.2. Thực trạng hoạt động của các DNVN kinh doanh dịch vụ vận tải biển
27
CHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN

Việt Nam
Vận tải nước ngoài
Vận tải biển
Trung ương
Xuất khẩu
Xuất nhập khẩu

II. TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Từ viết

Từ viết đầy đủ

tắt
AEC
ASEAN

ASEM

Giải thích tiếng Việt

ASEAN Economic Community

Cộng đồng kinh tế ASEAN

Association of Southeast Asian

Hiệp hội các quốc gia Đông

Nations




3
IMF
NCIEC
GATT
GFP

International Monetary Fund

Quỹ tiền tệ quốc tế

National Council on International Ủy ban quốc gia về Hợp tác
Economic Cooperation
Kinh tế quốc tế
General Agreement on Tariff and Hiệp định chung về thương
Trade
mại và thuế quan
Global Facilitation Partnership for Hiệp định đối tác toàn cầu về
Transportation and Trade

thương mại và vận tải

GT

Gross Tonnage

Tổng dung tích

TPP

Tên bảng
Tổng thu nhập quốc nội của Việt Nam giai đoạn 1986 –
1999
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn
1986 – 1999
Tổng thu nhập quốc nội của Việt Nam giai đoạn 2000 –

Trang
23
23
25


4

2.4
2.5
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7

2014
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn
2000-2014
Sản lượng vận chuyển đường biển Việt Nam giai đoạn
2000-2014

Xu hướng trong tổng kim ngạch XNK của Việt Nam
giai đoạn 2000-2014
Tổng trọng tải đội tàu biển Việt Nam giai đoạn 2006 –
2013

Trang
21
26


5

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có điều kiện địa lý thuận lợi để phát triển
kinh tế theo hướng biển, đặc biệt là kinh doanh vận tải biển. Việt Nam có bờ
biển dài khoảng 3.260 km từ Bắc xuống Nam, chiếm tỷ lệ khoảng 100 km 2
đất liền/1 km bờ biển (mức trung bình trên thế giới là 600 km 2 đất liền/1 km
bờ biển. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020 được thông qua tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành
Trung Ương Đảng khóa X đã xác định rõ kinh tế hàng hải là ngành kinh tế
đứng thứ 2 sau Dầu khí, và phấn đấu sau 20 năm sẽ vươn lên dẫn đầu. Trên
thế giới hiện nay có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó chỉ có


6
khoảng 46 quốc gia là không tiếp giáp với biển. Các hoạt động thương mại
trên thế giới được thực hiện hầu hết thông qua phương thức vận tải biển, tổng
lưu lượng hàng hóa vận chuyển trên toàn thế giới bằng đường biển chiếm
80%. Đối với những quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi như Việt Nam, phát

mại quốc tế của một quốc gia.
Trong bài nghiên cứu: “Measuring Services Trade Liberalization and
Its Impact on Economic Growth: An Illutration” vào năm 2006 của Aaditya
Mattoo, Randeep Rathindran, Arvind Subramanian, tác giả đã chỉ ra những
vấn đề sau: Diễn giải tự do hóa thương mại hàng hóa và tự do hóa thương mại
dịch vụ có tác động khác nhau thế nào đến sản lượng; Đề xuất thước đo tự do
hóa thương mại trên cơ sở chính sách sẽ tốt hơn trên cơ sở sản lượng; Xây
dựng mô hình đo tự do hóa thương mại dựa bằng các công cụ liên quan đến
tài chính và viễn thông vì đây là hai lĩnh vực được dự đoán là phát triển nhanh
nhất trong thời gian tới. Bài viết có đề cập đến nội dung xây dựng mô hình để
đó tác động của tự do hóa thương mại nhưng không liên quan đến lĩnh vực
vận tải biển.
Năm 2006, tác giả Milojka Poeunea, Marina Zanne đã công bố bài
nghiên cứu: “Globalization, international trade and maritime transport”. Bài
viết đã phân tích vấn đề toàn cầu hóa của thế kỷ 20, thời điểm mà nhiều quốc
gia cắt giảm bớt những rào cản với mục tiêu là tự do hóa thương mại để đạt
được tăng trưởng kinh tế nhanh. Bài viết đã chỉ ra tự do hóa thương mại cả về
khối lượng và chất lượng đều ảnh hưởng đến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu,
đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa thương mại quốc tế với vận tải biển từ đó
kết luận tỷ lệ cước phí vận chuyển đường biển phụ thuộc vào mối quan hệ
cung cầu trong lĩnh vực này. Với bài viết này, tác giả sẽ kế thừa kết quả
nghiên cứu của Milojka Poeunea, Marina Zanne và áp dụng đối với Việt
Nam, cụ thể là đo tác động tự do hóa thương mại hàng hóa đến đối với doanh
nghiệp kinh doanh vận tải biển thông qua biến là tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu.
Các nghiên cứu trong nước:


8
Từ trước đến nay, có khá nhiều các đề tài nghiên cứu về vấn đề tự do

9
đề tài “Tác động của tự do hóa thương mại đến hoạt động của các doanh
nghiệp Việt Nam kinh doanh dịch vụ vận tải biển” hoàn toàn không bị trùng
lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này sẽ nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu về tự do hóa thương mại và lựa chọn thước đo tự do hóa
thương mại của Việt Nam trên cơ sở đo mức độ tự do hóa về thương mại hàng
hóa.
- Nghiên cứu về các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển và
lựa chọn chỉ tiêu thể hiện hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này.
- Trên cơ sở thước đo tự do hóa thương mại, tác giả sẽ chọn mẫu đưa
vào chạy mô hình hồi quy tuyến tính để kết luận về mối quan hệ giữa tự do
hóa thương mại và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải biển
Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt
Nam với tổng sản lượng hàng hóa vận chuyển theo đường biển
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt
Nam với doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại
đến hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển trong
giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển
của Việt Nam không tính đến các loại hình doanh nghiệp liên quan đến yếu tố
nước ngoài.
5. Nội dung nghiên cứu
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương:

gia để mở rộng cho sự giới hạn phát triển của nó. Các quan hệ kinh tế dần dần
hình thành và quá trình toàn cầu hóa kinh tế bắt đầu.
Toàn cầu hóa là sự tiếp nối, sự khẳng định và hoàn thiện các khuynh
hướng đã hình thành từ lâu trong lịch sử thế giới. Mặt khác, toàn cầu hóa
cũng là một hiện tượng mới, bất đầu bằng toàn cầu hóa về kinh tế, rồi dần dần
lôi cuốn theo toàn cầu hóa về tất cả các mặt của chính trị, đời sống, văn hóa.
Toàn cầu hóa kinh tế là quá trình gia tăng mạnh mẽ sự lưu thông hàng hóa,
dịch vụ, vốn, lao động giữa các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới. Các
mối quan hệ đó đã trở thành phổ biến, sâu sắc và và ngày càng gia tăng mạnh.
Nói chung, toàn cầu hóa là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội… Trong các mặt đó thì toàn cầu hóa về kinh tế đang
là mặt nổi trội nhất, đó là cơ sở và động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác trong


2
xu thế này. “Toàn cầu hóa về kinh tế được hiểu là sự gia tăng nhanh chóng
các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng
tới một nền kinh tế thế giới thống nhất sự gia tăng của xu thế này được thể
hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của
các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.”
Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều các
nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh
tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt
tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, vừa tạo cơ hội
cho sự phát triển nhưng cũng vừa có thách thức đối với các quốc gia, nhất là
các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển.
Thực ra không phải mọi quốc gia đều tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
với một mức độ giống nhau và được bình đẳng như nhau. Khi tham gia vào
toàn cầu hóa các nước phát triển có nhiều lợi thế. Phần còn lại của thế giới

trong việc tham gia vào xu thế chung của toàn cầu về tự do hóa và thuận lợi
hóa các hoạt động thương mại. Vì những lẽ trên hội nhập kinh tế quốc tế là
việc một quốc gia chủ động tham gia trong xu thế toàn cầu hóa, xóa bỏ sự
khác biệt và ngăn cách giữa các nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế có đạt
hiệu quả hay không phụ thuộc vào mức độ mở cửa thị trường hay mức độ
chặt chẽ của các thể chế mà các quốc gia đó tham gia, hay nói cách khác đi đó
chính là thể hiện sự khác nhau ở mức độ tự do hóa thương mại và bảo hộ sản
xuất của mỗi quốc gia.
c. Khái niệm tự do hóa thương mại
Trước hết, tự do hóa thương mại có thể hiểu là một chế độ thương mại
mà trong đó không có sự phân biệt đối xử nào, hay không có bất kỳ sự can
thiệp nào của chính phủ đối với hàng trong và ngoài nước. Một chế độ đạt đến
trạng thái như vậy được gọi là tự do hóa thương mại. Tuy nhiên trên thực tế
thì khó có thể đạt được một chế độ tự do hóa đúng nghĩa, bởi việc xóa bỏ
hoàn toàn các rào cản thương mại gần như là một việc làm không thể thực


4
hiện được. Ngày nay, khái niệm tự do hóa thương mại ngày càng được thừa
nhận và sử dụng rộng rãi. Tự do hoá thương mại là một thuật ngữ chung để
chỉ hoạt động loại bỏ các cản trở hiện hành đối với thương mại hàng hoá và
dịch vụ. Mục đích cuối cùng của tự do hoá thương mại là xoá bỏ hoàn toàn
mọi cản trở đối với thương mại, tức là đạt được chế độ thương mại tự do.
Thuật ngữ này có thể bao hàm cả việc loại bỏ các cản trở đối với đầu tư nếu
như thị trường được nghiên cứu cần đầu tư để tiếp cận thị trường. Nếu so sánh
với “Toàn cầu hóa” và “Hội nhập kinh tế quốc tế” thì có thể hiểu “Toàn cầu
hóa” là một xu thế, trong khi đó “Hội nhập kinh tế quốc tế” là sự chủ động
vươn ra khỏi biên giới của quốc gia để tiếp cận với các quốc gia khác; Còn
“Tự do hóa thương mại” là sự chủ động giảm bớt sự cản trở đối với thương
mại quốc tế để các quốc gia khác có cơ hội tiếp cận. Có thể nói, khó có thể có

GATT phát triển thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tính đến tháng
7/2008, tổ chức này có 153 thành viên. WTO cũng là tổ chức không nằm
ngoài các mục đích nói trên, đó là loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương
mại để tiến tới tự do thương mại.
b. Bản chất của tự do hóa thương mại
Rút ra từ bên trên, tự do hóa thương mại là một xu hướng lịch sử khách
quan. Mặc dù trong mỗi thời đại tính chất của tự do hóa thương mại là khác
nhau nhưng đó là yêu cầu tất yếu lịch sử, buộc các quốc gia nào muốn phát
triển thì cần phải từng bước xóa bỏ các hạn chế thương mại tiến tới tự do hóa
thương mại trên trường quốc tế để góp phần xây dựng một thị trường toàn cầu
thống nhất. Tự do hóa thương mại là nội dung chủ yếu trong việc xây dựng
một thị trường thống nhất và không có sự khác biệt trong các quan hệ kinh tế
thế giới. Tuy nhiên do các quốc gia là không giống nhau về chế độ chính trị,
mục tiêu kinh tế nên mức độ tự do hóa trong chính sách thương mại quốc tế
cũng là khác nhau.
Nói chung, tự do hóa thương mại là một phạm trù rộng lớn, chủ yếu thể
hiện ở chiến lược phát triển kinh tế quốc gia cũng như việc hoạch định chính
sách kinh tế vĩ mô của nhà nước. Do vậy, tự do hóa thương mại cũng chính là
quá trình cải cách chính sách kinh tế vĩ mô và các chính sách liên quan nhằm
tạo môi trường thông thoáng giúp cho hoạt động ngoại thương trong và ngoài
nước có thể thực hiện một cách dễ dàng.Trên bình diện quốc gia, tự do hóa
thương mại thể hiện ở vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra môi trường mà
hạn chế tối đa các rào cản thương mại để giúp việc giao lưu buôn bán hàng
hóa trở nên dễ dàng và công bằng. Trên bình diện quốc tế, các định chế đa


9
phương sẽ chủ yếu đóng vai trò tạo ra các khuôn khổ pháp lý mang tính chất
toàn cầu nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động không bị hạn chế thương mại.
Tóm lại, từ một số quan điểm trên có thể khái quát về bản chất của tự do

phép xuất nhập khẩu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, yêu cầu
kiểm dịch, v.v... Tất cả các tổ chức, hiệp hội, diễn đàn hợp tác về kinh tế trên
thế giới đều hướng đến một nền thương mại tự do thông qua việc cắt giảm và
tiến tới xóa bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan. Cho nên đây có thể coi
là một công cụ hữu hiệu để đo mức độ tự do hóa thương mại về chính sách
của một quốc gia.
b. Mô hình cân bằng tổng thể CGE
Đây là mô hình được lập nên bởi P. J. Lloyd và D. MacLaren và được
đăng trên tạp chí Mô hình chính sách (Journal of Policy Modeling) của Đại
học Melbourne – Úc. Mô hình này bao gồm một nhóm các biện pháp để đo độ
mở của một nền kinh tế dựa trên khoảng cách giữa các đơn vị được tính toán
và sự diễn giải về phúc lợi xã hội. Đó là sự chuyển thể từ Uniform Tariff
Equivalent và số tài sản tăng lên cùng với phúc lợi xã hội khi đo lường độ mở
của nền kinh tế. Đây là một giải pháp thay thế cho tỉ lệ tổng kim ngạch
thương mại trong trường hợp thương mại bị hạn chế so với trường hợp mở
cửa về thương mại. Mô hình này đã được tính toán cho 14 quốc gia trên thế
giới, sử dụng mô hình GTAP. Mô hình này cũng tìm được mối liên hệ chặt
chẽ trong các thước đo CGE chỉ trừ mỗi trường hợp sự sắp xếp của các quốc
gia theo việc đo lường này có sự khác biệt cơ bản so với tỷ lệ thương mại
thực tế của các quốc gia này.
Rất nhiều các tác giả đã sử dụng mô hình này khi phân tích mức độ mở
cửa của thị trường của một quốc gia hay cần phân tích sự tác động của vấn đề
tự do hóa thương mại khi một quốc gia gia nhập vào một tổ chức, hiệp hội,
khu vực mậu dịch tự do hay diễn đàn hợp tác kinh tế…
c. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu là lượng tiền thu được từ việc xuất khẩu các
hàng hóa, dịch vụ của một quốc gia tính trong một khoảng thời gian nhất
định, thường là theo tháng, quý hoặc năm.



12
Vận tải biển là việc dùng phương tiện chuyên chở để chở hành
khách, hàng hóa, sinh vật bằng đường biển. (GFP - Global Facilitation
Partnership for Transportation and Trade)
1.2.1.2. Dịch vụ vận tải biển
Có một số văn bản pháp quy định định về dịch vụ vận tải biển như
sau:
Dịch vụ vận tải biển là dịch vụ có sử dụng tàu biển để vận chuyển
hàng hóa, hành khách, hành lý. (Nghị định số 30 của Chính phủ về điều kiện
kinh doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển)
Dịch vụ vận tải biển bao gồm: dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ lai dắt
hỗ trợ tại cảng biển Việt Nam và các dịch vụ vận tải biển khác. (Nghị định số
115/2007/NĐ-CP ngày 5/7/2007 về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải
biển).
Theo cách hiểu trong WTO, dịch vụ vận tải biển bao gồm dịch vụ vận
chuyển đường biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển. Trong đó dịch vụ vận
chuyển đường cũng chính là việc dùng phương tiện để chuyên chở bằng
đường biển; Dịch vụ hỗ trợ vận tải biển bao gồm dịch vụ đại lý tàu biển và
dịch vụ lai dắt tàu biển. .(Nghị định số 30 của Chính phủ về điều kiện kinh
doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
Có một số thuật ngữ sau đây hay được dùng thay thế cho các thuật ngữ
trên trong nhiều trường hợp.
Dịch vụ hàng hải: Khái niệm dịch vụ hàng hải cho đến nay trong các
văn kiện của các tổ chức quốc tế cũng như của Việt Nam chưa hề thấy có một
định nghĩa cụ thể về dịch vụ hàng hải. Vì thế tồn tại nhiều cách hiểu khác
nhau về khái niệm này. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, dịch vụ hàng hải bao gồm
toàn bộ các hoạt động hàng hải. Hiểu theo nghĩa hẹp, dịch vụ hàng hải bao
gồm nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong ngành logistics: kinh doanh kho
bãi, dịch vụ giao nhận, đại lý vận tải, đại lý tàu biển, môi giới hàng hải, thông
quan, sửa chữa tàu biển, cung ứng thuyền viên, kinh doanh xăng dầu, hệ

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển: là một tổ chức có
tư cách pháp nhân cung ứng dịch vụ có sử dụng tàu biển để vận chuyển hàng
hóa, hành khách, hành lý nhằm mục đích sinh lợi.
Xuất phát từ cách hiểu trong WTO, tác giả cho rằng doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ vận tải biển sẽ bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ vận chuyển đường biển và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hỗ trợ vận
tải biển. Ngoài ra doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hỗ trợ vận tải biển có thể


14
coi là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải hoặc doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ hàng hải.
1.2.2. Phân nhóm đối tượng nghiên cứu đối với doanh nghiệp kinh doanh
dịch vụ vận tải biển
Qua những phân tích trong mục các thuật ngữ có liên quan đến vận tải
biển, tác giả sẽ phân nhóm doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải biển
thành hai nhóm để nghiên cứu: Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển
đường biển và Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải. Xuyên suốt đề tài
từ giờ tác giả sẽ sử dụng hai thuật ngữ trên trong các nghiên cứu và phân tích.
Tóm lại hai thuật ngữ trên sẽ được hiểu như sau trong phạm vi nghiên cứu
này:
1.2.2.1. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển đường biển
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển đường biển bao gồm
những doanh nghiệp kinh doanh có sử dụng tàu biển để vận chuyển hàng hóa.
1.2.2.2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics bao gồm các doanh
nghiệp cung cấp một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển,
lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách
hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status