PHƯƠNG PHÁP dạy từ VỰNG TIẾNG ANH CHO học SINH TRUNG học cơ sở - Pdf 36

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................5
1. Lý do chọn đề tài :...................................................................................................5
1.1. Cơ sở lý luận:........................................................................................................7
1.2. Cơ sở thực tiễn:.....................................................................................................8
2. Mục đích nghiên cứu:..............................................................................................8
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:......................................................................9
4. Giả thuyết khoa học:...............................................................................................9
5. Nhiệm vụ:...............................................................................................................10
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận:............................................................................10
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn:.........................................................................10
5.3.Đề xuất biện pháp:...............................................................................................10
6.Giới hạn phạm vi nghiên cứu:...............................................................................10
6.1.Giới hạn về nội dung:...........................................................................................10
6.2.Giới hạn về thời gian:...........................................................................................10
6.3.Giới hạn về địa bàn:.............................................................................................10
7.Phương pháp nghiên cứu:......................................................................................11
8. Đề tài đưa ra giải pháp mới:.................................................................................11
9. Hiệu quả áp dụng:.................................................................................................12
CHƯƠNG I: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ
VỰNG TIẾNG ANH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ”.........................13
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:...................................................................................13
1.1. Cơ sở lý luận :.....................................................................................................13
1.2. Cơ sở thực tiễn:...................................................................................................14
2. Định hướng chung của đề tài:..............................................................................14
3. Các biện pháp tiến hành:......................................................................................15
3.1. Lựa chọn từ để dạy:...........................................................................................15
3.2. Các bước để giới thiệu từ mới:..........................................................................17
3.3. Các phương pháp để giới thiệu nghĩa của từ vựng:........................................18
3.3.1. Visual (nhìn).....................................................................................................18
1

Chữ viết đầy đủ

PPDH

Phương pháp dạy học

THCS

Trung học cơ sở

TSHS

Tổng số học sinh

T

Teacher

E.g

Example



Quyết định

BGDĐT

Bộ giáo dục đào tạo


cực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm.

4


Làm thế nào để học sinh hiểu bài, tiếp thu bài nhanh nhất, có những giờ học sôi
động, thu hút được học sinh, có những phương pháp dạy hay để học sinh dễ nắm bắt
được bài ngay tại lớp luôn là những trăn trở đối với mỗi người sắp bước vào nghề
như chúng tôi.
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI thế kỷ của nền văn minh hiện đại, thế kỷ
của khoa học công nghệ thông tin. Đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển lấy nền
kinh tế tri thức làm nền tảng cho sự phát triển và coi giáo dục đào tạo là quốc sách
hàng đầu và cải tiến chất lượng dạy và học để hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng
nguồn nhân lực con người cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Để tồn tại,
phát triển, xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo kịp các nước phát triển đòi hỏi chúng ta
phải nắm bắt được các thành tựu tiên tiến nhất. Nhằm đưa đất nước Việt Nam trở
thành một nước văn minh giàu mạnh.
Bởi vậy hệ thống các môn học trong nhà trường hiện nay là hướng tới những
vấn đề cốt lõi thiết thực đó. Bộ môn Tiếng Anh tuy đưa vào phổ biến muộn hơn so
với các môn học khác ở nhà trường nói chung và Trường trung học cơ sở Trường Sơn
nói riêng, nhưng nó là chìa khóa mở ra kho tàng tri thức nhân loại. Nó là người
hướng đạo đưa ta tới với Thế giới, bắt tay với bạn bè năm châu, tiếp thu và lĩnh hội
những tinh hoa nhân loại.Tuy nhiên việc học Tiếng Anh ở các Trường trung học nói
chung và Trường trung học cơ sở Trường Sơn nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, đặc
biệt là trong việc học và sử dụng từ vựng. Vì vậy dạy cho học sinh cách học và sử
dụng Tiếng Anh là để cung cấp cho học sinh một kho tàng từ điển sống về ngôn từ và
cấu trúc câu, là một yêu cầu rất cần thiết trong việc học Tiếng Anh, đặc biệt là với
những

học

chương trình giảng dạy, trở thành một trong những bộ môn chính khoá ở các bậc học
phổ thông. Để dạy tốt môn Tiếng Anh, mỗi một giáo viên đứng lớp luôn phải thực
hiện tốt công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên, nghiên cứu, vận dụng các
phương pháp dạy học tích cực, khoa học và phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển
tính năng động, sáng tạo, tích cực của học sinh trong hoạt động học tập nhằm tạo khả
năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho học sinh. Cốt lõi của việc đổi mới phương
pháp dạy học (PPDH) ở trường THCS là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ
động, chống lại thói quen học tập thụ động. Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động
rèn luyện năng lực giao tiếp dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện năng
lực giao tiếp cần có môi trường với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi
trường này chủ yếu do giáo viên tạo ra dưới dạng những tình huống giao tiếp và học
sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với tình huống giao tiếp cụ
thể. Mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ là giao tiếp. Để giao tiếp tốt trước
hết đòi hỏi ở học sinh có vốn từ vựng nhất định, vốn từ vựng càng nhiều giúp học
sinh càng hiểu ngôn ngữ giao tiếp nhanh chóng và có hiệu quả. Với mục đích muốn
học tốt môn Tiếng Anh trong thời gian học tập tại trường và muốn giúp cho học sinh
khắc phục được những khó khăn trong việc học từ mới và học từ mới có hiệu quả.
Tôi đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu viết về phương pháp cộng với những
trải nghiệm trong quá trình học tập . Tôi đã rút ra được một vài kinh nghiệm trong
việc gây hứng thú cho học sinh học Tiếng Anh qua tìm hiểu tài liệu sách giáo khoa
Tiếng Anh lớp 9. Đây là kinh nghiệm mà tôi tâm đắc nhất và tôi đã mạnh dạn chọn
nó để làm đề tài nghiên cứu khoa học cho mình. Khi thực hiện đề tài này tôi đã sử
dụng các phương pháp sau:
1/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
2/ Phương pháp thực nghiệm.
3/ Phương pháp tổng kết qua kinh nghiệm thực tập giảng dạy.

6



7


phương pháp nhằm giúp học sinh nhớ và sử dụng vốn từ một cách hiệu quả nhất để
tiến tới học sinh có khả năng nói, viết và dịch bài tốt hơn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
+ Giáo viên bộ môn Tiếng Anh và học sinh Trường Trung học cơ sở Trường Sơn.
+ Số lượng: 48 học sinh lớp 9A Trường Trung học cơ sở Trường Sơn.
3.2.

Đối tượng nghiên cứu:

+ Năng lực học từ mới của học sinh.
+ Sách giáo khoa Tiếng Anh lớp 9.
+ Sách bài tập Tiếng Anh lớp 9.
+ Việc học và sử dụng từ vựng tiếng Anh .
+ Phương pháp dạy từ vựng tiếng Anh .
+ Các kỹ năng học từ vựng tiếng Anh .
+ Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học từ vựng cho học sinh lớp 9A
của trường Trung học cơ sở Trường Sơn.
4. Giả thuyết khoa học:
4.1. Giả thuyết thứ nhất: Những thành tố cấu thành nên năng lực học từ vựng
là kiến thức (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ nghĩa), kĩ năng và thái độ học tập.
4.2. Giả thuyết thứ hai: Dựa vào những thành tố cấu thành nên năng lực thì
đánh giá năng lực học từ vựng cần dựa vào khung đánh giá cụ thể, theo các cấp độ
nhận thức của học sinh và cách truyền đạt của giáo viên.
4.3. Giả thuyết thứ ba: Học sinh lớp 9A trường Trung học cơ sở Trường Sơn
còn có nhiều hạn chế trong việc học từ vựng Tiếng Anh, phương pháp học từ vựng

6.1. Giới hạn về nội dung:
Nghiên cứu cách thức giảng dạy từ vựng Tiếng Anh cho học sinh trung học cơ
sở và giải pháp nâng cao khả năng học từ vựng của học sinh trung học cơ sở học kì 2
năm học 2015-2016.
6.2. Giới hạn về thời gian:
Học kỳ 2, năm học 2015-2016.
6.3. Giới hạn về địa bàn:
Lớp 9A Trường THCS Trường Sơn.

9


7. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp khảo sát thực tế, tìm hiểu tình hình học tập của học sinh.
- Phương pháp nghiên cứu và thực hành.
- Phương pháp đối thoại, phỏng vấn.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra, thống kê, kiểm tra thực tế.
- Phương pháp thực hành: thực hành về việc sử dụng từ vựng tiếng Anh vào
thực tế
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh.
- Phương pháp nghiên cứu: tài liệu, dự giờ, kiểm tra, đối chiếu, so sánh kết quả
của học sinh.
- Phương pháp tổng hợp.
Tôi đã tìm tòi nghiên cứu các tài liệu, kết hợp dự giờ, thực nghiệm, kiểm tra
đối chiếu các kết quả học tập của học sinh, và rút ra được phương pháp dạy tốt nhất
cho các em.
8. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Trước khi đi vào những vấn đề cụ thể, chúng ta thống nhất với nhau rằng,

1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
- Theo phân phối chương trình hiện nay, môn tiếng Anh tiểu học mỗi tuần 02
tiết, mà hầu như tiết nào cũng có từ mới trong bài học và kể cả trong bài tập. Nhưng
muốn dạy tốt từ vựng để tiết học sinh động hơn, Giáo viên phải làm tranh ảnh, đồ
dùng để minh hoạ, tạo điều kiện cho các em nhớ từ dễ dàng và hướng sự chú ý của
các em vào chủ đề hay trọng tâm bài học.
- Về phía học sinh, bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, có không ít học
sinh chỉ học qua loa, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không tập đọc,
tập viết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều. Đến khi giáo viên yêu cầu các
em sẽ không thành công.
- Về phía học sinh, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các
em tự học ở nhà. Bởi vì là môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết. Đây
cũng là vấn đề hết sức khó khăn trong quản lý việc học ở nhà của học sinh.
- Ngoài ra, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm,
học sinh thường học từ vựng bằng cách đọc từ bằng tiếng Anh và cố nhớ nghĩa bằng
tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo viên, chứ chưa có ý thức
tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có. Vì thế cho nên, các em rất
mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác. Do vậy, nhiều học sinh đâm ra
chán học và bỏ quên. Cho nên giáo viên cần chú ý đến tâm lý này của học sinh.
1.1. Cơ sở lý luận :
Luật Giáo dục – 2005 (điều 5) quy định “phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người
học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học
12



30

Dịch sang tiếng Việt
25

13

Dịch sang tiếng Anh
10


Với kết quả như thế, tôi quyết định thử áp dụng một số kinh nghiệm học từ
vựng của mình qua những năm học tập ở trường Đại học và quá trình thực tập ở
trường trung học phổ thông, tôi rút ra được những kinh nghiệm sau đây, để cuối năm
so sánh với kết quả ban đầu.
3. Các biện pháp tiến hành:
3.1. Lựa chọn từ để dạy:
Thông thường trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ
mới nào cũng cần đưa vào dạy như nhau. Lựa chọn từ để dạy cần xem xét từ chủ
động hay bị động?
Trước khi dạy, giáo viên phải đọc bài và nghiên cứu kĩ để tìm từ chủ động và
thụ động. Từ chủ động có liên quan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết). Đối
với loại từ này giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều
hơn. Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời
gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định xem sẽ
dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động.
- Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ hiểu, nhận biết và
sử dụng được trong giao tiếp nói và viết liên quan đến nội dung chính của bài và
được sử dụng nhiều trong phần luyện tập (practice).
- Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu và

các nước trên thế giới. Muốn giao tiếp tốt chúng ta phải có vốn từ phong phú.
Ở môi trường trung học hiện nay, khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếu nói đến
ngữ pháp và từ vựng, từ vựng và ngữ pháp luôn có mối quan hệ khăng khích với
nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau. Tuy nhiên việc dạy và giới
thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể. Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện những
từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy. Để chọn từ cần dạy,
giáo viên cần xem xét những vấn đề:
- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:
+ Form (dạng từ).
+ Meaning (ý nghĩa).
+ Use (cách sử dụng).
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như từ điển
thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên cần cho

15


học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ, mà còn biết phát âm đúng những từ
đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ.
-Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ của học
sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian thực hiện các
hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là 6 từ.
- Trong khi lựa chọn từ để dạy, giáo viên nên xem xét đến hai điều kiện sau:
+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không ?
+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ?
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của học
sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh.
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ của học
sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho học sinh
hiểu nghĩa từ đó ngay.

- Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ. Dùng cử chỉ, điệu bộ để giới thiệu (mime,
body, gestures and actions).
Eg: (to) pray, (to) lay out, (to) jump, (to) hug, (to) turn up, (to) throw, (to)
decorate,....
-Sử dụng hình thức này để thể hiện rõ ràng, tự nhiên giúp học sinh dễ hiểu, dễ
nhận biết và rất hứng thú học.
E.g: bored

E.g: (to) jump

Teacher looks at watch, makes

T. jumps

bored face, yawns

T. asks: “What am I doing?”

T. asks: “How do I feel?”
3.3.3. Realia (vật thật):
Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được, dùng tranh ảnh hay đồ vật cụ
thể (visual realia). Khi dạy những từ cụ thể giáo viên nên mang những vật thực để
giới thiệu.
Eg:
- Dạy bài 5 có những từ cầm đồ vật thật như: remote control, magazine.
17


- Dạy bài 7 có những từ cầm đồ vật thật như: water bill, crack,...và các bài khác
như: comic, bill, bulb, flashlight, doll,....

Sử dụng tình huống(situation) hay giảng giải (explanation).
* Sử dụng tình huống giảng giải, dạy từ trong ngữ cảnh, giải thích từ bằng
những Tiếng Anh đơn giản, nhiều em rất tích cực trong việc đoán từ.
E.g: honest
T. explains, “I don’t tell lies. I don’t cheat in the exams. I tell the
truth.”
T. asks, “What am I? Tell me the word in Vietnamese.”

18


3.3.5. Example (ví dụ):
E.g: furniture

E.g: (to) complain

T. lists examples of furniture:

T. says, “This room is too noisy

“tables, chairs, beds – these are

and too small. It’s no good (etc.)”

all ... furniture ... Give me another

T. asks, “What am I doing?”

example of... furniture...”
3.3.6. Synonyon/ antonyon (đồng nghĩa/ trái nghĩa):



+ Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe.
+ Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại.
+ Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằng miệng.
+ Viết: Học sinh viết từ vào vở bài tập.
Trong khi dạy từ mới phải ghi nhớ các điểm sau: Nên giới thiệu từ trong mẫu câu,
ở những tình huống giao tiếp khác nhau, giáo viên kết hợp việc làm đó bằng cách thiết
lập được sự quan hệ giữa từ cũ và từ mới, từ vựng phải được củng cố liên tục.
Giáo viên thường xuyên kiểm tra từ vựng vào đầu giờ bằng cách cho các em
viết từ vào bảng con và giơ lên, với cách này giáo viên có thể quan sát được toàn bộ
học sinh ở lớp, bắt buộc các em phải học bài và nên nhớ cho học sinh vận dụng từ
vào trong mẫu câu, với những tình huống thực tế giúp các em nhớ từ lâu hơn, giao
tiếp tốt và mang lại hiệu quả cao.
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn
các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất,
mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết
được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế.
Kỹ năng nghe hiểu phải được đặt lên trước kỹ năng viết. Vì thế trước hết giáo
viên phải gợi ý để học sinh nêu ra được từ mới. Học sinh nghe giáo viên đọc cách
phát âm của từ (2-3 lần). Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại đồng thanh, cá nhân. Giáo
viên ghi từ lên bảng (những từ có 2 âm tiết phải đánh rõ trọng âm).
4.2. Phương pháp kiểm tra và củng cố từ mới:
Chúng ta biết rằng chỉ giới thiệu từ mới thôi không đủ, mà chúng ta còn phải
thực hiện các bước kiểm tra và củng cố. Các thủ thuật kiểm tra và củng cố sẽ khuyến
khích học sinh học tập tích cực và hiệu quả hơn.
- Khi học sinh ghi được từ vào vở, giáo viên nên dùng nhiều biện pháp để kiểm
tra từ. Các hình thức trò chơi theo nhóm sẽ thực sự tạo hứng thú học tập cho học sinh.
+ Rub out and remember: Hình thức này giúp học sinh nhớ từ ngay tại lớp.
+ Slap the black board : Hình thức này giúp học sinh nhận ra từ vựng qua nghe

Học sinh làm việc theo nhóm watching television and

listening to music.

Với các hình thức này đã thực sự đem đến hiệu quả cao cho các em trong việc
nhớ từ và vận dụng từ.
* Trong quá trình hướng dẫn học sinh học từ, nhớ từ và vận dụng từ giáo viên
phải luôn theo dõi thái độ và kết quả của học sinh để có sự điều chỉnh bổ sung cho
21


việc nâng cao giờ dạy từ vựng. Giáo viên phải thường xuyên đưa bài tập luyện từ từ
dễ đến khó để nâng cao dần trình độ và kỹ năng sử dụng từ cho các em (đặc biệt là
đối tượng khá, giỏi). Phải thường xuyên cho các em bài tập điền từ vào chỗ trống sau
khi đã kiểm tra từ hoặc để rèn luyện thêm kỹ năng nghe thig giáo viên nên cho các
em bài tập (ordering) sắp xếp từ theo đúng trật tự. Một số học sinh khá, giỏi có thể
thể hiện năng lực, trí tuệ của mình và các em làm việc rất tích cực, chủ động.
Đối với những từ trừu tượng giáo viên nên dùng phương pháp dịch thuật như
khi dạy bài 4 (B). Eg: shrine, mosque, interactive, a dripping faucet, freedom choice,
(to) warn, edition,.....
Tóm lại: Các hình thức giới thiệu từ đa dạng nhưng tuỳ vào tình hình thực tế
đối tượng học sinh và vào từng từ cụ thể mà giáo viên lựa chọn hình thức phù hợp để
đạt được hiệu quả cao.
4.3. Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà:
Để phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, thì
giáo viên cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của người
học, trong quá trình dạy và học, giáo viên chỉ là người truyền tải kiến thức đến học
sinh, học sinh muốn lĩnh hội tốt những kiến thức đó, thì các em phải tự học bằng
chính các hoạt động của mình.
Hơn nữa thời gian học ở trường rất ít, cho nên đa phần thời gian còn lại ở gia

về quy mô, số lượng từ phải học và luyện tập hằng ngày, nhằm đảm bảo theo hướng
đổi mới phương pháp dạy học , lấy học sinh làm trung tâm. Các em học tập tích cực,
chủ động sáng tạo, suy nghĩ độc lập tự nhiên không gò bó, rập khuôn máy móc. Tuy
nhiên học sinh vẫn còn một số khó khăn khi học và luyện tập từ vựng tiếng Anh, vì
vậy đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc hướng dẫn học sinh. Giáo
viên phải thường xuyên động viên học sinh, và khuyến khích các em mạnh dạn,tích
cực hơn trong việc học tập bộ môn tiếng Anh, có như vậy học sinh mới học tập tốt
môn học này.
2.2. Kết luận:
Trong quá trình dạy tiếng Anh, việc giới thiệu và kiểm tra từ vựng tuy chiếm
lượng thời gian không nhiều song chúng có vai trò hết sức quan trọng, tạo tiền đề cho
học sinh nắm vững và sử dụng đúng ngôn ngữ sau này. Người giáo viên với vai trò
của người hướng dẫn phải sử dụng những kỹ năng gì cho phù hợp trong quá trình
giới thiệu từ vựng để đạt được mục đích bài học đề ra. Trong quá trình soạn bài, giáo
viên phải lựa chọn kĩ năng, kỹ thuật cho phù hợp, chuẩn bị kĩ càng cho các lời dẫn
gợi mở từ, các vật dụng cần thiết liên quan đến việc giới thiệu từ và chọn cách kiểm
tra từ sao cho phù hợp gây hứng thú cho học sinh.
Tôi thực hiện đề tài này chỉ là một phần trong tiết học, tuy nhiên nó đóng vai
trò rất quan trọng cho việc thực hành mẫu câu, việc đối thoại có trôi chảy, lưu loát
hay không đều phải phụ thuộc vào việc học thuộc lòng từ vựng và phát âm có chuẩn
hay không.
Nhưng để thực hiện giảng dạy tốt một tiết từ vựng, không chỉ cần có sự đầu tư
vào bài giảng, vào các bước lên lớp của giáo viên, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự
hợp tác của học sinh. Do vậy tôi đã đưa ra một số yêu cầu đối với học sinh như:
Chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học phải nghiêm túc.

BÀI HỌC KINH NGHIỆM

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status