Phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới hoạt động kinh tế quốc tế của Việt Nam trong những năm vừa qua - Pdf 36

1

MỤC LỤC
MỤC LỤC…………………………………………………………………………. i


2

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng biểu
Bảng 2.1:

Xuất nhập khẩu giai đoạn 2007-2010……………………...………. 26

Bảng 2.2:

Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam (%)…...…… 29

Bảng 2.3:

Báo cáo đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng năm 2012………...… 41

Bảng 2.4:

Báo cáo đầu tư trực tiếp nước ngoài 12 tháng năm 2013……...….. 44

Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Diễn biến tỷ giá USD/VND từ 1/2007 đến 12/2010………………. 22
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng thương mại quốc tế trên GDP…………………………….. 27
Biểu đồ 2.3: FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000-2010…………………………… 32
Biểu đồ 2.4: Diễn biến tỷ giá và dollar-index từ 1/2011 đến 12/2011………..… 35

4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA VIỆT NAM
1.1. Tỷ giá hối đoái
1.1.1. Khái niệm

Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau.
Đó là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ
của nước khác. Ví dụ: Tỷ giá bán ra của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày
12/03/2005 là : 1 USD = 15804VND.
Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cả của
hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ.
Đồng tiền đứng ở vị trí thứ nhất gọi là đồng tiền yết giá. Đồng tiền đứng ở vị
trí thứ hai gọi là đồng tiền định giá. Đồng tiền yết giá là đồng tiền thể hiện giá trị
của nó qua đồng tiền định giá (có hệ số 1,100 hoặc 1.000). Đồng tiền định giá là
đồng tiền dùng để xác định giá trị của đồng tiền yết giá (có hệ số bất kỳ).
Đối khoản là số tiền này đối ứng với số tiền kia theo một tỷ giá nhất định.
+ Trong các giao dịch ngoại hối, khách hàng thường lấy tên thủ đô của các
nước mà ở đó là thị trường tiền tệ lớn trên thế giới thay cho tên tiền tệ của nước đó.
+ Trong giao dịch mua bán ngoại hối qua ngân hàng, các tỷ giá thường
không được đọc đầy đủ mà chỉ được đọc những số nào thường biến động.
+ Chú ý khi điểm giá bán nhỏ hơn hoặc bằng điểm giá mua thì theo quy ước
quốc tế: tại giá bán sẽ đẩy lên một số.
Nguyên tắc: Tỷ giá bán > Tỷ giá mua
Tỷ giá đứng trước là tỷ giá mua của ngân hàng. Tỷ giá mua của ngân hàng là
tỷ gía ngân hàng áp dụng khi mua ngoại tệ vào. Tỷ giá đứng sau là tỷ giá bán của
ngân hàng. Tỷ giá bán của ngân hàng là tỷ giá ngân hàng áp dụng khi bán ngoại tệ
ra.

được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau. Loại tỷ giá này do
tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng
phải đảm bảo trong biểu độ do Ngân hàng nhà nước quy định. Việc thanh toán giữa
các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam
kết mua bán.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giá
hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải


6

đảm bảo trong biên độ quy định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của ngân hàng nhà nước
tại thời điểm ký hợp đồng.
Thường là giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện theo
hợp đồng (1,3,6 tháng…)
- Tỷ giá mở cửa: Tỷ giá mua bán ngoại tệ của chuyến giao dịch đầu tiên trong
ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: Tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùng
trong ngày
• Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá:

- Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà
không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng.
- Tỷ giá thực là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan
giá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định
giá.
Er = En
với En: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
Er:Tỷ giá hối đoái thực.
Pb: Giá cả ở nước có đồng tiền yết giá

khẩu trong từng thời kỳ, khuyến khích những ngành hàng, chủng loại hàng hóa
tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại, hạn chế nhập khẩu nhằm thực hiện định
hướng phát triển cho từng giai đoạn.
c) Điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Phân phối lại thu nhập giữa các ngành hàng có liên quan đến kinh tế đối
ngoại và giữa các nước có liên quan về kinh tế với nhau. Khi tỷ giá cao, tức là giảm
sức mua của đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài. Điều này có tác
dụng giúp cho nhà xuất khẩu có thêm lợi thế để cạnh tranh tăng thêm thu nhập cho
nhà xuất khẩu.
d) Tỷ giá còn là công cụ sử dụng trong cạnh tranh thương mại, giành giật thị trường
tiêu thụ hàng hóa, khai thác nguyên liệu của nước khác với giá rẻ. Đó là biện pháp
phá giá đồng tiền. Phá giá đồng tiền là việc chính phủ đứng ra tuyên bố giảm giá
nội tệ so với ngoại tệ. Điển hình là nước Mỹ đã dùng công cụ tỷ giá để cản trở sự
xuất khẩu các hàng hóa của Nhật sang Mỹ (đặc biệt là xe hơi). Việc làm này đã gây
thiệt hại cho Nhật, làm giảm thu nhập từ xuất khẩu của Nhật.


8

1.1.4. Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái
• Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá dài hạn:

Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động tới quan hệ cung cầu ngoại
tệ. đó là: mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích của người tiêu dùng và
năng suất lao động.
+ Mức giá cả tương đối:

Khi mức giá cả hàng hoá, dịch vụ trong nước tăng so với mức giá cả của
hàng hoá - dịch vụ nước ngoài, các hãng sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng, các
hãng sản xuất của một nước nói chung có xu hướng thu hẹp quy mô sản xuất do chi

nhau như về giá cả, chất lượng, hình thức... thì chúng vẫn không có khả năng thay
thế hoàn toàn cho nhau chỉ vì người tiêu dùng có sở thích khác nhau
Ví dụ :

Khi người dân thích dùng hàng nội hơn, cầu về hàng nội tăng, cầu về hàng
ngoại giảm, đường cầu ngoại tệ dịch trái, tỷ giá hối đoái giảm từ e1 xuống e2, và
đồng vnd tăng giá. ngược lại, thì tỷ giá hối đoái tăng và đồng tiền nước đó giảm giá.
+ Năng suất lao động:


10

Năng suất lao động tăng lên thể hiện sự phát triển kinh tế và sử dụng nó hiều
quả cao hơn các nguồn lực khác. năng suất lao động tăng lên làm chi phí sản xuất
giảm, các cơ sở sản xuất có cơ hội mở rộng kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm.
hàng nội có giá rẻ hơn, có sức cạnh tranh cao hơn và các nhà sản xuất thu được lãi
nhiều hơn. năng suất lao động cao hơn là cơ sở để hàng nội thay thế hàng ngoại ở
thị trường trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài; kích thích tăng xuất khẩu,
tăng cung ngoại tệ và đường cung ngoại tệ dịch phải. đồng thời làm nhu cầu hàng
ngoại giảm, nhập khẩu giảm, cầu ngoại tệ giảm, đường cầu ngoại tệ dịch trái, kéo tỷ
giá xuống e2 và đồng nội tệ tăng giá

• Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn

Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động. đó là: mức chênh
lệnh lạm phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự đoán về tỷ giá hối đoái.
+ Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia:

Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện các nhân
tố khác không thay đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng hoá ở hai nước đó có những biến

biến động tỷ lệ lạm phát, lãi suất và thu nhập giữa các quốc gia. Giả sử rất nhiều
người tham gia vào thị trường ngoại hối đều cho rằng đồng usd sẽ giảm giá trong
thời gian tới, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. điều này dẫn đến


12

cung về usd sẽ tăng lên vì nhiều người muốn bán chúng. đồng thời, cầu về usd sẽ
giảm xuống.
Ảnh hưởng này được minh hoạ bằng đồ thị:

Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như khủng
bố, thiên tai đình công, các quyết sách lớn cảu nhà nước... điều này có thể giải thích
sự thay đổi đột ngột, thất thường của tỷ giá mà không theo quy luật nào.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tỷ giá hối đoái chịu sự tác động của rất
nhiều yếu tố. việc xác định đúng và kịp thời các nhân tố này là cơ sở quan trọng để
điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
1.1.5.

Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái
Bất kì một quốc gia nào cũng luôn luôn tìm cách để đạt được hai mục tiêu

lớn của nền kinh tế : Đó là mục tiêu cân bằng ngoại (cân băng ngoại thương) và
mục tiêu cân bằng nội(cân bằng sản lượng,công ăn việc làm và lạm phát)
Ta biết rằng, tỷ giá tác động đến giá cả tương đối của hàng hoá trong nước và
hàng hoá nước ngoài . Khi đồng tiền của một nước tăng giá ( Tăng giá trị so với
đồng tiền khác ) thì hàng hoá nước đó tại nước ngoài trở lên đắt hơn và hàng hoá
nước ngoài trở lên rẻ hơn(giá nội địa tại hai nước giữ nguyên ) . Ngược lại, khi
đồng tiền của một nước sụt giá , hàng hoá nước đó tại nước ngoài trở lên rẻ hơn

Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn:
+ Vấn đề lựa chọn chế độ (hệ thống) tỷ giá hối đoái (cơ chế vận động của tỷ

giá hối đoái)
+ Vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.

1.2.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế mở động cơ hoạch định chính sách là những mục tiêu cân
đối bên trong và bên ngoài. Trong khi đó tỷ giá hối đoái lại là một yếu tố có khả
năng ảnh hưởng trực tiếp đến những cân đối này nên việc hoạch định những chính
sách tỷ giá phải trực tiếp nhắm đến hai mục tiêu này. Tuy nhiên trong giai đoạn nhất
định nào đó, chính sách tỷ giá cũng có thêm những mục tiêu cụ thể như: thường
xuyên xác lập và duy trì mức tỷ giá cân bằng, duy trì và bảo vệ giá trị đồng nội tệ,


14

tiến tới thực hiện đầy đủ chức năng của đồng tiền (bao gồm việc thực hiện khả năng
chuyển đổi của đồng tiền), gia tăng dự trữ ngoại tệ.


Mục tiêu cân bằng nội : Là trạng thái ở đó các nguồn lực của một quốc gia
được sử dụng đầy đủ, thể hiện ở sự toàn dụng nhân công và mức giá cả ổn
định. Mức giá biến động bất ngờ có tác động xấu đến các khoản tín dụng và
đầu tư. Chính phủ cần ngăn chặn các đợt lên hay xuống phát triển đột ngột
của tổng cầu để duy trì một mức giá cả ổn định, có thể dự kiến trước được.
Vì vậy, tỷ giá hối đoái được xem như là một công cụ đắc lực, hỗ trợ hiệu quả
cho Chính phủ trong việc điều chỉnh giá cả, đặc biệt là trong nền kinh tế, xu

thế hội nhập quốc tế như hiện nay.

tính toán những nhân tố thực tại cũng như chiều hướng phát triển trong tương lai
của kinh tế, thị trường tiền tệ và giá cả.
Thứ ba, quỹ dự trữ bình ổn hối đoái: Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ
bình ổn hối đoái thường là: phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia. Khi
ngoại tệ vào nhiều, thì sử dụng quỹ này để mua nhằm hạn chế mức độ mất giá của
đồng ngoại tệ. Ngược lại, trong trường hợp vốn vay chạy ra nước ngoài quỹ bình ổn
hối đoái tung ngoại tệ ra bán và tiếp tục mua các trái khoán đã phát hành để ngăn
chặn giá ngoại tệ tăng. Theo phương pháp này, khi cán cân thanh toán quốc tế bị
thâm hụt, quỹ bình ổn hối đoái sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán
cân thanh toán. Còn khi ngoại tệ vào nhiều, quỹ sẽ tung vàng ra bán thu về đồng
tiền quốc gia để thu ngoại tệ nhằm duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái.

1.2.4. Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái
Bảng 1.1: Chính sách tỷ giá hối đoái tác động đến hoạt động của nền kinh tế
Tỷ giá
hối đoái
Cố định

Thả nổi

Lạm phát

Phát triển

Làm tăng niềm tin vào
chính sách tiền tệ, kiềm
chế lạm phát ở mức
thấp. Làm giảm nhập
khẩu ở các nước có nền
kinh tế thị trường đang


Khủng hoảng
Làm tăng rủi ro
về các cuộc đầu
cơ tấn công vào
tiền tệ, đặc biệt
khi có biểu hiện
các dòng vốn
không ổn định.
Tăng nguy cơ
khủng hoảng
trong ngân hàng.
Làm giảm rủi ro
về tiền tệ và ngân
hàng


16

phận tài chính và thể
chế

các cú sốc và ít
bị chệch hướng
bởi các cú sốc

thực.

Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: Nằm giữa hai thái cực trên. Quan điểm của
các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại coi trọng cả vai trò kinh tế của Chính phủ


Sau quý I/2015, tỷ giá đô la Mỹ đã tăng thêm 150- 170 đồng mỗi chiều mua – bán


18

Công cụ áp dụng để điều chỉnh tỷ giá:
+

Điều chỉnh lãi suất:
Mặt bằng lãi suất huy động trong 3 tháng đầu năm được điều chỉnh giảm

nhẹ. So với thời điểm cuối năm 2014, lãi suất huy động giảm nhẹ từ 0,1% - 0,5%
tùy từng kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất huy động của các ngân hàng đối với tiền gửi kỳ
hạn trên 12 tháng nằm ở mức 6,4 - 7,2%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng
ở mức 5,4-6,5%/năm; kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,5-5,4%/năm;
dưới 01 tháng hoặc không kỳ hạn vẫn ở mức 0,8-1%/năm. Lãi suất huy động
USD không đổi vẫn ở mức 0,75%/năm đối với dân cư và 0,25% đối với tổ
chức.Mặt bằng lãi suất cho vay giảm rất ít. Trong đó, lãi suất ngắn hạn hầu như giữ
nguyên trong khi lãi suất trung và dài hạn chỉ giảm nhẹ khoảng0,5% và chủ yếu
tại các ngân hàng thương mại nhà nước. Mặt bằng lãi suất cho vay USD không
đổi, vẫn ở mức quanh 3 – 6% trong ngắn hạn và 5,5 – 7% trung và dài hạn.(Theo
Báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán 2015-BSC ). Việc tiến hành điều
chỉnh lãi suất đồng VND nhưng giữ nguyên lãi suất USD góp phần giúp cho tỉ giá
giữa hai đồng tiền được nâng cao.
+

Tăng dự trữ ngoại hối bằng thu hút nguồn vốn FDI:
Trong Quý I năm 2014, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã


vietstock.vn)
Việc thu hút kiều hối về nước góp phần làm dự trữ ngoại tệ quốc gia tăng ,từ
đó giúp cho chính sách điều chỉnh tỷ giá đi đúng hướng. MBS dự báo dự trữ ngoại
hối của Việt Nam năm 2015 có thể đạt 38 tỷ USD – tăng 5,6% tương đương 2 tỷ
USD so với năm 2014.

Đơn vị: tỷ USD


20

Biểu đồ 1.3 Dự trữ ngoại hối của Việt Nam qua các năm

Nguồn: MBS tổng hợp và dự phóng
Tác động của chính sách tỉ giá đến nền kinh tế Quý I-2015(Theo Báo cáo kinh
tế vĩ mô và thị trường chứng khoán 2015-BSC):
+

Tăng trưởng kinh tế:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2015 ước tăng 6,03% so với cùng

kỳ năm 2014 - mức tăng cao nhất của quý I trong 5 năm qua. Trong đó,
khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,14%; khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng 8,35%; khu vực dịch vụ tăng 5,82%. Mức tăng trưởng đột biến của GDP
đến từ khu vực “Công nghiệp và xây dựng”. Đáng chú ý là ngành công nghiệp
chế biến chế tạo, tăng 9,5% và ngành khai khoáng, tăng 6,7%. Ngành xây dựng
chưa có sự cải thiện khi chỉ tăng 4,4% thấp hơn mức 5,93% cùng kỳ .Về cơ cấu
nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng
12,35%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,80%; khu vực dịch vụ
chiếm 42,23%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,62%.

đến nền kinh tế cũng như thị trường ngoại hối của Việt Nam tuy nhiên việc điều
chỉnh tỉ giá như vậy vẫn còn nhiều điểm bất hợp lí.
Khi đồng USD vẫn đang trong xu hướng lên giá mạnh so với hầu hết các
đồng tiền chủ chốt khác, sẽ khiến VND tăng giá quá cao so với USD và các đồng
ngoại tệ khác. Điều này làm cho năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu của
DN Việt Nam giảm, xuất khẩu có thể giảm trong khi nhập khẩu tăng, do đó nhập
siêu có khả năng tăng.
Đặc biệt, việc đồng VND tăng giá quá cao so với USD cũng khiến cho tình
trạng tỷ giá chính thức có thời điểm chênh lệch lớn so với tỷ giá thị trường tự do.
Từ đó dẫn đến hoạt động đầu tư ngoại tệ vốn đã giảm mạnh trong thời gian gần đây,
có thể sẽ quay trở lại, nếu mạnh lên sẽ gây bất lợi lớn cho hoạt của thị trường ngoại
hối.


22

Khi tỷ giá tăng 1%, xuất khẩu chỉ tăng thêm 0,15%. Đặc biệt, không phải lúc
nào xuất khẩu tăng cũng dẫn tới tăng GDP, bởi sự gia tăng xuất khẩu do tỷ giá sẽ
phải "trả giá" bằng sự suy giảm sản lượng ở các khu vực sản xuất khác, khi mọi
nguồn lực đều dồn cho xuất khẩu. Chưa kể, do tình trạng đô la hoá nên việc kỳ
vọng tỷ giá tăng sẽ khiến cho người dân chuyển sang nắm giữ vàng, USD và khiến
lãi suất huy động và cho vay gia tăng theo.


23

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
2.1. Giai đoạn 2007 – 2010

vấn đề căng thẳng cung cầu trên thị trường ngoại tệ vẫn thực sự chưa được giải
quyết. Các biện pháp sử dụng để điều hành chính sách tỷ giá vẫn chủ yếu là các
biện pháp hành chính, sự can thiệp trực tiếp vào cung ngoại tệ của NHNN còn nhiều
hạn chế. Các công cụ được sử dụng đồng loạt và có hỗ trợ cho nhau để tác động lên
thị trường nhưng mang tính bị động. NHNN đã chậm trễ trong việc điều chỉnh tỷ
giá cho phù hợp với tình hình thực tế mà luôn có khuynh hướng cố định, giữ mức tỷ
giá bằng việc chỉ thực hiện những điều chỉnh rất nhỏ. NHNN chỉ điều chỉnh mạnh
vào những lúc thị trường thật sự nóng. Việc điều hành chính sách tỷ giá trong giai
đoạn này dường như là sự chạy theo diễn biến của thị trường chứ không phải hướng
thị trường theo chính sách.Vì thế, giai đoạn năm 2007 đến 2010 chứng kiến sự biến
động liên tục của tỷ giá hối đoái.

Biểu đồ 2.1: Diễn biến tỷ giá USD/VND từ 1/2007 đến 12/2010

Nguồn: NHNN TP. Hồ Chí Minh và tổng hợp


25

Từ năm 2007 đến nay, biểu đồ tỷ giá VND/USD chuyển biến liên tục và đầy
kịch tính. Từ cuối năm 2006, lần đầu tiên trong điều hành tỷ giá, các NHTM niêm
yết tỷ giá VND/USD ở mức thấp nhất (giá sàn). Nguyên nhân của hiện tượng này
là nguồn cung USD tăng vọt chủ yếu từ nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào
thị trường chứng khoán Việt Nam. Tỷ giá giảm làm gia tăng nhập khẩu, hạn chế
xuất khẩu, cán cân thương mại bị thâm hụt. Để cải thiện cán cân thương mại,
NHNN buộc phải điều chỉnh tỷ giá. Về lý thuyết, NHNN có thể (1) can thiệp thông
qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoặc (2) điều chỉnh tỷ giá do NHNN công bố
hằng ngày.
Thực tế, những ngày đầu năm 2007, NHNN đã tăng cường mua vào USD để
gia tăng quỹ dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên mặt trái của việc làm này là chỉ số lạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status