ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------***------------
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
TỔ CHỨC SỰ KIỆN
TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƢ VIỆN
TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƢ VIỆN
HÀ NỘI - 2015
6
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được bày tỏ
lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Thanh, người đã luôn bên
cạnh để khuyến khích và tận tình chỉ dạy cho tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài luận văn tốt nghiệp.
Tiếp đó, tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc của mình đến quý thầy giáo,
cô giáo, giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập tại trường và khoa.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn bè, đồng
nghiệp tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Học viện Ngân Hàng, Trung tâm
Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại
học FPT, Thư viện Đại học Thủy Lợi, Thư viện Tạ Quang Bửu đã giúp đỡ tạo
điều kiện tốt nhất về thời gian, cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu để tôi có
1.3.5. Các dịch vụ thông tin – thư viện .......................................................................... 34
6
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SỰ KIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI .............. 36
2.1. Các loại hình sự kiện đƣợc tổ chức trong hoạt động thông tin – thƣ viện tại
các trƣờng đại học ở Hà Nội ........................................................................................ 36
2.1.1. Toạ đàm người dùng tin ....................................................................................... 36
2.1.2. Thi tuyên truyền giới thiệu tài liệu và tìm hiểu về thư viện ................................. 40
2.1.3. Triển lãm sách ...................................................................................................... 41
2.2.4. Ngày hội đọc sách ................................................................................................ 43
2.1.5. Hội thảo chuyên ngành thông tin – thư viện ........................................................ 45
2.1.6. Các sự kiện kỷ niệm và khai trương ..................................................................... 46
2.2. Quy trình tổ chức sự kiện trong hoạt động thông tin – thƣ viện tại các
trƣờng đại học ở Hà Nội .............................................................................................. 48
2.2.1. Tiếp nhận thông tin và hình thành ý tưởng .......................................................... 49
2.2.2. Xây dựng kế hoạch thực hiện .............................................................................. 50
2.2.3. Triển khai tổ chức thực hiện ................................................................................. 52
2.2.4. Đánh giá và báo cáo kết quả ................................................................................. 54
2.3. Truyền thông sự kiện trong hoạt động thông tin – thƣ viện tại các trƣờng
đại học ở Hà Nội ........................................................................................................... 55
2.3.1. Truyền thông trước sự kiện .................................................................................. 55
2.3.2. Truyền thông sau sự kiện ..................................................................................... 57
7
2.4. Đánh giá chất lƣợng tổ chức sự kiện trong hoạt động thông tin – thƣ viện
Biểu đồ 2.1 trong hoạt động thông tin – thư viện tại một số trường đại
59
học ở Hà Nội (2013-2015)
Mức độ đánh giá của người dùng tin về độ sáng tạo trong
Biểu đồ 2.2 việc tổ chức các loại hình sự kiện tại các thư viện trường
61
đại học ở Hà Nội (2013-2015)
Biểu đồ 2.3
Biểu đồ 2.4
Biểu đồ 2.5
Biểu đồ 3.1
Biểu đồ 3.2
Mức độ đánh giá của người dùng tin về địa điểm, thời gian
và nội dung các hoạt động được tổ chức tại các sự kiện
Hiệu quả quảng bá sự kiện của các kênh truyền thông đã
được các thư viện trường đại học sử dụng
Nguyên nhân người dùng tin không tham gia các sự kiện
được tổ chức tại các thư viện trường đại học
Nhu cầu về loại hình sự kiện mà người dùng tin muốn tham
gia tại các thư viện trường đại học ở Hà Nội
Mục đích mà các nội dung chương trình trong sự kiện tại
bởi tạp chí Fast Company của Mỹ, nghề “tổ chức sự kiện” đã được xếp ở vị trí
thứ sáu trong mười nghề có tiềm năng nhất trên thế giới [25]. Tại Việt Nam,
cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoạt động TCSK cũng đã và
đang không ngừng phát triển với phạm vi mở rộng, theo một quy trình chuyên
nghiệp, mang tính sáng tạo và cạnh tranh cao. Theo báo Diễn đàn doanh nghiệp
trong loạt bài nghiên cứu về mức độ quan tâm của giới trẻ với các nghề đã đánh
giá truyền thông marketing và TCSK là nghề hấp dẫn nhất trong xã hội Việt
Nam hiện đại tính đến thời điểm năm 2007 mặc dù đây là nghề mới du nhập vào
7
Việt Nam chưa lâu. Như vậy, có thể khẳng định TCSK đang là mối quan tâm của
toàn thể xã hội, trở thành một nghề giàu tiềm lực, mang lại nhiều lợi ích cho sự
phát triển của kinh tế- chính trị, văn hóa - xã hội và nhiều lĩnh vực cụ thể khác,
trong đó có lĩnh vực thông tin – thư viện (TT-TV).
Trong lĩnh vực TT-TV, với sự bùng nổ về số lượng thông tin, tài liệu cùng
với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các cơ quan truyền thông khác như báo chí, các
nhà xuất bản…để những thông tin, tài liệu có chất lượng đến được với người
dùng tin (NDT) và quảng bá được hình ảnh của thư viện, chúng ta cần phải tăng
cường các hoạt động quan hệ công chúng (PR), truyền thông marketing. Trong
đó, hoạt động TCSK là một phần không thể thiếu trong chuỗi các hoạt động
quảng bá cho thư viện. Các sự kiện được tổ chức trong lĩnh vực TT-TV được đề
cập ở đây là các buổi triển lãm, ngày hội sách, các cuộc thi tuyên truyền giới
thiệu tài liệu, các hội thảo chuyên ngành, hội nghị bạn đọc… Những sự kiện này
giúp các cơ quan thư viện giới thiệu sản phẩm - dịch vụ một cách rộng rãi, quảng
bá hình ảnh của thư viện tới gần hơn với bạn đọc, tìm hiểu nhu cầu của người
dùng và nâng cao trình độ chuyên môn. Chính những lợi ích to lớn như vậy đã
khiến cho nhu cầu TCSK ngày càng trở thành một trong những vấn đề cấp thiết
cần được đáp ứng. Đặc biệt đối với thư viện đại học (ĐH) - nơi mà đối tượng
in the Digital World”(Robert L. Dilenschneider, 2010), “Để người khác gọi ta là
PR”(Hà Nam Khánh Giao, 2004), “PR: Kiến thức cơ bản và đạo đức nghề
nghiệp” (Đinh Thị Thúy Hằng, 2007)… đều có đề cập tới một số vấn đề khái
quát về “tổ chức sự kiện”. Tuy nhiên, các tác phẩm trên chủ yếu tập trung xem
9
xét hoạt động PR như là một chiến lược để xây dựng thương hiệu và TCSK là
một hoạt động trong chuỗi những hoạt động PR đó mà không đề cập chuyên sâu
về hoạt động TCSK.
Sau này, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động “tổ chức sự kiện”
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội, một số cuốn giáo trình
nghiên cứu chuyên sâu về TCSK đã ra đời như: cuốn “Successfull event
management: a practical handbook” của Anton Shone (2006), giáo trình “Tổ
chức sự kiện” của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm (2007)… Tuy nhiên, những cuốn
sách trên cũng mới chủ yếu tập trung vào việc khai thác các kỹ năng trong hoạt
động có tính chuyên ngành đặc thù là kinh tế, chưa đề cập tới vấn đề TCSK
trong nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, thông tin – thư viện.
Trong lĩnh vực TT-TV, việc tiếp cận với khái niệm “tổ chức sự kiện” vẫn
còn khá mới mẻ. Có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này.
- Về sách, trong cuốn sách “62 chiến dịch PR xuất sắc nhất” (2008)
đã giới thiệu hai chiến dịch PR bằng hoạt động TCSK đã thành công rực rỡ của
Thư viện ở Portland và Thư viện công cộng New York [14]. Đây được xem là
hai minh chứng thực tế rõ ràng nhất cho việc ứng dụng PR và cụ thể là TCSK
đem lại những hiệu quả rõ rệt làm thay đổi sự phát triển của một thư viện nói
riêng và cả sự nghiệp thư viện nói chung.
- Về các công trình nghiên cứu khoa học với đề tài TCSK trong hoạt
động thông tin – thư viện nói chung, đề tài luận văn: “Tổ chức sự kiện văn hóa
tại các thư viện ở Hà Nội” (2010) của ThS. Tạ Minh Hà được xem là một trong
11
khẳng định nghiên cứu về TCSK trong hoạt động TT-TV đang là một trong
những đề tài rất mới và cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp có cơ sở khoa học và tính
thực tế để nâng cao hiệu quả TCSK trong hoạt động thông tin – thư viện tại các
thư viện trường ĐH ở Hà Nội.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các lý luận cơ bản về hoạt động TCSK trong lĩnh vực
thông tin – thư viện như: các khái niệm, cách thức phân loại, vai trò và quy trình
TCSK trong hoạt động TT-TV.
- Phân tích thực trạng TCSK trong hoạt động TT-TV tại các thư viện
trường ĐH ở Hà Nội.
- Đánh giá những điểm thuận lợi và hạn chế của hoạt động TCSK trong
lĩnh vực TT-TV. Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả TCSK
trong hoạt động TT-TV tại các thư viện trường ĐH ở Hà Nội.
4. Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay, TCSK trong hoạt động TT-TV tại các thư viện trường ĐH còn
chủ yếu mang tính tự phát. Vì thế, nếu chúng ta xây dựng được các chính sách và
áp dụng quy trình TCSK chuyên nghiệp, kết hợp với việc đào tạo kỹ năng TCSK
cho CBTV sẽ nâng cao được hiệu quả TCSK trong hoạt động TT-TV.
12
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn và điều tra bảng hỏi: Phỏng vấn và phát phiếu
khảo sát cho các đối tượng là NDT và CBTV tại các thư viện trường ĐH được
chọn mẫu. Tổng số mẫu phiếu khảo sát là 750 phiếu.
- Phương pháp so sánh, thống kê và đánh giá: Tổng hợp các dữ liệu được
lấy từ quá trình quan sát, phỏng vấn và điều tra bảng hỏi để so sánh, đối chiếu và
đưa ra các kết luận mang tính thực tế.
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học
- Góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về hoạt động TCSK trong
lĩnh vực thông tin – thư viện, qua đó khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động
này đối với sự phát triển của các cơ quan thư viện.
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả TCSK trong
hoạt động thông tin – thư viện tại các thư viện ĐH ở Hà Nội.
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng
dạy, nghiên cứu và học tập trong ngành thông tin – thư viện.
14
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về TCSK trong hoạt động
thông tin – thư viện.
- Phân tích được thực trạng hiện nay của hoạt động TCSK thông tin – thư
viện tại các thư viện trường ĐH ở Hà Nội.
- Đề xuất những giải pháp mang tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quả
TCSK trong hoạt động TT-TV tại các thư viện trường ĐH ở Hà Nội.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được chia thành 3 chương:
Theo Anton Shone và Bryn Parry định nghĩa: “Sự kiện là hiện tượng phát
sinh từ những dịp không thường xuyên, cái mà các mục tiêu giải trí, văn hóa, cá
nhân và mục tiêu của các tổ chức tách khỏi những hoạt động trong cuộc sống
thường nhật. Mục đích của chúng là truyền đạt thêm kiến thức, kỉ niệm hoặc thử
16
thách kinh nghiệm của một nhóm người.” [23, tr.4] – Đây là định nghĩa về sự
kiện có tính khái quát cao, thể hiện được bản chất đặc trưng của “sự kiện”.
Như vậy, ta có thể khái quát: “Sự kiện là hoạt động có chủ đích, không
diễn ra thường xuyên và thường được tổ chức vào những dịp đặc biệt, có tính
quan trọng hướng tới một hoặc một số nhóm đối tượng cụ thể để thực hiện các
mục tiêu đã đặt ra.”
+ Sự kiện là những hoạt động có chủ đích nghĩa là phải có giới hạn về
không gian, thời gian nhất định theo một kế hoạch cụ thể có sự khởi đầu, phát
triển và kết thúc. Những hoạt động diễn ra thường xuyên liên tục, không có kết
thúc thì không được gọi là sự kiện. Đặc biệt, sự kiện là những hoạt động được tổ
chức vào các dịp đặc biệt, để tách biệt với các hoạt động diễn ra thường ngày.
+ Sự kiện là những hoạt động có tính quan trọng, tức là phải có giá trị
làm thay đổi về chất hay lượng của một cá nhân, tổ chức hay cộng đồng và mang
ý nghĩa đặc biệt mà những hoạt động thông thường khác không có. sự kiện
thường có giá trị ảnh hưởng tới nhiều người. Tùy vào từng mục đích tổ chức mà
có các loại hình sự kiện khác nhau như: sự kiện giải trí, quảng bá sản phẩm, kỷ
niệm hoặc truyền đạt tri thức, thông điệp, thảo luận về các vấn đề quan trọng…
- Khái niệm “sự kiện” trong hoạt động thông tin – thư viện:
Điểm khác biệt rõ nét nhất giữa các sự kiện được tổ chức trong lĩnh vực
TT-TV với các sự kiện khác là những sự kiện này chứa hàm lượng thông tin lớn
mà “chủ sở hữu” thông thường là các cơ quan TT-TV. Nhóm đối tượng mục tiêu
mà các sự kiện này hướng tới chính là NDT, CBTV và những người đang hoạt
Dưới góc nhìn của kinh tế học, theo PGS.TS Lưu Văn Nghiêm, “Tổ chức
sự kiện là một quá trình bao gồm sự kết hợp các hoạt động với các tư liệu lao
động cùng với việc sử dụng máy móc thiết bị, công cụ lao động thực hiện các
dịch vụ đảm bảo toàn bộ các công việc chuẩn bị và các hoạt động sự kiện cụ thể
nào đó trong một thời gian và không gian cụ thể nhằm chuyển tới đối tượng tham
dự sự kiện những thông điệp truyền thông theo yêu cầu của chủ sở hữu sự kiện
và thỏa mãn nhu cầu của khách tham dự sự kiện.” [8, tr.12]. Đây là khái niệm
mang tính khái quát cao các công đoạn để tổ chức một sự kiện nhưng chỉ phù
hợp trong trường hợp xem xét TCSK như một hoạt động kinh tế, có cung và cầu
giữa công ty TCSK và “chủ sở hữu sự kiện”.
Dưới góc nhìn của báo chí và truyền thông: “Tổ chức sự kiện” là một thuật
ngữ có tính đặc thù. Trong cuốn “Một văn phòng báo chí cần phải làm những gì”
của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ (2002) đã viết: “A government press office is called
upon to deal with many kinds of public events” [24, tr.6], nghĩa là một văn
phòng báo chí có trách nhiệm thực hiện nhiều sự kiện công cộng. Một “public
event” có thể là bất cứ sự kiện nào đang diễn ra trong xã hội, ngay cả khi đó là
một vụ nổ, một thảm hoạ…, những gì mà thông tin về nó, của nó có tính chất xã
hội. Như vậy, dưới góc nhìn của báo chí việc TCSK cần phải mang tính chất xã
hội cao, nhằm truyền đạt một thông điệp rõ ràng nào đó và có tác động với một
nhóm người hoặc cả một cộng đồng người.
Như vậy có thể thấy, tùy thuộc vào từng lĩnh vực khác nhau sẽ có những
góc nhìn và quan niệm về “tổ chức sự kiện” khác nhau. Tuy nhiên, ở các khái
niệm trên vẫn có điểm chung là quá trình TCSK đều cần có kế hoạch cụ thể, bao
gồm tất cả các khâu tổ chức, thực hiện thông qua nguồn nhân lực và các công cụ
hỗ trợ để hướng tới một nhóm đối tượng cụ thể nhằm đạt được những mục đích
19
hoạch, triển khai thực hiện, báo cáo và đánh giá kết quả thực hiện sự kiện hướng
tới đối tượng là người dùng tin, những người đang hoạt động trong lĩnh vực
thông tin – thư viện hoặc những người quan tâm tới lĩnh vực này để truyển tải
thông tin, tri thức hoặc thông điệp, thông qua đó kết nối với người dùng tin và
nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thư viện.”
1.1.2. Các loại hình sự kiện trong hoạt động thông tin – thư viện
Hoạt động TCSK nói chung và TCSK trong lĩnh vực TT-TV nói riêng đều
rất đa dạng và phong phú vì vậy cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách
thức phân loại. Tuy nhiên, trong đó nổi bật là hai cách phân loại chính: theo quy
mô và theo mục đích của sự kiện.
Phân loại theo quy mô của sự kiện là một trong những ý tưởng được đưa
ra bởi tác giả Lynn Van Der Wagen trong tác phẩm “Event management”. Ông
đã phân chia sự kiện thành siêu sự kiện (mega-events), sự kiện chính yếu (major
events) và sự kiện thứ yếu (minor events) [26, tr. 4]. Tổ chức những sự kiện lớn
nhất được gọi là siêu sự kiện và thường nhắm vào những sự kiện mang tầm cỡ
quốc tế. Loại hình TCSK lớn thứ hai là sự kiện chính yếu. Đây là những sự kiện
thu hút số lượng lớn những người yêu thích văn hoá đặc thù mang tính địa
phương và thường được tổ chức tại những địa điểm du lịch độc đáo. Loại hình
TCSK cuối cùng là sự kiện thứ yếu. Theo quan điểm của Lynn Van Der Wagen
thì hầu hết các sự kiện của các cơ quan, tổ chức đều rơi vào loại hình sự kiện
này. Đây là cách phân loại TCSK khá đơn giản nhưng chưa hoàn toàn chính xác
và chỉ phù hợp với các sự kiện văn hoá – xã hội có các phạm vi quy mô rõ ràng.
21
Vì thế, rất khó để phân loại các loại hình sự kiện trong hoạt động TT-TV theo
tiêu chí này.
Bên cạnh tiêu chí phân loại TCSK theo quy mô thì phân loại theo mục
đích của sự kiện cũng là một cách phân loại được đưa ra bởi đa số các nhà
mắc riêng, tổ chức các buổi toạ đàm tư vấn để giải quyết các thắc mắc này sẽ
giúp CBTV tiết kiệm được thời gian và công sức, tránh được việc phải thường
xuyên trả lời các câu hỏi trùng lặp.
- Thi tuyên truyền giới thiệu tài liệu và tìm hiểu về thư viện:
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thư viện và tuyên truyền giới thiệu tài
liệu là một trong những sự kiện phổ biến nhất trong hoạt động TT-TV hiện nay.
Các cơ quan TT-TV thường tiến hành những cuộc thi vui trả lời sách hoặc tìm
hiểu về thư viện nhân dịp các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng trong lĩnh vực
khoa học - kỹ thuật, văn hóa – xã hội của đất nước, của địa phương. Các cuộc thi
này có thể diễn ra trong phạm vi quy mô hẹp dành cho cán bộ và NDT của từng
thư viện hoặc mở rộng đối với một phạm vi khu vực rộng hơn. Đối tượng mà các
cuộc thi này hướng tới có thể là NDT hoặc CBTV. Các cuộc thi dành cho NDT
sẽ giúp NDT có cơ hội giới thiệu những tài liệu hay và ý nghĩa mà họ quan tâm,
thông qua đó giao lưu với các NDT khác của thư viện và chính điều này sẽ giúp
CBTV nghiên cứu nhu cầu tin của NDT để có những điều chỉnh bổ sung phù
hợp. Ngoài ra, việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thư viện dành cho NDT
chính là cơ hội để thư viện khuyến khích NDT tìm hiểu và đưa ra các cảm nhận,
đánh giá về các thông tin liên quan tới thư viện như vốn tài liệu, các sản phẩm và
23
dịch vụ. Đối với các cuộc thi dành cho CBTV là cơ hội để các CBTV học hỏi,
trao đổi và giao lưu với nhau từ đó tích luỹ thêm những tri thức và kinh nghiệm
mới để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.
Thêm vào đó, ngày nay bên cạnh các hình thức thi tuyên truyền tài liệu
theo phương thức truyền thống, các cơ quan TT-TV còn thể hiện tính sáng tạo
của mình bằng cách tổ chức các hình thức thi đa dạng và phong phú hơn như thi
xếp sách nghệ thuật, thi kể chuyện theo chủ đề, thi đọc sách đố vui có thưởng…
Thông qua các hình thức thi sáng tạo như vậy, NDT không chỉ tự xây dựng cho
kết hợp của các cơ quan TT-TV với các nhà sách và các cơ quan xuất bản khác.
Trong ngày hội đọc sách, thông thường các cơ quan thư viện sẽ mở các gian
hàng để các nhà xuất bản sách trưng bày, giới thiệu và bán sách với giá ưu đãi.
Đây không chỉ là cơ hội để các cơ quan xuất bản tìm kiếm và tiếp cận nguồn
khách hàng tiềm năng mà còn đem lại rất nhiều lợi ích cho chính cơ quan TT-TV
chủ quản TCSK. Chính sự tham gia của các nhà xuất bản đã khiến cho vốn tài
liệu được trưng bày và giới thiệu đến NDT thông qua ngày hội đọc sách có tính
đa dạng về nội dung và phong phú về thể loại. Đây là cơ hội để CBTV tìm hiểu
nhu cầu tin của NDT, thông qua đó có những quyết định điều chỉnh bổ sung tài
liệu phù hợp. Ngày hội sách cũng là cơ hội giúp các cơ quan TT-TV tạo được
mối quan hệ thân thiết hoặc xây dựng thêm những mối quan hệ mới với các nhà
xuất bản – một trong những nguồn cung cấp tài liệu chính cho thư viện. Đồng
thời, thông qua đó tìm kiếm các nhà tài trợ cũng như các đối tác cho các sự kiện
hoặc hoạt động khác của thư viện. Như vậy, ngày hội đọc sách là sự kiện có tính
kết hợp nhiều hoạt động và có sự tương tác giữa cơ quan TT-TV với các nhà
xuất bản để cùng kết nối đến NDT.
25