Dự án phát triển cộng đồng tập trung vào
trẻ em ở huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì
tỉnh Hà Giang (2007-2009).
I.
Đặt vấn đề:
Trong những năm qua, cùng với những
thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã
hội, nước ta cũng đang phải đối mặt với
nhiều thách thức, trong đó vấn đề nghèo đói
luôn được quan tâm hàng đầu. Tăng trưởng
kinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng
kể đời sống nhân dân, dẫn tới hình thành
những cộng đồng dân cư có thu nhập cao,
đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ sở
vật chất và hạ tầng, các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá.
Người dân tại các cộng đồng này có nhiều
cơ hội phát triển, đựoc phát huy khả năng và
được bảo vệ thông qua mạng lưới an sinh xã
hội an toàn, bền vững. Tuy nhiên, sự phân
hóa ngay trong quá trình phát triển cũng làm
xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo,
các nhóm yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi
có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng
một bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô
thị phát triển. Cộng đồng nghèo thường gắn
liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch
vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế không
nhau trong phạm vi một cộng đồng. Chính
vì vậy nhóm chúng em đã chọn làm về dự
án: “phát triển cộng đồng tập trung vào trẻ
em ở huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì tỉnh
Hà Giang (2007-2009). ”
2)
Giới thiệu về tỉnh hà giang
a)
Khái quát chung về tỉnh hà giang
Hà Giang là một tỉnh miền núi với 10
huyện và 1 thị xã nằm ở phía Bắc Việt
Nam. Hà Giang có 195 xã, phường và thị
trấn, trong đó có 114 xã thuộc chương
trình 135. Tổng diện tích tự nhiên là
7.923,21km2, có trên 274 km đường biên
giới với tiếp giáp với Trung Quốc. Dân số
Hà Giang là 684.618 người với 133.079 hộ
(Nguồn: Niên giám thống kê Tỉnh Hà
Giang-2006), có 22 dân tộc, trong đó
nhiều nhất là người H’Mong (208,571
người chiếm 31%), tiếp đó là người Tày
(171,112 người chiếm 22%), Dao (102,112
người), Nùng (66,335 người). Người Kinh
980,929 người, chiếm 11,8%.
người nông dân tại địa phương, đặc biệt
tại các khu vực xa xôi, hẻo lánh rất thấp
(2,5-2,6 triệu/người/năm). Trung bình mỗi
ngày, một người dân làm ra được 7,000đ
để trang trải cho tất cả các chi tiêu. Mức
thu nhập này chỉ bằng một nửa so với
mức nghèo của thế giới
(1USD/người/ngày). Do vậy, người dân
không có đủ điều kiện để tiếp cận với các
nhu cầu cơ bản bao gồm: lương thực,
quần áo, đồ dùng sinh hoạt, chi trả khám
chữa bệnh, học tập cho con em. Trẻ em
vẫn đang phải chịu nhiều thiếu thốn về
lương thực và quần áo, đặc biệt là vào
mùa đông.
Chất lượng giáo dục Mầm non thấp: Hầu
hết các thôn bản đều không có lớp học
kiên cố cho bậc học mầm non. Các trang
thiết bị và đồ chơi cần thiết cho giáo viên
giảng dạy và trẻ học đều thiếu. Đặc biệt,
tất cả các trường mầm non, bao gồm cả
trường đã được xây dựng kiên cố lẫn các
lớp học tạm, đều không có nhà vệ sinh và
hệ thống nước sạch. Do đó, tỷ lệ đến lớp
trung bình của toàn tỉnh chỉ đạt 15 % đối
với trẻ dưới 3 tuổi, 75% đối với trẻ từ 3-5
tuổi. Đây là một tỷ lệ rất thấp nếu so sánh
với tỷ lệ bình quân của toàn quốc. Đáng
đó, tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng cao
(10-15%), đặc biệt là vào thời gian thu
hoạch nông nghiệp, trẻ phải ở nhà để giúp
đỡ cha mẹ hoặc là mùa đông quá lạnh.
Người nông dân, trong đó bao gồm trẻ em
và những người nghèo không có điều kiện
tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh tốt:
Chỉ có 55% trạm y tế xã có bác sỹ, 72% các
trạm được xây dựng kiên cố. Trong tổng số
133,079 hộ gia đình, chỉ có 31.957 hộ có
bể chứa nước. Gần 50% hộ sử dụng nước.
Những con số này cho thấy điều kiện y tế
của Hà Giang nói chung còn rất nhiều khó
khăn. Tại cấp xã, những khó khăn này lớn
hơn rất nhiều. Phần lớn các trạm y tế xã
đều thiếu các trang thiết bị cần thiết, các
cán bộ của trạm ít có cơ hội để tham gia
các lớp tập huấn chuyên sâu và cập nhật
các thông tin liên quan đến tình hình sức
khoẻ của địa phương. Tất các các nhân
viên y tế thôn bản đều không phải là
những người được đào tạo chuyên
nghiệp. Họ trở thành nhân viên y tế sau
khi tham gia một khoá tập huấn dài 3
tháng. Do vậy, chất lượng các dịch vụ y tế
cho người dân, đặc biệt là cho trẻ em và
phụ nữ còn thấp. Tỷ lệ sinh con tại trạm y
tế chỉ đạt dưới 10% (đối với các xã hẻo
do bị sạt lở đất. Đây là một sức ép lớn cho
sự phát triển kinh tế xã hội của địa
phương.
Tỷ lệ trẻ đi học của trẻ em ở độ tuổi dưới
3 và từ 3-5 tuổi thấp. Tỷ lệ ra lớp trung
bình của trẻ dưới 3 tuổi toàn tỉnh đạt
12,3%, con số này ở hai huyện thấp hơn
rất nhiều, khoảng 6-7%.
Vấn đề học sinh bỏ học ở cấp tiểu học và
trung học cở sở là một khó khăn lớn cho
sự phát triển và nâng cao chất lượng giáo
dục. Theo thống kê không đầy đủ của
Phòng Giáo dục Huyện, tỷ lệ trẻ đang đi
học bỏ học khoảng 15-20%.
Thông qua các hoạt động (Đánh giá nông
thôn có sự tham gia của người dân) được
triển khai tại 6 xã (Pố Lồ, Tụ Nhân, Tân
Tiến – huyện Hoàng Su Phì; Tả Nhìu, Nàn
Ma và Nấm Dẩn – huyện Xín Mần) và việc
thu thập các số liệu thứ cấp, hiện trạng
kinh tế xã hội 6 xã này đang phải đối mặt
với các vấn đề mà tỉnh và hai huyện đang
gặp phải nhưng ở các mức độ khác nhau.
6 xã được xem như là những bức
tranh thu nhỏ của tỉnh Hà Giang.
Chương
trình
đào tạo
còn
nhiều
mặt hạn
chế.
Địa hình
rừng
núi
hiểm
trở.
80% diện tích là rừng
núi.
Điều
kiện tự
nhiên
tác
động.
Dân cư
thưa
thớt.
CÂY
VẤN
ĐỀ
kiến của họ
được lắng nghe.
Sức khoẻ sinh sản phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ được
cải thiện và phát triển,
được bảo vệ khỏi những
rủi ro đe doạ tới sức khoẻ.
Nâng cao sức khỏe cộng đồng tập trung vào trẻ
em thông qua dự án.
Trẻ em thực
hiện quyền
được sống
trong một môi
trường an
toàn mọi nơi.
Chất lượng giáo
dục được cải
thiện.
Trẻ em cần sự
bảo vệ đặc biệt,
nhất là các em
thuộc gia đình di
cư.
Cơ sở hạ
con em mình có sức
khỏe, có trí tuệ….
- Tuyên truyền về việc làm
giấy khai sinh, chống
buôn bán trẻ em qua biên
giới cùng các chiến dịch
của nhà nước.
- Chăm sóc: đảm bảo nhu
cầu tối thiểu của các em,
cung cấp các loại đồ chơi
đơn giản và có thời gian
sử dụng bền để các em
giải trí.
Ghi Chú
- Làm việc từ sáng
đến tối mà vẫn
không đủ ăn, đủ
mặc thì thời gian
đâu giành cho vui
chơi giải trí, phát
triển tinh thần, thể
chất.
Trẻ em
cần sự
bảo vệ
đặc biệt,
nhất là
chế nên việc giúp
họ hòa nhập và nói
lên được tiếng nói
riêng của mình gặp
không ít khó khăn.
Chất
lượng
giáo dục
được cải
thiện.
-Hỗ trợ trang thiết bị làm
bếp ăn để các cháu có thể
ăn trưa tại trường.
-Nâng cao nhận thức của
cha mẹ học sinh qua việc
phổ biến đến từng hộ gia
đình
-Xây dựng cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị phục vụ cho
việc dạy và học của học
sinh: trường học có nhà
vệ sinh,có hệ thống nước
sạch,có các phòng chức
năng,có thư viện cho các
em có thể đọc sách .
-Nâng cao chất lượng dạy
học cho học sinh.
sau đó trẻ lại bỏ học
vì nhiều lý do( ở nhà
lao động, trông
em…) vì thế cán bộ
thường xuyên thăm
nom, thuyết phục
gia đình, động viên
các em đến lớp đầy
Cơ sở hạ
tầng
nhận thức
trong y tế.
-Tăng cường dịch vụ y tế
tại cấp thôn. Tổ chức các
chương trình khám chữa
bệnh miễn phí, nâng cao
cơ sở y tế: xây dựng các
trạm y tế kiên cố ,vững
chắc;bổ sung nguồn lực là
các bác sĩ và y tá.
-Loại bỏ những hủ tục lạc
hậu, chữa bệnh không
khoa học.
-Phổ biến tới các bậc cha
mẹ cho con đi khám để có
thể phòng tránh,phát hiện
và chữa trị kịp thời đối với
trang thiết bị còn
nghèo nàn, đội ngũ
y bác sỹ với trình độ
chuyên môn còn
hạn chế nên người
dân chưa thực sự
tin tưởng
II.
CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA DỰ ÁN:
Chương trình là sự hợp tác lâu dài giữa tổ chức Dự
án Việt Nam và tỉnh Hà Giang vì vậy, nó sẽ có
những đóng góp đáng kể, quan trọng trong việc
xóa đói và giảm nghèo tại hai Huyện Hoàng Su
Phì, Xín Mần nói riêng và tỉnh Hà Giang nói
chung.
Đặc biệt chương trình hỗ trợ tối đa để trẻ em có
thể phát huy mọi tiềm năng của mình cũng như
nâng cao đáng kể điều kiện sống của các em.
Số trẻ được bảo trợ: Năm 2008 có 1.350 trẻ được
Bảo trợ (năm đầu tiên). Số lượng này sẽ được tăng
hàng năm thêm 1.000 trẻ.
Khi mới bắt đầu dự án 2 huyện Hoàng Su Phì và
Xín Mần có tỉ lệ ra lớp của trẻ dưới 3 tuổi là dưới
5%,
Nắm bắt rõ thực trạng này, giáo dục mầm non đã
cấp xã được nâng cao rõ rệt. tất cả các cô giáo từ
mầm non đến tiểu học đều được tập huấn từ
chuyên môn đến phương pháp giảng dạy, giáo
viên trường cấp 2 và các cán bộ đoàn thể đều được
tham gia các khóa tập huấn từ đó áp dụng vào quá
trình triển khai công việc không những của dự án
mà của cả chính phủ, Dự án có sự lồng ghép rất
chặt chẽ giữa các hoạt động của Dự án và của
chính quyền Hà Giang.
Tổng kinh phí tổ chức Dự án đầu tư thời gian qua
tại Hoàng Su Phì và Xín Mần là gần 18 tỉ đồng, 2
huyện Yên Minh và Mèo Vạc gần 3 tỉ đồng”.
Sau 5 năm, hiệu quả các dự án đã tương đối rõ.
Thứ nhất Đến nay tỉ lệ ra lớp của trẻ dưới 3 tuổi
đạt tỉ lệ đạt 35% tăng gấp 7 lần so với khi chưa
thực hiện dự ấn. Thứ hai, trẻ em tham gia các hoạt
động, được trao đổi nhiều nên trở nên tự tin hơn.
Thứ ba, hệ thống cán bộ cấp thôn, xã sau quá trình
làm việc với Dự án đã biết cách lên kế hoạch,
giám sát hiện trường và huy động sự tham gia của
cộng đồng trong các hoạt động. Thứ tư, các công
trình của Dự án xây dựng đã mang hiệu quả cung
cấp cơ sở vật chất cho địa phương; thông qua đó
Dự án tuyên truyền về vấn đề vệ sinh nước sạch
môi trường cho mọi người.
III.
Kết luận: