CHĂM sóc NGƯỜI BỆNH hô hấp - Pdf 36

CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH HÔ HẤP
A-KHÓ THỞ
1.Định nghĩa
- Khó thở là cảm giác không bình thường, không thoải mái khi thở. Đây là một cảm
giác hoàn toàn mang tính chủ quan do bệnh nhân mô tả với những cách mô tả khác
nhau.
- Khó thở cấp: hiện nay không có định nghĩa chính xác từ "cấp" vì mọi định nghĩa
đều là tuỳ tiện. Cấp có thể tạm hiểu là cần can thiệp cấp cứu

- Khó thở là một lý do rất thường gặp đến khám cấp cứu. Trong nhiều trường hợp
bệnh nhân rất nặng hoặc nguy kịch cần can thiệp cấp cứu
- Chẩn đoán nguyên nhân nhiều khi rất khó, nhất là trong bối cảnh cấp cứu.
- Đây là một cấp cứu khó khăn do cần phải xử trí nhanh và cần xác định nhanh
chóng nguyên nhân để xử trí đạt hiệu quả. Trên thực tế cần phải tổ chức tốt quá
trình thăm khám và xử trí cấp cứu và theo dõi: phải kết hợp chặt chẽ và hợp lý giữa
xử trí cấp cứu và tiến hành thăm khám, chỉ định và làm xét nghiệm .

2.Nguyên nhân


2.1 Đừơng hô hấp trên
- Họng: viêm họng do bạch hầu, sơng amydan, khối u ở họng.
- Thanh quản: viêm thanh quản do bạch hầu, u thanh quản.
- Khí quản: U khí quản, do chèn ép từ ngoài vào, do hẹp, nhuyễn sụn

2.2 Đừơng hô hấp dứơi:
- Viêm phế quản cấp, mạn.
- Hen phế quản.
- Dị vật.
- Giãn phế nang.
- Giãn phế quản.

3.Phân loại mức độ khó thở
- Độ 1: Không hạn chế chút nào hoạt động thể lực.
- Độ 2: khó thở khi làm việc gắng sức nặng ở cuộc sống hàng ngày.
- Độ 3: Khó thở khi gắng sức hơi nhẹ, hạn chế nhiều hoạt động thể lực.
- Độ 4: Khó thở khi gắng sức nhẹ và/hoặc khó thở khi nghỉ


4.Điều trị khó thở
- Bỏ thuốc lá giúp giảm các triệu chứng khó thở và giảm nguy cơ ung thư phổi.
- Tránh các chất có thể gây dị ứng, bụi bẩn, độc chất.
- Tránh tăng quá cân và tập thể dục đều đặn.
- Ăn giảm muối nếu bị suy tim, đồng thời dùng thuốc và theo dõi cân nặng thường
xuyên.

Thạc sĩ Phạm
Như Hùng, Viện Tim mạch Việt Nam


B-Hút đờm nhớt
1.Định nghĩa

Hút đờm nhớt là làm sạch và thông đường hô hấp.
Hút đờm nhớt bao gồm hút thông đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới.
+ Đường hô hấp trên: mũi, hầu họng.
+ Đường hô hấp dưới: từ hầu thanh quản đến khí quản, phế quản.
Có thể gây tai biến cho người bệnh: nhiễm khuẩn đường hô hấp, thiếu oxy,
tổn thương niêm mạc đường hô hấp.

2. Mục đích hút đờm dãi:
- Làm sạch dịch xuất tiết để khai thông đường hô hấp

khí quản hay mở khí quản.
Cần lưu ý vì niêm mạc khí phế quản là niêm vô khuẩn nên có nguy cơ dễ bị nhiễm
khuẩn khi hút đờm.

C.THỞ OXY
1. Dấu hiệu và triệu chứng của thiếu oxy.
- Bệnh nhân kêu khó thở. Bệnh nhân thường kêu: "tôi không thở được"
hoặc "tôi cảm thấy là bị nghẹt thở".
- Bệnh nhân thường phải ngồi dậy để thở
- Bệnh nhân biểu hiện lo âu, hoảng hốt, bồn chồn
- Vật vã kích thích
- Giảm thị lực
- Trí nhớ giảm, có thể lẫn lộn
- Giảm trương lực và sự phối hợp của cơ
- Trong giai đoạn đầu: huyết áp, mạch và tấn số hô hấp tăng vì tim đập
tăng lên để đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể.
- Trong giai đoạn muộn: bệnh nhân có biểu hiện tím tái, thở dốc, rút làm co
kéo các cơ hô hấp. Huyết áp và mạch giảm. Mất khả năng vận động đi lại.
Xét nghiệm phân tích khí máu động mạch thấy PaCOa tăng PaO 2 giảm

2. Những điều cần lưu ý.
- Phải đảm bảo kỹ thuật vô khuẩn trong khi hút thông đường hô hấp dưới
cho bệnh nhân để tránh gây bội nhiễm cho người bệnh.
- Không được dùng chung ống thông, khay quả đậu, kẹp phẫu tích cho cả
hút đường hô hấp trên và dưới.


- Dụng cụ dùng để hút đường hô hấp trên và hút đường HÔ HẤP DƯỚI
PHẢI ÐỂ Ở NHỮNG khu vực riêng hoặc đánh dấu rõ ràng để tránh nhầm
lần khi sử dụng.

bình đựng, túi đựng và hệ thống kín ở trong tường.
Oxy được cung cấp từ bình đựng hoặc hệ thống tường là oxy khô. Khí khô
này làm mất nước của màng nhày hô hấp, vì vậy cần làm ẩm oxy trước khi
cho vào đường hô hấp của người bệnh, đặc biệt khi thể tích thở vào trên 2
lít/ phút.
Dụng cụ cung cấp oxy bao gồm ông thông mũi, canun mũi, mặt nạ, lều oxy,
ống chữ T hoặc vòng cổ dùng trong thông khí nhân tạo (nội khí quản hay
mở thông khí khí quản).
Ống thông mũi

Ống thông mũi là ống mềm dẻo và trơn láng, dài khoảng 40 cm. Đầu xa
của ống có nhiều lỗ hở nhỏ để oxy có thể thoát ra. Tốc độ bình thường của
dòng oxy qua ống mũi là từ 1 đến 6 lít/ phút. Fi02 từ 24% đến 40%. ống
thông mũi có thuận lợi là sẵn có cho bất kỳ người bệnh ở bất cứ độ tuổi


nào, rẻ tiền và dùng một lần. Tuy nhiên ống thông mũi có hạn chế trong sử
dụng vì gây ra tình trạng khó chịu cho người bệnh khi dùng, có thể dính
vào hốc mũi và làm khô miệng hầu. Liệu pháp này còn tốn nhiều thời gian.
Canun

Bao gồm một cái ống dài với hai nhánh 0,6 - 1,3cm cong mà cố định vào
trong hai lỗ mũi. Mỗi bên của ống nối với ống oxy cung cấp. Canun thường
được giữ cố định quanh đầu của người bệnh hoặc dưới cằm. Trừ khi
đường mũi bị nghẽn còn không thì canun sẽ cung cấp đủ oxy, ngay cả đối
với những người mà thở chủ yếu bằng miệng. Nó cung cấp nồng độ oxy
tương đối thấp (24 - 44%) ở thể tích 2-6 lít/ phút. Khi thể tích oxy trên 6 lít/
phút, người bệnh có khuynh hướng nuốt không khí và niêm mạc hầu dễ bị
kích thích. Ngoài ra hiệu số oxy thở vào không tăng.
Mặt nạ


Lều có thể dùng để thay thế mặt nạ khi người bệnh không thể dùng mặt nạ
được. Khi dùng lều để cung cấp oxy, nồng độ oxy thay đổi vì vậy, nó


thường được sử dụng để nối vối hệ thống Venturi. Lều cung cấp nồng độ
oxy khác nhau (ví dụ: 30 - 50% oxy ở thể tích 4 - 8 lít/phút).
Ống chữ T hoặc vòng cổ trong thông khí nhân tạo (nội khí quản hoặc
mở thông khí quản)
Đối vối thông khí nhân tạo, oxy cung cấp cần phải luôn luôn được làm ẩm
vì không đi qua đường thở thông thường là miệng và mũi. Hai dụng cụ
được sử dụng đế làm cung cấp oxy ẩm là ống chữ T hoặc vòng cổ trong
mở thông khí quản.
Ống chữ T là một thiết bị hình chữ T có một nhánh nội nguồn cung cấp oxy
với đường thông khí nhân tạo (nội khí quản hoặc mở thông khí quản).
Vòng cổ trong mở thông khí quản là một loại thiết bị có mặt cong với quai
có thể điều chỉnh cho phù hợp với cổ người bệnh. Có hai lỗ: một lỗ luôn
luôn mở ở phía người bệnh để thoát khí và một lỗ nối với nguồn oxy.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status