Các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư theo pháp luật việt nam hiện hành - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

CÁC BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH
VÀ BẢO ĐẢM ĐẦU TƯ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

HOÀNG THỊ THANH

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CÁC BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH
VÀ BẢO ĐẢM ĐẦU TƯ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

HOÀNG THỊ THANH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN MINH NGỌC


Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH
VÀ BẢO ĐẢM ĐẦU TƯ ....................................................................................... 5
1.1. Khái niệm đầu tư, các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư ............ 5
1.1.1. Khái niệm đầu tư ................................................................................... 5
1.1.2. Các biện pháp bảo đảm đầu tư .............................................................. 6
1.1.3. Các biện pháp khuyến khích đầu tư ....................................................... 7
1.2. Vai trò của các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư........................ 8
1.3. Tác động tiêu cực của các biện pháp khuyến khích đầu tư ........................ 10
1.4. Hệ thống pháp luật về các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư
tại Việt Nam ......................................................................................................... 13
1.4.1. Giai đoạn trước khi ban hành luật đầu tư 2005 ................................... 13
1.4.2. Giai đoạn từ khi có Luật Đầu tư 2005 đến nay .................................... 16
1.4.3. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia ..................... 17
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN KHÍCH VÀ BẢO
ĐẢM ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM ........................................................................ 24
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về khuyến khích đầu tư ........................... 24
2.1.1. Quy định về ưu đãi đầu tư ................................................................... 24
2.1.2. Quy định về hỗ trợ đầu tư .................................................................... 34
2.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm đầu tư ................................... 38


2.2.1. Bảo đảm vốn và tài sản cho nhà đầu tư ............................................... 38
2.2.2. Bảo đảm quyền chuyển vốn và tài sản của nhà đầu tư nước ngoài....... 44

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
Association of Southeast Asian Nations:
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Bilateral Investment Treaties: Hiệp định đầu tư song phương

BLDS

Bộ luật dân sự

CP

Chính phủ

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

FDI

Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FPI

Foreign Portfolio Investment: Đầu tư gián tiếp nước ngoài

FTA

IMF

Free Trade Agreement: Hiệp định thương mại tự do

WTO

World Trade Organization: Tổ chức Thương mại Thế giới

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

APEC
ASEAN

GATS
ICSID

TPP
TRIMs


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội được đặt lên hàng đầu, cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia,
vấn đề làm sao thu hút đầu tư nước ngoài và phát huy mọi tiềm lực trong nước là
vấn đề sống còn của mỗi quốc gia. Xuất phát từ lợi ích cũng như vai trò của hoạt
động đầu tư mà mỗi quốc gia đều có chính sách thu hút đầu tư phù hợp nhằm
huy động lượng vốn đổ vào nền kinh tế nhiều nhất và mang lại hiệu quả cao. Vì
vậy, nhà nước với vai trò hoạch định và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội đã
sử dụng pháp luật, một công cụ hữu hiệu để thống nhất và định hướng cho hoạt
động đầu tư. Một môi trường đầu tư hấp dẫn ngoài yếu tố kinh tế còn các yếu tố
chính trị, pháp luật ổn định và đồng bộ. Do đó pháp luật luôn đóng một vai trò

trường và chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực
trạng và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Luận văn thạc sỹ
luật học năm 2007 của Phạm Thị Thu Huyền về “Quyền bình đẳng giữa các nhà
đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005.”;
Luận văn thạc sĩ luật học năm 2009 của Kiều Thị Thuỳ Linh về “Thực
trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm đầu tư của Việt Nam
theo quy định của WTO”; Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Long về “Thực trạng
pháp luật bảo đảm đầu tư tại Việt Nam” đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước, Học
viện Hành chính, Số 9/2009; Bài viết của tác giả Sông Thương về “Tăng cường
thu hút vốn FDI thiết thực và hiệu quả” đăng trên tạp chí công nghiệp, kinh tế và
quản lý, số 6/2012. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học trên chí tập
trung nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm đầu tư hoặc các biện pháp khuyến
khích đầu tư hoặc các vấn đề về đầu tư nói chung. Cơ sở pháp lý mà các tác giả sử
dụng để đánh giá, phân tích các vấn đề đều là những văn bản pháp luật cũ, đã hết
hiệu lực pháp lý. Đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách toàn diện và có hệ thống về các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư
theo pháp luật Việt Nam hiện hành.

2


3. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Xuất phát từ ý nghĩa của quá trình xây dựng và phát triển, góp phần vào sự
hoàn thiện của hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và các chính sách về khuyến
khích và bảo đảm đầu tư nói riêng, Tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài “Các biện
pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư theo pháp luật Việt Nam hiện hành”.
Để thực hiện được mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những
vấn đề sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật khuyến khích và bảo
đảm đầu tư.

Chương 1: Lý luận chung về các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật về khuyến khích và bảo đảm đầu tư tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về khuyến
khích và bảo đảm đầu tư tại Việt Nam.

4


Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHUYẾN
KHÍCH VÀ BẢO ĐẢM ĐẦU TƯ
1.1. Khái niệm đầu tư, các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư
1.1.1. Khái niệm đầu tư
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 2003 thì đầu
tư được hiểu là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính
toán hiệu quả kinh tế, xã hội. Đầu tư là một trong những yếu tố quyết định sự phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông qua hoạt động đầu tư, quốc gia có thể huy
động được nguồn lực trong và ngoài nước về vồn và công nghệ kỹ thuật… để đẩy
nhanh nền kinh tế của đất nước phát triển.
Như vậy, đầu tư được hiểu chính là việc bỏ vốn dưới một hình thức vào sản
xuất kinh doanh. Trên cơ sở tính toán đến lợi ích kinh tế, xã hội.
Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Còn dưới
góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và
cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận
hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác. Hoạt động đầu tư có thể có tính chất thương mại
hoặc phi thương mại.
Ở Việt Nam, trước khi ban hành Luật Đầu tư 2005 khái niệm đầu tư kinh
doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật. Trong thời

đầu tư tại Việt Nam” [33, tr.17].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, biện pháp bảo đảm đầu tư được hiểu là những
biện pháp mà pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của
các nhà đầu tư với mục đích kinh doanh. Nói cách khác các biện pháp bảo đảm đầu
tư chính là những cam kết của Nhà nước với các nhà đầu tư trước một số quyền lợi
cụ thể chính đáng của nhà đầu tư.
6


Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể nào về bảo
đảm đầu tư, nhưng dựa trên tinh thần của các văn bản pháp luật về đầu tư có liên
quan, có thể hiểu, bảo đảm đầu tư là các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền
và lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư
kinh doanh tại Việt Nam. Nói cách khác, bảo đảm đầu tư “chính là những cam kết
từ phía nhà nước tiếp nhận đầu tư với các chủ đầu tư về trách nhiệm của nhà nước
tiếp nhận đầu tư trước một số quyền lợi cụ thể của nhà đầu tư” [34, tr. 65-66]. Có
thể nói, các biện pháp bảo đảm đầu tư đã góp phần không nhỏ vào sự ổn định của
môi trường đầu tư, từ đó, tạo nên sự an tâm và vững tin cho các nhà đầu tư.
Để có thể nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trong nước cũng như ngoài
nước thì các quốc gia nhất định phải ban hành những quy định pháp luật có tính
chất hấp dẫn đầu tư. Một quốc gia có hệ thống pháp luật càng thống nhất và hoàn
thiện thì khả năng thu hút đầu tư của quốc gia đó càng cao. Các quy định của pháp
luật về đầu tư là sự thể hiện của quốc gia tiếp nhận đầu tư đối với các chủ đầu tư và
dự án đầu tư của họ. Trong đó, các quy định về bảo đảm đầu tư được coi như sự thể
hiện rõ nét nhất thiện ý của nhà nước tiếp nhận đầu tư.
1.1.3. Các biện pháp khuyến khích đầu tư
Dưới góc độ pháp lý, khuyến khích đầu tư được coi là một trong những
biện pháp thu hút vốn đầu tư có hiệu quả. Do đó, hầu hết các quốc gia trên thế
giới đã ban hành các văn bản pháp luật quy định về khuyến khích đầu tư như một
công cụ hữu hiệu để tạo lập môi trường đầu tư có sức cạnh tranh lớn trong lĩnh

khuyến khích vào bảo đảm đầu tư.
Dưới góc độ lý luận chung, bảo đảm đầu tư là một khái niệm rộng bao gồm
nhiều biện pháp do nhà nước đặt ra nhằm bảo đảm quyền, lợi ích thiết thực của các
nhà đầu tư. Trong đó quan trọng hơn cả là sự đảm bảo bằng pháp lý. Nhằm đảm bảo
sự ổn định về lợi ích, sự an toàn về vốn và lãi của các nhà đầu tư, tạo điều kiện cho
quá trình đầu tư có hiệu quả, đảm bảo lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho các
nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư tránh được những rủi ro về mặt lập pháp cũng như
sự thay đổi bất thường về mặt chính sách pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư đối

8


với các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Các biện pháp bảo đảm đầu tư do nhà
nước tiếp nhận đầu tư quy định được áp dụng đối với tất cả các dự án đầu tư, không
phân biệt về quy mô vốn, nguồn gốc vốn cũng như lĩnh vực và địa bàn đầu tư. Do
đó, mà các biện pháp bảo đảm đầu tư thường có tính ổn định, lâu dài. Nếu như các
biện pháp bảo đảm đầu tư tạo những cơ sở vững chắc để nhà đầu tư an tâm, tin
tưởng quyền lợi hợp pháp của mình sẽ được đảm bảo bởi những cam kết từ nước
tiếp nhận đầu tư thì các biện pháp khuyến khích đầu tư là những biện pháp do nhà
nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho
các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh
tế. Thông qua các biện pháp khuyến khích đầu tư, nước tiếp nhận ưu đãi đầu tư tạo
điều kiện ưu đãi thuận lợi để các nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cũng như
lĩnh vực đầu tư thích hợp và hưởng những ưu đãi nhất định. Tuy nhiên, đối với các
biện pháp khuyến khích đầu tư, các đối tượng được áp dụng không được trải đều
cho các nhà đầu tư mà chỉ áp dụng đối với các nhà đầu tư đáp ứng đủ các điều kiện
nhất định của pháp luật. Theo Luật Đầu tư năm 2005, 2014, các dự án đầu tư được
khuyến khích theo các lĩnh vực đầu tư và địa bàn đầu tư. Thông qua quy định này,
nhà nước có thể chủ động cơ cấu lại nền kinh tế theo định hướng của mình. Khi đầu
tư vào những lĩnh vực, địa bàn sẽ nhận được sự hỗ trợ đáng kể của Nhà nước. Như

hiệu, vũ khí cạnh tranh sắc bén của mỗi quốc gia trong việc cạnh tranh nhằm thu hút
nguồn vốn. Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế hiện nay, môi trường đầu tư
của các nước luôn được cải thiện, sự chênh lệch khá xa về khả năng cung cấp vốn
càng làm cho cuộc cạnh tranh thu hút vốn càng trở nên gay gắt. Do đó, mà quốc gia
nào có chế định đảm bảo đầu tư tốt cũng như chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn thì
khả năng thu hút vốn đầu tư của quốc gia đó càng cao.
1.3. Tác động tiêu cực của các biện pháp khuyến khích đầu tư
Không thể phủ nhận vai trò vô cùng quan trọng của các biện pháp khuyến
khích đầu tư trong việc thu hút vốn đầu tư nhằm phát triển đất nước. Tuy nhiên,
nhiều nghiên cứu cũng như thực tiễn đã chỉ ra những tác động tiêu cực đối với nước
tiếp nhận đầu tư trong quá trình thực thi chính sách và pháp luật về khuyến khích
đầu tư. Có thể chỉ ra một số tác động tiêu cực cơ bản sau đây:
Thứ nhất, áp dụng chính sách, pháp luật khuyến khích đầu tư quá mức, không
10


coi trọng chất lượng vốn đầu tư có thể ảnh hưởng lớn tới quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Thực tế cho thấy, các nước đang phát triển do nhu cầu về vốn rất lớn để phục
vụ cho quá trình phát triển kinh tế đất nước, đã thực thi các chính sách thu hút vốn
đầu tư kém chọn lọc, chấp nhận cả vốn đầu tư chất lượng thấp. Đó là vốn đầu tư đòi
hỏi sử dụng nhiều lao động phổ thông mà ít chú trọng tới việc sử dụng công nghệ
tiên tiến. Kết quả là, nền kinh tế có thể sẽ phát triển lệch lạc theo hướng sản xuất ra
những sản phẩm thô cao, giá trị thấp, sức cạnh tranh quốc tế kém. Mặt khác, do các
nhà đầu tư chỉ chú trọng tới những lĩnh vực sinh lời cao trong khi chi phí bỏ ra phải
thấp dẫn đến sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế, phân hóa sâu sắc giữa thành
thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược. Về lâu dài, chính sách thu hút vốn
đầu tư đại trà như vậy sẽ làm nền kinh tế trở nên lạc hậu, tăng trưởng rất kém.
Thứ hai, Ở một số quốc gia, nhằm chạy đua thành tích, đã xảy ra tình trạng
“xé rào” trong thu hút vốn đầu tư.

Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và an
sinh xã hội đã được thấy rõ ở các nước đang phát triển. Trung Quốc hiện đang trả
giá đắt về môi trường cho nhiều thập kỷ tăng trưởng kinh tế nóng với những chính
sách ưu đãi nhằm thu hút thật nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước. Mới đây rất
nhiều chuyên gia và người dân ở khu vực Hạ lưu sông Mê Kông đã lên tiếng cảnh
báo rằng việc Lào cho xây thủy điện Xayaburi với vốn đầu tư từ các nhà đầu tư
Thái Lan sẽ làm tuyệt diệt các loài cá trên dòng sông này ảnh hưởng nghiêm trọng
tới sinh thái khu vực cũng như ngành khai thác thủy sản trên sông, đồng thời gây lụt
lội cho các nước vùng hạ lưu.
Thứ năm, trong số những nhà đầu tư không phải là không có những nhà đầu
tư hoạt động vì mục đích chính trị nhằm âm mưu lật đổ hoặc làm suy yếu chính
quyền nước sở tại. Bài học từ Chi Lê năm 1973, NiCaRaGua, VeNeZuela những
năm gần đây, vẫn là những ví dụ điển hình cho sự can thiệp của các công ty nước
ngoài vào hoạt động, thậm chí là tồn tại của chính phủ các nước này.

12


1.4. Hệ thống pháp luật về các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư tại
Việt Nam
1.4.1. Giai đoạn trước khi ban hành luật đầu tư 2005
Xuất phát từ điều kiện kinh tế thời kỳ này, nhà nước ta rất cần thu hút đầu tư
nước ngoài để tăng tốc độ phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý kinh doanh của nhà đầu tư nước
ngoài. Trong quá trình xây dựng đường lối phát triển kinh tế của đất nước Đảng ta
đã có những chủ trương, chính sách và đường lối quan trọng trong việc mở cửa kinh
tế, khuyến khích và thừa nhận các hình thức đầu tư nước ngoài. Cụ thể, văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra
phương hướng để thúc đẩy và thu hút đầu tư nước ngoài như sau:
“Công bố chính sách và khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới

sửa đổi, bổ sung năm 2000 được ban hành vào thời kỳ mà Việt Nam đã thực sự
bước vào công cuộc đổi mới và có những bước tiến nhanh chóng về kinh tế nhằm
xứng bước hội nhập với thế giới. Các quy định về ưu đãi đầu tư ở các luật này đã có
nhiều điểm tiến bộ và hấp dẫn do mang nhiều yếu tố thực tế hơn và đã tháo gỡ một
số khó khăn vướng mắc cho các doanh nghiệp đang hoạt động, giảm dần một bước
sự khác biệt giữa doanh nghiệp đầu tư trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài. Tuy nhiên, vẫn còn một số trở ngại như: Hệ thống pháp luật chính sách chưa
ổn định, các lĩnh vực chưa nhất quán, đồng bộ. Danh mục lĩnh vực không cấp giấy
phép và cấp giấy phép có điều kiện của ta còn chung chung và quá rộng, do vậy độ
mở cửa của thị trường đầu tư còn hạn hẹp, hình thức đầu tư chưa đa dạng. Nhiều
vướng mắc trong quá trình triển khai hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của các
luật và quy định có tính chuyên ngành như lao động, đất đai, quản lý ngoại hối, chế
độ kế toán và kiểm toán, xuất nhập cảnh, thuế GTGT, thuế TNDN, thuế xuất nhập
khẩu, thi hành án; Các văn bản pháp luật chưa đồng bộ thậm chí còn mâu thuẫn,
chồng chéo nhau; Các nguyên tắc chống phân biệt đối xử và cam kết WTO chưa
được đảm bảo.

14


1.4.1.2. Pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong nước
Luật khuyến Luật Khuyến khích đầu tư tư nhân (1994) và luật sửa đổi, bổ
sung năm 1998 đã tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động đầu tư
trong nước. Đây là những văn bản luật đầu tiên điều chỉnh các quan hệ chủ yếu về
khuyến khích đầu tư trong nước ở nước ta, Luật Khuyến khích đầu tư tư nhân ra đời
bắt nguồn từ yêu cầu cuộc sống, sự xuất hiện của Luật đã đưa vào môi trường đầu
tư trong nước một yếu tố đảm bảo cho nền kinh tế thị trường có thể phát triển. Theo
những quy định của Luật này thì Chính phủ Việt Nam cam kết tài sản và vốn đầu tư
hợp pháp của nhà đầu tư Việt Nam không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.
Bên cạnh đó quy định đảm bảo đầu tư trong trường hợp thay đổi quy định của pháp

ngoài nước trong một thời kỳ nhất định khi Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển
hướng phát triển nền kinh tế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên,
khi nền kinh tế đất nước phát triển, sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
thì việc bảo hộ các nhà đầu tư trong nước theo cơ chế cũ tỏ ra không còn phù hợp.
Chính vì vậy nhằm tăng tốc nền kinh tế, Nghị quyết TW khóa IX đã khẳng định:
“Chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các
cam kết quốc tế đa phương, song phương nước ta đã ký và chuẩn bị tốt điều kiện để
sớm ra nhập WTO, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn
định thông thoáng, có tính cạnh tranh cao so với khu vực, tăng nhanh xuất khẩu và
thu hút mạnh đầu tư nước ngoài”.
Hoạt động cụ thể nhằm thực hiện chủ trương nói trên là xây dựng một Luật
đầu tư chung cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Việc ban hành Luật Đầu
tư 2005 và mới đây là Luật Đầu tư 2014, là đòi hỏi tất yếu khách quan của việc tiếp
tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, bắt nguồn từ chủ
trương đường lối của Đảng, từ thực tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và
cạnh tranh quốc tế nhằm huy động nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình
trạng lãnh phí các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài. Quan điểm và tư
tưởng chỉ đạo lớn nhất trong việc xây dựng Luật Đầu tư 2005 và 2014 là xóa bỏ các
phân biệt đối xử bất hợp lý giữa các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa
các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, tôn trọng quyền tự do kinh doanh, quyền
tự quyết trong quản lý của nhà đầu tư. Luật Đầu tư 2005 và 2014 cũng đổi mới một
16


cách cơ bản phương thức quản lý của Nhà nước với hoạt động đầu tư, hoạt động
kinh doanh theo hướng hạn chế sự can thiệp hành chính; tăng cường sự khuyến
khích, hỗ trợ hướng dẫn của Nhà nước và đảm bảo các điều kiện cho các nhà đầu
tư, các thương nhân; áp dụng các nguyên tắc MFN, NT theo cam kết tại các điều
ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết. Có thể nói Luật Đầu tư 2005 và được “nâng
cấp” thành Luật Đầu tư 2014 đã củng cố và hoàn chỉnh hơn những quy định cơ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status