BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG SẴN SÀNG ĐI HỌC
CHO TRẺ MẦM NON
MODULE 4
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
VÀ CÁC KỸ THUẬT SỬ DỤNG TRONG KIỂM ĐỊNH
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
(Dành cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non)
TÀI LIỆU BỔ TRỢ
1
MỤC LỤC
A. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ............................................................................ 3
B. MỤC TIÊU ....................................................................................................... 4
C. TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 4
D. CÁC HOẠT ĐỘNG ......................................................................................... 5
Hoạt động 1. Nghiên cứu định tính ............................................................... 5
Hoạt động 2. Kỹ thuật phỏng vấn ................................................................. 9
Hoạt động 3. Kỹ thuật quan sát ................................................................... 16
Hoạt động 4. Kỹ thuật thảo luận nhóm ....................................................... 19
2
A. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Trong các hoạt động đánh giá nói chung, hoạt động kiểm định chất lượng
giáo dục nói riêng, phương pháp nghiên cứu định tính thường được sử dụng để
đi học cho trẻ mầm non.
Đơn vị tổ chức thực hiện: Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học
cho trẻ mầm non.
B. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
- Hiểu được những vấn đề cơ bản về phương pháp nghiên cứu định tính;
- Phân biệt được phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp
nghiên cứu định lượng;
- Hiểu được những nội dung cơ bản về kỹ thuật phỏng vấn, kỹ thuật quan
sát và kỹ thuật thảo luận nhóm.
2. Về kỹ năng
- Biết cách sử dụng kỹ thuật phỏng vấn, kỹ thuật quan sát và kỹ thuật
thảo luận nhóm trong hoạt động tự đánh giá và đánh giá ngoài trường mầm non;
- Củng cố và phát triển kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng làm việc nhóm
và khả năng tư duy phản biện.
3. Về thái độ
Phát triển ý thức làm việc chủ động, tích cực, sáng tạo.
C. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào
tạo (2012), Tài liệu tập huấn tự đánh giá trường mầm non, Hà Nội.
2. Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào
tạo (2012), Tài liệu tập huấn đánh giá ngoài trường mầm non, Hà Nội.
3. Nguyễn Đại Dương (2012), “Một số vấn đề về tự đánh giá trường mầm
non”, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Nguyễn Đại Dương (2013), “Đánh giá ngoài trường mầm non”, Tạp chí
Giáo dục Mầm non, Số 2, Hà Nội.
4
mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó. Trong nghiên cứu
định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được
chuẩn bị trước nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những
thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập. Đó là một trong những đặc
điểm cơ bản của phương pháp định tính.
2. Nguồn gốc của các phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính được phát triển và sử dụng đầu tiên
trong các nghiên cứu nhân chủng học, một bộ môn của khoa học xã hội. Các nhà
nhân chủng học đi đến các cộng đồng mà họ muốn nghiên cứu và sống ở đó một
thời gian dài để quan sát người dân, tìm hiểu những nguyên nhân chi phối hành
vi ứng xử của họ. Để có được những thông tin sâu, các nhà nhân chủng học
thường sử dụng các kỹ thuật như phỏng vấn phi cấu trúc, thu thập lịch sử đời
sống, thảo luận nhóm. Ngày nay, các kỹ thuật đó được sử dụng rộng rãi không
chỉ trong phạm vi của nhân chủng học mà còn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
khác nhau.
3. Nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng là việc sử dụng các phương pháp khác nhau (chủ
yếu là thống kê) để lượng hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải các mối quan hệ
giữa các nhân tố (các biến) với nhau. Một ví dụ điển hình của phương pháp này
là điều tra định lượng. Điều tra định lượng cho phép suy luận thống kê từ kết
quả thu được ở các mẫu tương đối nhỏ để suy ra quần thể lớn hơn; nó cũng cho
phép đo lường và đánh giá mối liên quan giữa những biến số; tiến hành điều tra
khá dễ, triển khai nhanh chóng và kết quả thu được từ các cuộc điều tra tốt có
thể sử dụng để so sánh theo thời gian hoặc giữa các vùng. Tuy nhiên, điều tra có
một số nhược điểm và cần được sử dụng một cách thận trọng. Đáng lưu ý nhất là
những sai số không do chọn mẫu, ví dụ người được hỏi trả lời không đúng các
câu hỏi vì không nhớ hoặc do hiểu sai hoặc cố tình nói dối. Những nhược điểm
cơ bản nhất là:
thuần tuý định tính. Nếu thông tin thu thập từ phương pháp quan sát mà có thể
lượng hoá và được phân tích định lượng thì lúc đó phương pháp này sẽ được xếp
vào định lượng, còn khi thông tin không được lượng hoá và chỉ được phân tích
định tính thì nó sẽ được xếp vào nhóm định tính.
7
Phương pháp bảng hỏi soạn sẵn cũng như vậy, các câu hỏi mở trong bảng
hỏi soạn sẵn cũng có thể được dùng để phân tích định tính, trong khi những
thông tin từ phỏng vấn sâu lại có thể được sử dụng để phân tích định lượng.
Những ai biết sử dụng phần mềm xử lý các thông tin định tính đều biết rằng
phần mềm này cho phép thực hiện phép đếm trong các dữ liệu định tính và cho
chúng ta đầu ra là một bảng dữ liệu để có thể dùng để xử lý định lượng được.
4. Chọn mẫu trong nghiên cứu định tính
Vì không có đủ thời gian và nguồn lực để có thể phỏng vấn hoặc quan sát
từng cá nhân trong một tập thể có số lượng lớn, do đó phải tiến hành chọn mẫu
đại diện để nghiên cứu.
Có hai cách chọn mẫu chủ yếu:
4.1. Chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên
Chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên sẽ bảo đảm kết quả thu được mang tính đại
diện có ý nghĩa thống kê cho quần thể nghiên cứu mà từ đó mẫu được rút ra.
Mẫu chọn xác suất bao gồm các mẫu ngẫu nhiên đơn, mẫu ngẫu nhiên phân tầng
và mẫu chùm:
- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn: Cho phép khái quát hóa kết quả từ mẫu tới
quần thể nghiên cứu mà nó đại diện.
- Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hoặc mẫu chùm: Tăng mức độ tin cậy trong
việc đưa ra các khái quát hóa cho từng phân nhóm cụ thể hay từng vùng cụ thể.
4.2. Chọn mẫu không ngẫu nhiên hay chọn mẫu có mục đích
Chọn mẫu không ngẫu nhiên có thể có tính đại diện về mặt lý thuyết cho
quần thể nghiên cứu nếu sử dụng tối đa phạm vi và sự đa dạng của đối tượng
Hoạt động 2. Kỹ thuật phỏng vấn
Thảo luận về những nội dung sau:
1. Phỏng vấn là gì?
2. Có mấy loại phỏng vấn?
3. Phỏng vấn có những ưu điểm,nhược điểm gì?
4. Khi phỏng vấn cần lưu ý những vấn đề gì?
5. Thực hiện phỏng vấn sâu như thế nào?
Thông tin phản hồi
1. Khái niệm
9
Phỏng vấn là một kỹ thuật thu thập dữ liệu trong đó người hỏi đặt câu hỏi
bằng miệng cho người được phỏng vấn và người được phỏng vấn đáp lại bằng
miệng (Gliner và Morgan, 2000).
10
2. Các loại phỏng vấn
2.1. Phỏng vấn không cấu trúc
Phỏng vấn không cấu trúc là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất trong
nghiên cứu xã hội. Khi sử dụng kỹ thuật này người phỏng vấn phải nhớ một số
chủ đề cần phỏng vấn và có thể sử dụng một danh mục chủ đề để khỏi bỏ sót
trong khi phỏng vấn. Người phỏng vấn có thể chủ động thay đổi thứ tự của các
chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được phỏng vấn.
Phỏng vấn không cấu trúc giống như nói chuyện, làm cho người được
phỏng vấn cảm thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đề phỏng vấn. Điều
cốt yếu quyết định sự thành bại của phỏng vấn không cấu trúc là khả năng đặt
câu hỏi khơi gợi một cách có hiệu quả, tức là khả năng kích thích người trả lời
3.1. Ưu điểm của phỏng vấn
- Do người phỏng vấn và đối tượng khảo sát tiếp xúc trực tiếp với nhau
nên kỹ thuật phỏng vấn cho phép thu thập được những thông tin về thực tại cũng
như các thông tin về suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của đối tượng.
- Bằng kỹ thuật phỏng vấn, các thông tin thu được có chất lượng cao, tính
chân thực và độ tin cậy của thông tin có thể kiểm nghiệm được trong quá trình
phỏng vấn.
- Phỏng vấn trực tiếp có tính linh hoạt cao nên có thể thu được nhiều
thông tin, thậm chí cả những thông tin qua ngôn ngữ không lời.
3.2. Nhược điểm của phỏng vấn
Mặc dù có những ưu điểm vừa nêu, phỏng vấn cũng có bốn nhược điểm:
Thông tin thu thập từ phỏng vấn đã được sàng lọc qua lăng kính của người được
phỏng vấn; các cuộc phỏng vấn cùng diễn ra ở một địa điểm được quy định thay
vì là ở một bối cảnh tự nhiên; sự có mặt của người phỏng vấn có thể làm cho các
câu trả lời bị thiên vị; không phải ai cũng đều có khả năng diễn đạt và cảm nhận
như nhau.
4. Các điều cần lưu ý khi phỏng vấn
Berg (2001) có đưa ra “10 điều răn trong phỏng vấn”:
- Thiết lập mối quan hệ tốt với người được phỏng vấn;
- Bám chặt mục đích phỏng vấn;
12
- Đặt câu hỏi một cách tự nhiên;
- Tập trung lắng nghe và thể hiện sự thông cảm;
- Ăn mặc thích hợp;
- Phỏng vấn ở một địa điểm thoải mái;
- Khuyến khích người được phỏng vấn trả lời nhiều hơn một từ;
- Thể hiện sự tôn trọng đối với người được phỏng vấn;
- Bày tỏ lòng cảm kích đối với người được phỏng vấn;
- Cần tìm hiểu về ý nghĩa hơn là tần số.
Người thực hiện phỏng vấn sâu phải nắm rõ vấn đề nghiên cứu; được
huấn luyện tốt; có kinh nghiệm trong tiếp xúc với những người thuộc các
thành phần xã hội khác nhau. Họ cũng phải là người kiên nhẫn và biết lắng
nghe người khác.
Trong phỏng vấn sâu thường sử dụng các loại câu hỏi sau:
Câu hỏi mô tả: Yêu cầu đối tượng mô tả về sự kiện, người, địa điểm hay
kinh nghiệm của họ. Câu hỏi mô tả được sử dụng để bắt đầu cuộc phỏng vấn
làm cho đối tượng cảm thấy yên tâm vì tạo cho họ cảm giác chủ động.
Câu hỏi cơ cấu: Tìm hiểu xem đối tượng sắp xếp kiến thức của họ như
thế nào.
Câu hỏi đối lập: So sánh các sự kiện và trao đổi về ý nghĩa của các sự
kiện đó.
Câu hỏi về quan điểm: Tìm hiểu quá trình tư duy và phân tích của đối
tượng để biết họ nghĩ gì về những người nào đó, vấn đề, hay sự kiện nào đó.
Câu hỏi về cảm nhận: Tìm hiểu phản ứng tình cảm của đối tượng.
Câu hỏi về kiến thức: Tìm hiểu xem đối tượng thực sự có những thông tin
gì và quan điểm của họ về những điều đó.
Câu hỏi về cảm giác: Tìm hiểu về những gì mà đối tượng nhìn thấy,
nghe thấy và cảm thấy, ... Người được phỏng vấn mô tả về các tác động mà
họ là đối tượng.
Câu hỏi về tiểu sử: Tìm hiểu một số đặc điểm cá nhân của đối tượng.
5.2. Kỹ thuật phỏng vấn sâu
- Bắt đầu một cuộc phỏng vấn sâu:
14
Khẳng định với đối tượng về tính chất khuyết danh của cuộc phỏng vấn.
Giải thích tại sao bạn lại cho rằng ý kiến hay quan sát của họ về một chủ đề nào
Xác nhận: Hãy tỏ ra là bạn đã nắm được một số thông tin nào đó về chủ
đề của cuộc phỏng vấn để khiến đối tượng cởi mở hơn và đỡ áy náy hơn vì đã
tiết lộ thông tin.
- Nguyên tắc kết thúc phỏng vấn:
Giữ mối thiện cảm với đối tượng để có thể thực hiện được những cuộc
phỏng vấn sau;
Thể hiện thái độ biết ơn và trân trọng những thông tin mà đối tượng vừa
cung cấp.
- Một số cách để kết thúc cuộc phỏng vấn: nói rõ lý do kết thúc cuộc
phỏng vấn; đưa ra câu hỏi thông qua vấn đề đang nói tới; tóm tắt cuộc phỏng
vấn; nhận xét hoặc hỏi han các vấn đề cá nhân; biểu lộ bằng các cử chỉ; cảm ơn
và biểu lộ sự hài lòng.
- Những nguyên tắc cần tuân thủ:
Không làm điều gì bất lợi cho đối tượng bằng cách tiết lộ các thông tin mà
họ đã cung cấp cho bạn. Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt phải đặt lợi ích của
cộng đồng lên trên.
Đôi khi đối tượng trở nên rất cởi mở và sẵn sàng thổ lộ với bạn những
điều rất riêng tư, sau đó họ cảm thấy hối hận và lo lắng. Nếu thông tin đó không
cần thiết hãy khéo léo hướng câu chuyện sang hướng khác. Nếu đó là những
thông tin cần thiết thì trước khi kết thúc phỏng vấn hãy chuyển sang một chủ đề
khác nhẹ nhàng hơn để đối tượng không cảm thấy nặng nề.
Hoạt động 3. Kỹ thuật quan sát
Thảo luận về những nội dung sau:
1. Quan sát là gì?
2. Có mấy loại quan sát?
3. Quan sát có những ưu điểm, nhược điểm gì?
4. Các yêu cầu cần đạt khi quan sát là gì?
5.Thực hiện quan sát như thế nào?
Thông tin phản hồi
1. Khái niệm
Tuy nhiên, khi quan sát nên chú ý đến 2 nhược điểm là tính “chủ quan” (ảnh
hưởng của chủ quan người quan sát) và sự can thiệp (sự dàn dựng riêng cho việc
quan sát).
17
4. Các yêu cầu cần đạt khi quan sát
- Xác định rõ mục tiêu quan sát;
- Xác định rõ tiêu chí, hành vi cần quan sát;
- Xác định rõ thời điểm quan sát;
- Ghi chép đầy đủ những gì nhìn thấy vào phiếu quan sát;
- Nhất quán trong cách thức tiến hành quan sát.
5. Cách thực hiện quan sát
5.1. Chuẩn bị quan sát
- Xác định rõ vấn đề, nội dung, tiêu chí và mục đích;
- Thiết lập một chương trình, kế hoạch quan sát;
- Chọn thời gian, địa điểm, đối tượng quan sát;
- Chuẩn bị các công cụ hỗ trợ (phiếu ghi kết quả quan sát);
- Chuẩn bị các trang thiết bị hỗ trợ (máy quay camera, mấy ảnh,...);
- Chọn cách thức quan sát;
- Lập kế hoạch xử lý và phân tích kết quả quan sát.
5.2. Thực hiện quan sát trong đánh giá ngoài
Trong quá trình tự đánh giá, kỹ thuật quan sát rất ít được sử dụng để thu thập
thông tin. Quan sát được sử dụng rất phổ biến khi đoàn đánh giá ngoài đến
trường để thu thập thông tin.
Kỹ thuật quan sát sẽ rất hữu ích để:
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học;
- Đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên (thông qua dự giờ);
- Cung cấp thông tin định tính để bổ sung cho các thông tin định lượng trong
điều tra thu thập minh chứng để đánh giá các tiêu chí.
Thảo luận nhóm là quá trình chia sẻ, phản hồi thông tin trong nhóm nhằm
tăng cường sự hiểu biết của các thành viên trong nhóm về các vấn đề cụ thể để
đi đến thống nhất trong cách phân tích, nhận định, đánh giá.
Một nhóm thường bao gồm những thành viên có chung một số đặc điểm
nhất định, phù hợp với chủ đề cuộc thảo luận (cùng một trình độ học vấn, cùng
một độ tuổi, cùng một giới tính, cùng một lĩnh vực chuyên môn, cùng một vấn
đề quan tâm,...).
2. Các trường hợp cần sử dụng thảo luận nhóm
19
Có thể sử dụng thảo luận nhóm trong các trường hợp sau:
- Khi muốn tìm hiểu sự khác nhau về quan điểm giữa các thành viên trong
nhóm;
- Khi cần thông tin định tính bổ sung cho các thông tin định lượng để phân tích,
đánh giá;
- Khi muốn có nhiều ý kiến từ các thành viên của nhóm để bảo đảm tính khách
quan trong nhận định, đánh giá;
- Khi muốn chất vấn, phản biện về mức độ tin cậy, tính đầy đủ, tính pháp lý,...
của các minh chứng.
Để quyết định có sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm trong những trường hợp cụ
thể, cần nêu và trả lời những câu hỏi sau:
- Thảo luận nhóm có phải là hình thức thích hợp nhất để hiểu rõ hơn vấn đề này
hay không?
- Cỡ của nhóm như thế nào là thích hợp?
- Đối tượng tham gia thảo luận nhóm là ai?
- Chủ đề và mục đích của cuộc thảo luận nhóm là gì?
- Các phương tiện nghe nhìn hỗ trợ gồm những gì?
3. Ưu điểm và nhược điểm của thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm có những ưu điểm là:
máy tính, giấy bút, bảng,…);
- Lên kế hoạch về thời gian, địa điểm, đối tượng tham dự;
- Lên kế hoạch xử lý và phân tích kết quả sau buổi thảo luận nhóm.
4.3. Các đặc trưng của kỹ thuật thảo luận nhóm
- Mọi thành viên trong nhóm cần thống nhất chủ đề, mục đích;
- Mọi thành viên trong nhóm biết lắng nghe, chủ động bổ sung ý kiến, đặt câu
hỏi phỏng vấn, phản biện, có chính kiến. Các phân tích, nhận định,đánh giá đều phải
mang tính xây dựng;
- Tạo cơ hội cho mọi thành viên trong nhóm được trình bày ý kiến, quan điểm
cá nhân;
- Mỗi thành viên trong nhóm nên đặt mình ở các góc độ khác nhau để chia sẻ
quan điểm và luôn khách quan trong việc đưa ra các nhận định đánh giá;
- Mọi thành viên trong nhóm tôn trọng lẫn nhau, không áp đặt ý kiến/quan điểm
của mình cho nhóm;
21
- Không truy xét, không lảng tránh, không quy trách nhiệm.
5. Cách tổ chức thảo luận nhóm
5.1. Hình thành nhóm thảo luận
- Việc hình thành nhóm thảo luận phải dựa trên việc các thành viên nhóm
có cùng một mục tiêu chung hay cùng chia sẻ sự quan tâm đối với một vấn đề
nào đó.
- Nguyên tắc tổ chức hoạt động nhóm: Nhóm hoạt động cần có một nhóm
trưởng, một trợ lý nhóm trưởng sẵn sàng thay thế, đảm nhận công việc điều
hành nhóm khi nhóm trưởng vắng mặt; nguyên tắc hoạt động nhóm là nguyên
tắc tập trung dân chủ; việc sắp xếp, bố trí chỗ ngồi cũng rất quan trọng, nên bố
trí sao cho nhóm trưởng và các thành viên đều thấy mặt nhau, dễ dàng trao đổi
trực diện với nhau.
5.2. Lựa chọn vấn đề cần thảo luận
thông tin đa chiều nhưng cũng cần hướng vào trọng tâm, mục đích yêu cầu chủ
đề thảo luận, tránh nói lan man, dài dòng. Người chủ trì phải chuẩn bị đầy đủ
thông tin cho nhóm, có năng lực khái quát tổng hợp, kết luận những vấn đề
trong thảo luận nhóm. Người chủ trì cần tuyệt đối tránh hai xu hướng thường
xảy ra trong thảo luận nhóm: xu hướng độc thoại, độc diễn và xu hướng phát
biểu linh tinh, lan man. Cả hai xu hướng này đều tác động không nhỏ đến hiệu
quả hoạt động của nhóm và chất lượng trong thảo luận nhóm.
23