ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TUYẾT
TRƢƠNG THỊ NGỌC
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN CỪ
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận
văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trƣơng Thị Ngọc Tuyết
7.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài........................................................5
8.
Kết cấu của luận văn ..............................................................................6
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG....7
1.1.
Khái niệm, đặc điểm của chế độ tài sản chung của vợ chồng ...............7
1.1.1. Khái niệm..............................................................................................7
1.1.2. Đặc điểm chế độ tài sản chung của vợ chồng........................................9
1.2.
Ý nghĩa của việc xác định quan hệ tài sản của vợ chồng ................... 10
1.3.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế độ tài sản chung của vợ chồng.......... 13
1.4.
Sơ lược về chế độ tài sản chung của vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử ... 17
1.4.1. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ............................................ 17
1.4.2. Chế độ tài sản chung của vợ chồng ở nước ta từ sau cách mạng
vợ chồng.............................................................................................. 78
3.1.2. Thưc tiễn áp dung pháp luật về định giá tài sản chung của vợ c......... 81 hồng
3.1.3. Thưc tiễn ap dung pháp luật trong việc xác định nghĩa vụ tài sản
của vợ chồng ....................................................................................... 83
3.1.4. Thực tiễn áp dụng việc chia tài sản chung khi vợ hoặc chồng chết ............ 85
3.1.5. Thưc tiễn ap dung phap luâṭ trong viêc giai
̣ quyết tranh chấp nhà ở
và quyền sử dụng đất của vợ chồng.................................................... 87
3.2.
Kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản chung của vợ chồng
trong Luật HN&GĐ năm 2000 ........................................................... 90
3.2.1. Quy điṇ h về căn cứ xác điṇ h tài sản chung của vơ ̣ chồng.................. 90
3.2.2. Về việc định giá tài sản chung của vợ chồng ..................................... 93
3.2.3. Quy điṇ h về chia tai san chung của vơ ̣ chồng. ................................... 94 ̀ ̀
3.2.4. Quy điṇ h về xác điṇ h nghia vu ̣ tài sản của vơ ̣ chồng......................... 97
3.2.5. Về di chúc chung của vợ chồng.......................................................... 98
3.2.6. Về biện pháp quản lý tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc
chồng có yêu cầu xin ly hôn ............................................................... 99
3.2.7. Một số giải pháp khác ....................................................................... 100
KẾT LUẬN ................................................................................................ 102
DANH MUC TÀI LIÊU THAM KHẢO................................................. 104
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. BLDS
BLDS
7. Toà án nhân dân
TAND
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đinh từngàn xưa đãđươc coi lànền tảng của xãhôịvà cóvi ̣tri,,́vai
trò đăc biêṭ
̣ quan trong đối với sự tồn taị và phát triển của xã hôị . Trong mỗi
gia đinh , bên caṇ h đời sống tinh cảm , yêu thương lẫn nhau , các thành viên
không thể không quan t âm đến điều kiêṇ vâṭ chất vì đó là cơ sở kinh tế giúp
cho vơ ̣ chồng xây dưng cuôc sống
haṇ h phúc , đap ứng những nhu cầu về vâṭ
̣
chất lẫn tinh thần cho các thành viên trong gia đinh. Chính vì vậy, trong cac
bô ̣ luâṭ đầu tiên c ủa nước ta như Bộ luật Hồng Đức đời nhà Lê , Bô ̣ luâṭ Gia
Long đời nhà Nguyễn đã có nhiều quy điṇ h điều chinh cac quan hê p ̣ hap luâṭ
về HN&GĐ, trong đó chú trong đến quy điṇ h về chế đô ̣ tai san chung của vơ ̣ ̀ ̀
chồng. Những qu y điṇ h nay đã đươc cac nhà lam luâṭ kế thừa và phat triển
̣,́
theo từng giai đoaṇ lic ̣h sử và ngay cang hoan thiêṇ hơn.
Luâṭ HN&GĐ năm 2000 đã có nhiều quy điṇ h mới về chế đô ̣ tai san ̀ ̀
chung của vợ chồng tương đối cụ thể , phát huy được hiệu quả trong việc điều
chỉnh các quan hệ pháp luật về HN&GĐ, góp phần xây dựng và phát triển chế
đô ̣ HN&GĐ, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lơị ich hơp phap của
vơ, ̣ chồng và các thành viên khá c trong gia đinh . Tuy nhiên, trong điều kiện
kinh tế đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay , khi khối lượng tài
sản của vơ ̣ chồng tăng lên thì ý thức và tâm lý về quyền sở hữu đối với tài sản
để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, nghề nghiệp, kinh doanh, sinh hoạt cá
độ tài sản chung của vợ chồng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu chế độ tài sản chung của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000,
bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng; quyền và
nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung của vợ chồng; các trường hợp
cũng như nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của triết hoc Mac
- Lênin, theo đó, tồn tại xã hội quyết định ý
̣
thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối quan hệ biện chứng; pháp luật là một
bộ phận của kiến trúc thượng tầng, được hình thành từ cơ sở hạ tầng phù hợp.
Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về phần mình, xã hội
được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật. Ngoài ra, trong quá trình
nghiên cứu, đề tài còn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu đánh giá
chế độ tài sản chung của vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử ở nước ta;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn
đề liên quan đến chế độ tài sản chung của vợ chồng và khái quát những nội
dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn;
- P h ư ơ n g p h á p s o s á n h đ ượ c t h ự c h i ệ n n h ằ m t ì m h i ể u q u y đ ị n h c ủ a p h
á p l u ậ t h i ệ n h à n h v ớ i h ệ t h ố n g p h á p l u ậ t t r ư ớ c đ â y ở n ướ c t a c ũ n g n h ư pháp
luật của một số nước khác về chế độ tài sản chung của vợ chồng phù h ợ p v ớ i
đ i ề u k i ệ n k i n h t ế , v ă n h ó a , x ã h ộ i v à t ậ p q u á n g i a đ ì n h t r u yề n
thống Việt Nam;
4
5
Chúng tôi hy vọng rằng, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên
ngành luật. Đồng thời, những kiến nghị khoa học trong luận văn sẽ góp phần
hoàn thiện chế độ tài sản
chung của vợ chồng và giải quyết được những
vướng mắc , bất câp trong
viêc giai
̣ quyết những tranh chấp tai san của vơ ̣ ̀ ̀
̣
chồng hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về chế độ tài sản chung của vợ chồng
Chương 2: Nội dung của chế độ tài sản chung của vợ chồng theo quy
định của Luật HN&GĐ năm 2000
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ
tài sản chung của vợ chồng.
6
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
các giao dịch dân sự thì cách hiểu này là không phù hợp. Để hoàn thiện khái
niệm về tài sản, BLDS năm 2005 đã định nghĩa: "Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản" (Điều 163). Như vậy trên phương diện
pháp lý, tài sản đã được định nghĩa một cách đầy đủ và phù hợp hơn.
Xét về mặt lý thuyết, thu nhập hợp pháp người nào tạo ra hoặc có được
đều là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đó. Tuy nhiên, lý thuyết này
không thể áp dụng đối với quan hệ vợ chồng, bởi lẽ kể từ khi quan hệ vợ
chồng được xác lập, vợ chồng đều hướng đến một mục tiêu cùng nhau xây
dựng gia đình ấm no và hạnh phúc. Chính đặc điểm cơ bản này của gia đình tính cộng đồng- đòi hỏi cần phải có một chế độ đặc biệt để điều chỉnh quan hệ tài
sản của vợ chồng nhằm tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho gia đình được tồn tại và
phát triển.
Như vậy, có thể hiểu chế độ tài sản chung của vợ chồng là tổng hợp
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tài sản
chung của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản
chung, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, các trường hợp
và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng.
Chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định trong pháp luật như là
một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản chung của vợ chồng
mà trước hết là xuất phát từ tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân. Để đảm
bảo những nhu cầu thiết yếu của gia đình; thoả mãn những nhu cầu về vật chất
và tinh thần của vợ, chồng; để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ nhau; chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái… không thể không sử dụng đến nguồn tài sản
chung của vợ chồng. Do đó, pháp luật cần có những quy định rõ ràng, cụ thể
những tài sản nào được xếp vào khối tài sản chung của vợ
8
chồng; trường hợp nào thì vợ, chồng có quyền sử dụng tài sản chung của họ
để tham gia vào các quan hệ cũng như đối tượng tài sản nào được sử dụng
chồng không được xác định đối với tài sản chung. Vợ chồng cùng nhau tạo lập,
phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung không phụ thuộc
vào công sức đóng góp của vợ, chồng. Trong suốt thời kỳ hôn nhân, có thể do
điều kiện sức khỏe, nghề nghiệp dẫn đến thu nhập của mỗi bên vợ, chồng
nhiều, ít, có khi là không có thu nhập nhưng không có nghĩa là có sự khác
nhau về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung. Như vậy vợ,
chồng có quyền quản lý tài sản chung, cùng khai thác công dụng của tài sản
chung và cùng hưởng hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản chung, đồng thời các
giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng đều phải có sự thống
nhất ý chí của cả vợ và chồng. Tính chất hợp nhất này chỉ tồn tại trong suốt thời
kỳ hôn nhân, nếu trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không có thỏa thuận chia
toàn bộ khối tài sản chung.
- Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có những giới hạn
nhất định. Xuất phát từ lợi ích chung của gia đình, pháp luật quy định tài sản
chung của vợ chồng chỉ được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện
các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao
dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất
của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ
chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ trường hợp tài sản chung đã được chia trong thời
kỳ hôn nhân.
1.2. Ý nghĩa của việc xác định quan hệ tài sản của vợ chồng
H a i n g ườ i n a m n ữ k h i c h ưa b ướ c v à o h ô n n h â n , h ọ l à n h ữn g n g ườ i
có tài sản riêng, hoàn toàn tự do trong việc định đoạt tài sản của mình n h ư n g
k h i b ư ớ c v à o h ô n n h â n , đ i ề u đ ó đ ã k h á c . Tr o n g t h ờ i k ì h ô n n h â n , h a i n g ư ờ i p
h ả i r à n g b u ộ c v ớ i n h a u b ở i r ấ t n h i ề u b ổ n p h ậ n , n g h ĩ a v ụ v à q u yề n
10
được đặt lên hàng đầu, kể cả trong các giao dịch liên quan đến tài sản riêng
của mình. Điều này được thể hiện rất rõ trong Khoản 5 Điều 33 Luật
HN&GĐ năm 2000: "Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã
được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn
sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả
thuận của cả vợ chồng".
- Chế độ tài sản chung của vợ chồng nhằm bảo đảm quyền lợi của g i a đ
ì n h , t ro n g đ ó có l ợi í ch c á n h ân c ủ a v ợ , ch ồ n g v à c ủ a n g ười t h ứ b a tham
gia vào các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Những quy
định của pháp luật về quan hệ tài sản của vợ chồng trước hết là b ả o v ệ q u yề n
l ợ i c ủ a g i a đ ì n h , q u a đ ó d u y t rì v à p h át t ri ể n g i a đ ì n h b ề n v ữ n g v à đ ả m b ả
o ổ n đ ị n h x ã h ộ i . Đó l à n h ữ n g l ợ i í c h v ề v ậ t c h ấ t đ ư ợ c t h ự c hiện trong các
quyền về quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng, quyền về c ấ p d ư ỡ n g g i ữ a v ợ
v à c h ồ n g , v à q u y ề n t h ừ a k ế t à i s ả n c ủ a n h a u g i ữa v ợ v à chồng. Trong một số
trường hợp, chế độ tài sản chung của vợ chồng còn b ả o v ệ q u yề n v à l ợ i í ch h
ợ p p h áp c ủ a n g ư ờ i t h ứ b a t h a m g i a v ào cá c g i ao dịch liên quan đến tài sản
chung của vợ chồng (như tham gia vào các giao dịch dân sự hoặc bồi thường
thiệt hại…).
- Xuất phát từ tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân cũng như sự
chi phối bởi tình cảm giữa vợ và chồng mà khi "cơm lành, canh ngọt", thì ranh
giới giữa tài sản chung, tài sản riêng không mấy quan trọng, thậm chí nhiều cặp
vợ chồng còn xóa nhòa ranh giới này. Vợ chồng cùng nhau quản lý, sử dụng,
định đoạt tài sản trong gia đình. Nhưng khi quan hệ vợ chồng phát sinh những
mâu thuẫn gay gắt thì vấn đề được nhắc đến nhiều nhất là vấn đề tài sản. Vì
vậy, xác định quyền sở hữu đối với tài sản chung vợ chồng là điều kiện cần
thiết để bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, tránh những mâu
thuẫn xảy ra làm tổn thương đến tình cảm và sự đoàn kết trong gia đình.
12
13
Nhận thức được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta
luôn chú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc qua
việc ban hành, hoàn thiện các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ
HN&GĐ cho phù hợp với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là các chế định liên
quan đến tài sản, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng.
Xuất phát từ nguyên lý của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin thì tồn tại xã
hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, theo đó, tồn tại xã hội quyết định ý
thức xã hội và ngược lại, nếu ý thức xã hội phản ánh đúng tồn tại xã hội thì nó sẽ
định hướng đúng cho con người trong cải tạo hiện thực; nếu ý thức xã hội phản
ánh không đúng tồn tại xã hội, thì nó sẽ làm cản trở quá trình cải tạo hiện thực
của con người. Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, được hình
thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp. Nếu pháp luật phù hợp với sự phát triển
của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình
thực hiện pháp luật, từ đó, tạo cơ sở cho sự ổn định và phát triển của xã hội.
Trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, bản chất của chế độ xã
hội, cùng với các yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội chính là cơ sở lý
luận và thực tiễn để Nhà nước xây dựng chế độ tài sản chung của vợ chồng.
Tương ứng với mỗi chế độ xã hội cụ thể là một chế độ HN&GĐ do Nhà nước quy
định (trong đó chế độ tài sản chung của vợ chồng được thể hiện rõ nét nhất). Ở
thời kỳ phong kiến, khi mà xã hội có sự đối kháng giai cấp, chế độ người bóc
lột người cùng với tư tưởng "trọng nam khinh nữ" được thừa nhận, thì các quan
hệ HN&GĐ, quan hệ giữa vợ và chồng cũng phản ánh sự bất công, bất bình
đẳng giữa vợ chồng. Trong gia đình, vợ phụ thuộc chồng về mọi phương diện,
người chồng là "gia trưởng", người vợ là "nô lệ" trong gia đình. Điều 96 Bộ
Dân luật Bắc kỳ năm 1931 quy định: "chồng là người chủ
khăn.
16
Mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho quan hệ hôn nhân ngày
càng phức tạp, các vụ ly hôn ngày càng tăng, trong các án kiện ly hôn tập
trung chủ yếu ở các tranh chấp về tài sản. Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề xác
định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của vợ
chồng, của người thứ ba tham gia các giao dịch với vợ chồng mà còn ổn định
đời sống gia đình, góp phần ổn định các quan hệ xã hội khác, thúc đẩy kinh tế
xã hội ngày càng phát triển.
Nhà làm luật, ngoài việc căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội để xây
dựng chế độ tài sản chung của vợ chồng còn phải xem xét đến phong tục, tập
quán và đạo đức xã hội. Bởi lẽ, nội dung của phong tục, tập quán chủ yếu tập
trung vào các lĩnh vực chính của đời sống xã hội, trong đó có các quan hệ
HN&GĐ. Đồng thời, đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó có tác
động chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ với người
khác, với cộng đồng và với chính mình nên nó có ảnh hưởng lớn đến các hành vi
trong quan hệ HN&GĐ. Chính vì vậy, ngay trong lời nói đầu của Luật
HN&GĐ Việt Nam năm 2000 đã quy định về việc "giữ gìn và phát huy truyền
thống và những phong tục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong
tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ". Các quy tắc, xử sự của đạo đức, phong tục,
tập quán được cụ thể hóa trong pháp luật sẽ tạo điều kiện cho pháp luật dễ dàng
thực hiện trên thực tế, góp phần quan trọng vào củng cố, duy trì, phát triển gia
đình bền vững; giữ gìn, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu
cực. Trong trường hợp này, phong tục, tập quán, đạo đức tốt đẹp trở thành cầu
nối tạo ra môi trường thuận lợi cho pháp luật đi vào cuộc sống.
1.4. Sơ lƣợc về chế độ tài sản chung của vợ chồng qua các thời kỳ
lịch sử
một bên vợ hoặc chồng chết trước mà không có con chung.
Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, quy định trong Bộ luật
Hồng Đức đời nhà Lê có sự bình đẳng hơn so với quy định trong Hoàng Việt
luật lệ đời nhà Nguyễn về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản
chung. Về nguyên tắc, cả hai văn bản đều quy định tài sản chung do
18
người chồng quản lý, sử dụng vì mục đích gia đình nhưng theo pháp luật nhà
Lê, người vợ cũng tham gia vào việc quản lý, sử dụng tài sản chung nhưng ở
mức độ hạn chế. Cụ thể là người vợ được tham gia vào việc quản lý tài sản
chung của vợ chồng; người vợ được tự do hành động trong các nhu cầu gia vụ
bảo đảm đời sống chung của gia đình, sự đồng ý của người chồng trong
trường hợp này là mặc nhiên; ngoài ra, trong trường hợp mua bán, cầm cố tài
sản là "điền sản" thì trong văn tự bắt buộc phải có chữ ký của cả hai vợ
chồng, hoặc trong trường hợp người chồng sử dụng tài sản chung không bảo
đảm quyền lợi của các con và lợi ích của gia đình thì người vợ có quyền phản
đối. Còn trong Hoàng Việt luật lệ thì người vợ hoàn toàn vô năng lực và đặt
dưới quyền của chồng, tất cả tài sản trong gia đình bao gồm cả tài sản riêng của
vợ và của chồng đều hợp thành một khối duy nhất thuộc quyền quản lý của
người chồng.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật về HN&GĐ ở Việt Nam mang
đậm dấu ấn của BLDS Napoléon. Cùng với chính sách "chia để trị", thực dân
Pháp đã tiến hành chia nước ta làm ba miền và mỗi miền ban hành và áp dụng
các bộ luật riêng để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, trong đó có chế độ tài
sản chung của vợ chồng:
- Bắc kỳ áp dụng BLDS năm 1931 (Dân luật Bắc kỳ);
- Trung kỳ áp dụng BLDS năm 1936 (Dân luật Trung kỳ); Nam kỳ áp dụng Tập Dân luật giản yếu năm 1883.
Trong thời kỳ này, pháp luật về HN&GĐ thực ra chỉ là công cụ pháp lý
của nhà nước thực dân phong kiến nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của giai
Ngoài ra, BLDS Bắc kỳ và BLDS Trung kỳ cũng đã có các quy định về
nghĩa vụ tài sản trong gia đình. Theo đó, tất cả các khoản nợ của người chồng,
không phân biệt là nhằm mục đích gì hoặc do phạm pháp gây ra trước khi kết
hôn hoặc sau khi kết hôn đều phải coi là nợ của vợ chồng. Tuy nhiên nợ của
vợ chỉ được coi là nợ chung khi vợ vay với tư cách là đại diện cho đoàn thể
20