xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là quan điểm tư tưởng nhất quán của chủ tịch hồ chí minh”, - Pdf 36

PHỤ LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………….3
NỘI DUNG…………………………………………………………………………...4
I, CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ
NƯỚC……………………………………………………………………….………..4
1. Cơ sở hình thành……………………………………………………….….4
2. Quá trình hình thành……………………………………………………...5
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC…7
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước của dân, do dân, vì dân……..7
1.1 Nhà nước của dân………………………………………………….8
1.2 Nhà nước do dân…………………………………………………...9
1.3 Nhà nước vì dân……………………………………………………9
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất của giai cấp công
nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước……………………..............10
2.1 Về Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước…………………..10
2.2 Bản chất gia cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân
tộc của nhà nước………………………………………………………………12
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý
mạnh mẽ……………………………………………………………………….………13
3.1 Xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến…………………..………….14
3.2 Hoạt động quản lý nhà nước bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa
pháp luật vào cuộc sống…………………………………………………….…………15
3.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đủ đức và tài......................................16
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt
động có hiệu quả…………………………………………………………..………….19
4.1 Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức……….….19

1



dân, vì dân là bước phát triển mới và sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa Việt Nam, tinh hoa văn
hóa phương Đông và phương Tây

3


NỘI DUNG
I, CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ NHÀ NƯỚC
1. Cơ sở hình thành
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy
được biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước và được phản ánh trong
các bộ sử lớn của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chượng loại
chí…, trong những bộ luật nổi tiếng như Bộ luật Hồng Đức(đời Lê), Quốc triều
hình luật (đời Trần)…mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luật nổi tiếng
ở phương Đông, trong đó có những tư tưởng còn được đề cập đến sớm hơn cả
phương Tây, như vấn đề bình đẳng đối với phụ nữ: cho phép ly hôn, có quyền thừa
kế tài sản, công nhận công lao chung của vợ chồng trong vấn đề tài sản, cho phép
nhận con nuôi,…
Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến hưng thịnh
trong lịch sử dân tộc cùng với hình ảnh về nhà nước “vua Nghiêu, vua Thuấn”,
“nước lấy dân làm gốc” tiếp thu được ở Nho giáo…là những hành trang đầu tiên
Hồ Chí Minh mang theo trên con đường cứu nước và tìm kiếm một mô hình nhà
nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập.

Năm 1919, nhân danh

một nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, Người đã
gửi đến Hội nghị Véc xây bản “yêu sách của nhân dân An Nam” đòi các quyền tự
do tối thiểu cho dân tộc mình.

Năm 1930, trong Chính cương vắn tắt, lần đầu tiên Người nêu nên mục tiêu
“dựng ra chính quyền công nông binh”

5


Đến năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng và đã
chủ trì Hội nghị Trung ương 8(tháng 5/1941), hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược và sách lược, đề ra Chương trình Việt Minh. Về vấn đề chính quyền. Hội
nghị chủ trương “không nên nói công nông liên hợp và lập chính quyền xô viết, mà
phải nói toàn thể nhân dân liên hiệp và lập chính phủ công hòa”, chương trình Việt
Minh cũng đã ghi rõ “ Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật sẽ thành lập một
chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng
năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc gia đại hội cử ra”.
Khi thời cơ giải phóng dân tộc tới gần, trong thư gửi đồng bào toàn quốc
tháng 10/1944, Hồ Chí Minh cũng nói rõ: Trước hết cần có một chính phủ đại biểu
cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân, gồm tất cả
các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. “Một cơ cấu
như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến
quốc ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”….
Sang đến năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng được
mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn,
Hà Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một số vùng ngoại vi thuộc các tỉnh Bắc
Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái…
Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị thành lập Khu giải phóng, cử ra
Ủy ban chi ủy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng. Tại các
địa phương trong khu giải phóng, các ủy ban nhân dân cách mạng cũng được thành
lập, do nhân dân cử ra, để thi hành chính sách của Việt Minh. Khu giải phóng là
hình ảnh “nước Việt Ma mới phôi thai”, “các ủy ban nhân dân cách mạng vừa lãnh
đạo nhân dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa, vừa tập cho nhân dân cầm chính quyền”.

cơ bản nhất của Hồ Chí Minh về nhà nước. Hiến pháp 1946 đã ghi: Tất cả quyền
bính trong nước đều là của toàn thể nhân dân. Nhân dân có quyền làm chủ kinh tế,
7


chính trị, văn hóa. Nhân dân bầu đại biểu của mình họp thành quốc hội – cơ quan
thể hiện quyền lực cao nhất của nhân dân. Nhân dân có quyền ứng cử và đề cử
người vào quốc hội và các cơ quan nhà nước. Nhân dân có quyền kiểm soát, giám
sát đại biểu quốc hội. Nhân dân cơ quyền bãi miễn những đại biểu quốc hội và đại
biểu hội đồng nhân dân các cấp nếu đại biểu đó không làm tròn nhiệm vụ mà nhân
dân ủy nhiệm.
1.1 Nhà nước của dân
Trong Điều 1 Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn
thảo đã khẳng định rõ rằng: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân
Việt Nam, không phan biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hay
trong Điều 32 của Hiến pháp đó cũng quy định “Những việc quan hệ đến vận mệnh
quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”. Thực chất đây chính là chế độ trưng cầu
dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp được đề ra khá sớm ở nước ta.
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân ta đã ủy quyền cho các đại diện
do minh bầu ra, đồng thời “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu quốc hội và đại
biểu hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín
nhiệm của nhân dân”.
Trong nhà nước của dân thì dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền
dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa
vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được
các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Cũng trên ý nghĩa
đó, các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là “công
bộc” của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.
Song đã có những “vị đại diện” đã nhầm lẫn sự ủy nhiệm đó với quyền lực
cá nhân, sinh ra lộng quyền, cửa quyền…Chính cơn khát cửa quyền đã đẻ ra biết



đó chỉ là một thiện chí hay một chiêu bài, bởi vì cái cơ bản là nếu chính quyền đó
không của nhân dân và không do nhân dân làm chủ mà do các ông quan làm chủ thì
không bao giờ có thể được vì dân được.
Một nhà nước vì dân, theo quan điểm của Hồ Chí Minh còn là từ Chủ tịch
nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho nhân dân
chứ không phải “làm quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Cho nên đối
với chức vụ Chủ tịch nước của mình, Hồ Chí Minh cũng quan niệm là do dân ủy
thác cho và như vậy phải phục vụ nhân dân, tức là làm đầy tớ cho nhân dân.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất của giai cấp
công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa
yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự thống nhất
đõ cũng được thể hiện rõ trong tư tưởng của Người về Nhà nước.
2.1 Về Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước.
Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại khi giai cấp và đấu
tranh giai cấp xuất hiện. Do đó, nhà nước là sản phẩm tất yếu của một xã hội có
giai cấp, nó bao giờ cũng mang bản chất một giai cấp nhất định, không có một nhà
nước nào phi giai cấp, không có nhà nước đứng trên giai cấp. Như vậy, không phải
lịch sử nhân loại xuất hiện là có ngay nhà nước và nhà nước không phải tồn tại mãi
mãi.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được
coi là nhà nước của dân, do dân, vì dân nhưng không có nghĩa đó là nhà nước phi
giai cấp hay siêu cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tính chất nhà nước là vấn đề cơ
bản của Hiến pháp. Đó là vấn đề nội dung giai cấp của chính quyền. Chính quyền
về tay ai và phục vụ quyền lợi của ai? Điều đó quyết định toàn bộ nội dung của
10



tiến”. Điều này đã được thể hiện trong quan điểm của Hồ Chí Minh ngay từ khi
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời.
Ba là: Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta còn được thể hiện ở
nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hồ Chí Minh rất chú ý đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả
bộ máy, cơ quan nhà nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ Trung ương
và các cơ quan khác của nhà nước đều phải hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ. Người nhấn mạnh đến phát huy cao độ dân chủ, đồng thời phát huy cao độ
tập trung, Nhà nước phải tập trung thống nhất quyền lực để tất cả mọi quyền lực
vào tay nhân dân. “Nhà nước ta phải phát huy dân chủ đến cao độ…có phát huy
dan chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách
mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân
dân xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
2.2 Bản chất gia cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân
tộc của nhà nước.
Hồ Chí Minh là người giải quyết rất thành công mối quan hệ giữa các vấn đề
giai cấp dân tộc trong xây dựng Nhf nước Việt Nam mới. Người đã giải quyết hài
hòa, thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân, tính dân tộc và điều đó
được biểu hiện rõ trong những quan điểm sau của Người:
Thứ nhất là, Nhà nước dân chủ mới của ta ra đời là kết quả của cuộc đấu
tranh lâu dài gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thế hệ cách mạng.
Cuối thế kỷ XIX dầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam rơi vào khủng hoảng
đường lối cách mạng. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống thực dân Pháp của
dân tộc ta, tiêu biểu là là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các nhà cách
mạng tiền bối rất oanh liệt như phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân đến Cao
trào Xô viết Nghệ Tĩnh và bao cuộc khởi nghĩa yêu nước khác, đã tô thắm cho
12


truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc nhưng độc lập tự do cho

người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố
và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam”.
Sau này khi trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí
Minh càng quan tâm sâu sắc hơn việc xây dựng và điều hành Nhà nước một cách
có hiệu quả bằng pháp quyền. Một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ được Hồ
Chí Minh chú ý xây dựng.
3.1 Xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ,
trước hết phải là một nhà nước hợp hiến.
Sau khi giành được chính quyền trong cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân
đồng bào và với thế giới về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam mới, qua đó biểu
dương lực lượng và ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm giữ vững nền
độc lập tự do của mình. Và chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập,
trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức
Tổng tuyển cử càng sớm càng tốt để lập Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các
cơ quan, bộ máy chính thức khác của Nhà nước mới.
Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành thắng loiwjj ngày 06/01/1946 với chế độ
phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Và lần đầu tiên trong lịch sử hàng
nghìn năm của dân tộc Việt Nam cũng như lần đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tất cả
mọi người dân tử 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc,
đảng phái, tôn giáo…đều đi bỏ phiếu bầu những đại biểu của mình tham gia Quốc
hội. Ngày 02/03/1946 Quốc hội Khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã họp
phiên đầu tiên lập ra các tổ chức, bộ máy và các chức vụ chính thức của Nhà nước.
14


Hồ Chí Minh được bầu làm chủ tịch Chính phủ liên hiệp đầu tiên. Đây chính là
chính phủ có đầy đủ tư cách pháp lý để giải quyết một cach có hiệu quả những vấn
đề đối nội và đối ngoại ở nước ta.

dân, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công
dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước, khắc phục mọi
thứ dân chủ hình thức. Làm tốt nghĩa vụ công dân cũng là thực hiện nghĩa vụ của
mình đối với nhà nước, biết thực hành dân chủ.
Trong việc thực thi Hiến pháp và pháp luật, Hồ Chí Minh bao giờ cũng chú ý
bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu lực của chúng. Người rất không hài lòng trước
việc pháp luật của ta không được thực hiện nghiêm minh, xét xử thiếu công bằng
“thưởng có khi quá rộng mà phạt thì khong nghiêm”, lẫn lộn giữa công và tội. Có
công thì được thưởng, có lỗi thì phải phạt, “không vì công mà quên lỗi, vì lỗi mà
quên công”. Để thực hiện được điều đó đòi hỏi pháp luật phải đúng, phải đủ, phải
tăng cường công tác tuyên truyền,, giáo dục pháp luật cho mọi người dân và người
thực thi pháp luật phai thực sự công tâm và nghiêm minh, bảo đảm cho luật pháp
trỏ thành cán cân công lý đối với tất cả mọi người, không có một trường hợp ngoại
lệ nào, bất kỳ ai vi phạm pháp luật cũng đều bị trừng trị nghiêm khắc, đúng người,
đúng tội.
3.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đủ đức và tài.
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực chủ tịch Hồ Chí
Minh đã thấy rõ phải nhanh chóng đào tạo bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ
cán bộ viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo
nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư, một tiêu chuẩn của người cầm cân nẩy mực cho công lý.
16


Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức.
Người coi cán bộ nói chung “là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công
hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Bởi xét tới cùng cán bộ luôn là cái gốc của
mọi công việc. Do đó, việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, đặc
biệt biết sử dụng nhân tài "vừa hồng vừa chuyên" là một khâu quan trọng để hoàn
thiện bộ máy nhà nước, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang xây dựng Nhà nước

còn nhấn mạnh, phải chống bệnh tham ô lãng phí, quan liêu, phải luôn luôn gần
dân, hiểu dân và vì dân. Cán bộ, công chức xa dân, hách dịch, cửa quyền… đối với
nhân dân đều dẫn đến nguy cơ làm suy yếu nhà nước, thâm trí biến chất nhà nước
vì đã vi phạm một điều có tính chất cốt tử của cấu tạo quyền lực nhà nước là tất cả
mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Bốn là, cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết
đoán, dám chịu trách nhiệm nhất là trong những tình huống khó khăn, “thắng
không kiêu, bại không nản”.
Đó là những người có ý thức sẵn sàng làm “công bộc” làm “đày tớ” cho dân,
những người cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư, làm việc với tinh thần đầy sáng
tạo. Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, công chức phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức cách mạng, luôn luôn có “trí tiến thủ” luôn luôn học tập để nâng cao trình độ
về mọi mặt trong mọi mối quan hệ, mọi lĩnh vực.
Năm là, phải thường xuên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức hành
động vì sự lớn mạnh trong sạch của nhà nước
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh bộ máy nhà nước cần gọn nhẹ, có hiệu
lực, phù hợp với từng giai đoạn để phục vụ đắc lực cho mục tiêu hoạt động của nhà
nước, tất cả vì sự phát triển của đất nước, vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân,
không vì lợi ích của cá nhân nào. Chức vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trong

18


bộ mày nhà nước là do nhân dân ủy thác, ủy quyền để làm việc cho ích quốc lợi
dân, không vì chủ nghĩa cá nhân.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh,
hoạt động có hiệu quả.
Ngay từ những ngày đầu mới có chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan
tâm để ý tới vấn đề làm thế nào để xây dựng một nhà nước cách mạng trong sạch,
vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, đấu tranh khắc phục những căn bệnh cố hữu

Tình trạng tiêu cực trong đời sống pháp luật ở nước ta hiện nay có một phần
là do hệ thóng pháp luật của ta thiếu đồng bộ, một phần nữa là do thi hành không
nghiêm. Nhưng dù sau này hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đến đâu, việc thi hành
vẫn không thể tốt nếu tăng cường pháp luật không đi liền với thường xuyên giáo
dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ nhà nước, trước nhất là những người giữ chức
năng bảo vệ pháp luật.
Qua đay có thể nhận thấy, chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lập pháp đồng
thời là một nhà hành pháp vĩ đại. Tư tưởng ucar Người về sự kết hợp thống nhất,
biện chứng giữa giáo dục đạo đức và tăng cường pháp luật cần được chúng ta kế
thừa và phát huy trên con đường xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ
trong sạch, vững mạnh, có hiệu quả.
4.2 Kiên quyết chống ba thứ giặc “giặc nội xâm” là tham ô, lãng phí, quan
liêu
Sức mạnh, hiệu quả của nhà nước một mặt dựa vào tình nghiêm minh của
việc thi hành pháp luật, mặt khác dựa vào sự gương mẫu, sự trong sạch về đạo đức
của người cầm quyền. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi “cán bộ phải
thực hành chữ Liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân”.
20


Ngay từ rất sớm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ba thứ “giặc nội xâm”,
“giặc trong lòng”, những căn bệnh mà chúng ta phải kiên quyết chống nếu không
chúng sẽ dẫn đến nguy cơ suy thoái, đổ vỡ không lường hết được. Người nói:
“Tham ô, lãng phí, và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là ban đồng minh
của thực dân, phong kiến…nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của
cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiêm, liêm, chính…tội lỗi
ấy cũng nặng như tội Việt gian, mật thám”.
Người chỉ ra mối quan hệ giữa đánh thù trong và diệt giặc ngoài: “Chống
tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cúng cần kíp như việc đánh giặc trên mặt
trận”… “nếu chiến sỹ và nhân dân ta ra sức chống ngoại xâm và quên chống giặc

Từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa,
tuy nội dung, nhiệm vụ của Nhà nước có sự khác nhau, song về bản chất vẫn là nhà
nước của dân, do dân, vì dân, được xây dựng trên những nguyên tắc của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân
dân và tính dân tộc. Nhưng từ chiến tranh chống ngoại xâm chuyển sang hòa bình
xây dựng kinh tế, từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, trong
điều kiện mở của, hội nhập quốc tế, làm ăn với nước ngoài…đã có sự thay đổi rất
nhiều, từ nội dung nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, cho đến yêu
cầu về phẩm chất năng lực của con người vận hành bộ máy nhà nước.
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đang đứng trước những cơ hội và
thách thức chưa từng có. Xu thế toàn cầu hóa đang phát triển sâu rộng với tốc độ
nhanh, mở ra cơ hội cho các nước chậm phát triển có thể đuổi kịp các nước phát
triển, đồng thời cũng làm gia tăng nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa thực dân
mới. Trong tình hình đó, nếu như không có một nhà nước thực sự trong sạch, vững
22


mạnh hoạt động có hiệu quả, hiệu lực, tranh thủ nắm lấy vận hội, đưa đất nước
vượt qua nguy cơ thách thức thì chủ nghĩa xã hội sẽ không có mà độc lập dân tộc
cũng khó mà bảo vệ được.
Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào đề không ngừng hoàn thiện Nhà nước của
dân, do dân, vì dân trong giai đoạn mới? Phải xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm
vụ của giai đoạn cách mạng? Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, liên hệ với tình hình
hiện nay Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:
1. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
đảm bảo thật tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
Để vượt lên tình trạng thấp kém của nền kinh tế, rút ngắn khoảng cách về
trình độ phát triển giữa nước ta với nhiều nước trên thế giới, trong điều kiện cạnh
tranh quốc tế quyết liệt hiện nay, ta không có con đường nào khác phải phát huy

Bên cạnh việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, ngoài vấn đề
thực thi nghiêm chỉnh pháp luật, còn cần chủ ý tới thực hiện những quy tắc dân chủ
trong các cộng đồng dân cư, tùy theo điều kiện của từng vùng, miễn là các quy tắc
đó không trái với những quy định của pháp luật. Theo đó cần thực hiện tốt các Quy
chế dân chủ ở cơ sở đã được chính phủ ban hành.
2. Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một
nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh.
Đường lối, chính sách đúng đắn của ĐẢng, pháp luật của Nhà nước là điều
kiện tiên quyết, song nếu không có một nền hành chính mạnh, có hiệu lực thì chính
sách, pháp luật dù đúng, cũng không thể đi vào cuộc sống. Do đó, việc cải cách và
kiện toàn bộ máy hành chính đang là một yêu cầu bức xúc đặt ra cần phải giải
quyết.

24


Hiện nay nền hành chính của ta còn nhiều yếu kém: quan liêu, xa dân, xa cơ
sở, phân tán, thiếu trật tự kỷ cương, nạn tham nhũng và lãng phí của công, bộ mày
cồng kềnh, nằng nề, kém hiệu lực, đội ngũ cán bộ công chức còn yếu về kiến thức,
năng lực, một bộ phận không nhỏ kém phẩm chất thậm chí hư hỏng..
Cải cách hành chính để có một nền hành chính dân chủ, trong sạch, phục vụ
đắc lực cho nhân dân, giữ vững trật tự kỷ cương xã hội theo pháp luật. Nó phải
được phục vụ tạn tụy, công tâm, đáp ứng yêu cầu hàng ngày về quyền lực hợp pháp
của nhân dân. Muốn được như vậy, bản thân nó phải trong sạch và có kỷ cương,
phải thanh toán được những căn bệnh mà từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
ra: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, “lúc nào cũng vác mặt
“quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin
cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của chính phủ” . Tóm lại, là cần phải phấn đấu để
xóa bỏ ấn tượng hiện nay trong nhân dân: hành chính là hành dân là chính.
Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính là một quá trình, phải tiến hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status