Tìm hiểu về lễ hội đền Gióng
Có lẽ trong tất cả các lễ hội dân gian ở nước ta, Hội Gióng là lễ hội được ghi chép
miêu tả tỉ mỉ nhất cho đến ngày nay. Từ sự quan sát đánh giá của Dumoutier đến
những miêu tả vô cùng tỉ mỉ của Nguyễn Văn Huyên mà sau này đôi điều chẳng
may có mất đi người ta vẫn khôi phục được.
Mặt khác trong suốt thời gian dài của lịch sử, trải qua bao cuộc thăng trầm của
chiến tranh loạn lạc, lụt bão… có lúc trầm, khi bổng có khi thịnh khi suy, xong
người dân làng Gióng vẫn giữ được truyền thống mở hội của mình. Đời này qua đời
khác người ta giữ được lệ làng, truyền được cho con cháu không chỉ cái tinh túy của
truyền thống dân tộc, sức mạnh của cộng đồng làng, mà còn giữ được vững chắc
các nghi lễ, trang phục, nội dung diễn biến của ngày hội làng. Bởi thế mà hội làng
Gióng đã trở nên nổi tiếng khắp vùng, lan ra cả bạn bè quốc tế. Từ bao đời, tiếng
tăm của Hội Gióng đã nổi tiếng khắp cả một vùng xứ bắc, đến nỗi ca dao xưa còn
ghi:
“Ai ơi mồng chín tháng tư
Không đi hội Gióng thì hư một đời”
Như trên đã thấy, hội Gióng diễn ra hàng năm vào ngày mồng 9 tháng tư âm lịch tại
làng Phù Đổng, xã Phù Đổng, thuộc huyện Gia lâm, Hà Nội. Từ Hà Nội theo đường
quốc lộ 1A lên phía bắc qua cầu Đuống rẽ tay phải men theo bờ đê sống Đuống, du
khách đi chừng 7km nữa là đến trước cổng đền Gióng, nơi mở hội hàng năm. Vị trí
thuận lợi này càng tạo cho hội Gióng đông khách đến thăm.
NỘI DUNG
I. Khái quát về Lễ Hội
Hầu như các làng xã nào có đình chùa, miếu mạo thì ở đó tùy thuộc vào quy mộ mà
tồn tại các loại lễ hội khác nhau.
Lễ và Hội thường đi kèm với nhau và diễn ra tập trung vào 15 ngày đầu xuân (từ 1
– 15/1 âm lịch). Đây là thời điểm nông nhàn nên có điều kiện cho các sinh hoạt tâm
linh cũng như giải trí của cộng đồng dân cư địa phương. Đây cũng là thời điểm để
những người ly hương quay trở về quê cha đất tổ. Lễ hội bao gồm 2 phần cơ bản là
nhận thức về lịch sử mà không qua những ngôn từ, sách vở khô cứng của thể loại
văn học hàn lâm. Nó đi thẳng vào tâm trí và tầng sâu tâm thức của đối tượng giáo
dục bằng trực giác, bằng sự hòa đồng, bằng những kỷ niệm gắn bó với đời sống
cộng đồng, với quê hương bản quán. Mà trong đó, đối tượng giáo dục là người vừa
chứng kiến, vừa tham dự vừa là người sáng tạp nên không khí Lễ Hội.
- Thông qua khía cạnh tâm linh, Lễ Hội có tác dụng giáo dục rất lớn đối với mọi thế
hệ, không phân biệt già trẻ: đó là những giới luật, những điều răn, những lời nguyền
ngăn cản những hành vi phi đạo đức, đi ngược với lợi ích cộng đồng và lợi ích dân
tộc. Tác dụng giáo dục của khía cạnh này nằm ở tầng sâu của tâm thưc và được suy
diễn dưới dạng chuỗi nhân quả, những liên hệ siêu hình giữa sự kiện mà chủ thể trải
nghiệm trong cuộc sống.
- Lễ hội còn là sự chứng thực về mặt cội nguồn chung của các cộng đồng kế cận.
với ý nghĩa đó, lễ hội làm gia tăng tính cố kết cộng đồng.
Với những ý nghĩa tích cực nói trên, việc sử dụng lễ hội như một phương thức để
phát huy truyền thống tốt đẹp của người Việt đang là một vấn đề rất đáng quan tâm
trong tình hình hiện nay.
II. Những di tích của Hội Gióng Phù Đổng
1. Đền Thượng
Đây là một ngôi đền cổ và đẹp, nằm ngay sát chân đê sông Đuống thuộc địa phận
làng Phù Đổng. Tương truyền khi Lý Công Uẩn lên ngôi đã cho mở mang và tu sửa
chùa Kiến Sơ và đền Gióng thành một quần thể di tích đẹp, bề thế. Đồng thời nhà
vua cũng ban ruộng cho làng dùng vào việc cúng tế và tổ chức lễ hội hàng năm.
Trước khi vào đền du khách sẽ gặp một hồ nước trên hồ có một nhà thủy đình, nơi
đây thường tổ chức múa rối trong dịp làng có đám, vì thế mà hồ còn được gọi là hồ
ao rối. Bên hồ có cây đa cổ thụ, cành lá sum suê rợp bóng mát trước nhà thủy đình
trước cổng đền.
Tiếp đến ta sẽ gặp cổng đền được xây theo kiểu tam quan đẹp và bề thế. Trước cổng
là một sân rộng rồi đến hồ nơi có nhà thủy đình. Cửa đền có một đôi rồng đá rất lớn
quai và đê chính của sông Đuống. đền không lớn, thời gian đã làm đền bị hư hỏng
nhiều, sau này được nhân dân tu bổ lại để thời Bà. Triều đình trước đây cũng hết
sức chú trọng đến việc này vì thế đền đã có tới 13 sắc phong của các đời vua.
5. Giếng
Là một di tích khá quan trọng trong quần thể di tích đền Gióng. Đây là một giếng
đất ít ỏi còn lại đến ngày nay. Giếng nằm trước cửa đền Mẫu, có bờ bao bọc xung
quang, có cầu bậc thang để bước xuống tới tận mặt nước. hàng năm, vào dịp lễ hội
rước nước được tiến hàng tại đây. Đám rước lớn đi từ đền Thượng tới đây. Đến nơi
các quân tướng của Gióng dàn hàng đứng xung quanh để lấy nước thiêng.
6. Giá ngự
Đó là một bệ đá bằng hai chiếc chiếu đối, nằm lộ thiên phía bên kia đê đối diện đền
Gióng hơi chếch về phía bên trái. Nơi đây, vào ngày hội được nhân dân dùng làm
nơi bày hương án thờ và khi hội trận ngựa của Thánh Gióng đứng ở đây chứng kiến
cuộc ra trận.
III. Hội Gióng Phù Đổng
1. Tổ chức
Bốn làng ở tổng Phù - đổng cùng nhau tổ chức hội Gióng để kỷ niệm ngày
ông Gióng đánh thắng giặc Ân...
Bốn làng đó là: Phù - đổng, Phù - dực, Đổng - viên và Đổng - xuyên. Hai
làng trên được thay phiên nhau làm hội trưởng. Hai làng sau chỉ được đóng vai phụ
trong ngày hội, vì ngày xưa đã đuổi bà mẹ Gióng lên rừng ở khi bà có mang ông
Gióng.
Nhưng cơ sở để phân công không phải là làng mà là giáp. Giáp là đơn vị
chính thức gồm những táng đinh trong làng. Tổng Phù - đồng có 15 giáp.
Phù - đổng có 6 giáp: ban, Phú, Chợ, Bộ, Đông, Đoài, Phù - dực có 4 giáp:
Từa, Gạo, Nông, me. Nếu năm nay giáp Đông được cử làm Giáp hội trưởng hay
Choặc. Phường này gồm 20 người trai trẻ do các giáp làng Hội - xá hằng năm thay
nhau cử ra để tế thần và góp vui cho hội Gióng. Làng này xưa kia ở bên tả ngạn
sông Đuống, gần Phù - dực dời sang hữu ngạn sông Đuống và thuộc về Gia Lâm.
Hội xá trích 27 mẫu ruộng công ra để cấp cho phường này hưởng hoa lợi làm chi
phí.
Phường này gồm có:
- 1 ông trùm
- 1 người đánh trống khẩu
- 1 người đánh chiêng
- 1 người cầm cung nỏ (tượng trưng người đi săn trong truyền thuyết).
- 1 người cầm đầu cần câu (tượng trưng người câu cá trong truyền thuyết).
- 2 người cầm cờ lau, cờ lau là 2 chiếc gậy dài có buộc chùm tua giấy dài ngũ sắc ở
trên đầu trong giống như bông lau, nhắc lại chi tiết đoàn trẻ chăn trâu làng Hội - xá
chơi cờ bông lau theo Gióng đánh giặc và giắt bông lau che kín mình cho Gióng
(theo truyền thuyết).
- 1 người múa hổ, hoá trang thành hổ. ở đình Hội - xá còn có đầu hổ phết bằng giấy
bìa bọc vải do ngày hội năm trước để lại. Thường ngày thủ từ cúng nó như cúng
thần. Đầu tháng 3 âm lịch giáp nào được cử lập phường thì đến đình lấy đầu hồ và
làm thêm lốt hổ để hoá trang. Lốt hổ là một áo dài chẽn, mày vàng có vẽ vằn đen,
và có đuôi. Đến khi xong hội thì người ta làm lễ đốt lốt đi, chỉ giữ đầu hổ mà thôi.
- 12 người còn lại cầm sênh và hát.
Từ 15 tháng 3 âm lịch đến mồng 6 tháng 4 âm lịch phường tập múa hát. Từ 6
đến 13 tháng 4 âm lịch phưởng ở hẳn tại chùa Kiến - sơ gần đền Thượng để phục vụ
hội Gióng.
Trong ngày hội, họ mặc áo chẽn, chít khăn đen, đi chân trần, thắt lưng xanh
có nút bên trái. họ múa hai điệu múa truyền thống: một điệu cúng thần và điệu vây
bắt hổ. Họ hát 12 bài hát truyền thống: 1 bài hát vào đền dâng lễ; 2 Chầu trước điện
thần, 3 Ra khỏi đền, 4 Chầu trước đền mẫu (mẹ Gióng), 5. Bài hát múa cờ; 6. Hát
Rằm tháng 3 âm lịch trở đi, mọi người, mọi bộ phận (các tướng cũng như
phường Ải - lao) đều phải tập biểu diễn cho thành thạo.
Ngày 25 tháng 3 âm lịch, giáp kéo hội lên đền quét dọn và lau chìu mọi thứ
cho thật sạch sẽ, sửa sang lại đường sá và các địa điểm kéo hội. Ngày mồng 2 tháng
4 âm lịch, cắt cử đội quân phù giá. Ngày mồng 5 tháng 4 âm lịch là ngày tổng diễn
tập múa, hát, đánh trống, đánh chiêng, hành quân và dàn trận trước cửa đền
Thượng. Ai cũng cố gắng tập đúng theo quy cách truyền thống và đẹp mắt, để cho
ngày hội đạt kết quả. Và theo niềm tin dân gian thì chỉ có như vậy ông Gióng mới
vui lòng và năm đó dân hành tổng mới làm ăn được thịnh vượng.
Còn giặc Ân từ phương Bắc tới thì chỉ được tượng trưng bằng những tướng
nữ chọn ngày trong gái hàng tổng từ 10 đến 13 tuổi. Trừ giáp kéo hội ra, các giáp
khác được cử mỗi giáp 2 cô. Tất cả là 28 tướng. Trong số 28 đó lại chọn hai người
thống soái gọi là Tướng Đốc chánh soái và Tướng Ngựa phó soái. Các tướng ăn
mặc lộng lẫy, đội mũ thêu hoa, quấn vòng xuyến vàng bạc. Giáp ban được phân
công cử tướng Đốc và tượng Ngựa, trừ lúc đến phiên giáp Ban làm giáp hội trưởng,
thì giáp Phú lại cử thay.
3. Những ngày hội chính
Từ mồng 6 tháng 4 âm lịch, người ta đã chuẩn bị tổ chức chiến trường. Chiều
hôm đó vào giờ dậu (15 giờ), có một nghi lễ gội là lễ Rước nước:
Tất cả quân, tướng đều tham dự đám rước từ đền Thượng đến đền giếng đền
Mẫu để lấy nước rửa khí giới. Người ra khiêng đôi chum "thiêng" đến đặt lên bệ
bên bờ giếng, 80 quân thù giá dàn thành hai hàng hai bên trên các bậc tam cấp
xuống giếng. Người đứng đầu hàng cạnh giếng nhất cầm giáo đồng múc nước và
chuyển đến cho người đúng bên chum. Người này thong thả rót nước vào chum qua
miếng vài đỏ trải trên miệng chum. Tất cả các cử chỉ này đều được biểu diễn theo
lệnh trống, chiêng và sênh của người xướng suất. Sau đó, người ta rước đôi chum
khiển bằng tiếng trống, tiếng chiên đánh sát nhau (“Tông”, “beng”). Nghe tiếng
trống, tiếng chiêng cuối cùng thì tất cả dùng tay phải rút từ túi ra một chiếc quạt rồi
giơ quá đầu, miệng “dạ” một tiếng thật to, đoạn bỏ tay xuống. Họ làm lại như thế 9
lần nữa, rồi dàn thành hai hàng trước điện thần, cúi đầu xuống và đi lùi ra, miệng lại
“dạ”, “dạ”.
Đến giờ thìn (10 giờ), phường ải - lão diễn trò săn hổ trước diện thần.
Hổ tiến lên trước, đứng thẳng bằng 2 chân sau hơi doãi ra trên chiếc chiếu
đầu. Hổ bước chân trái lên, tiến về trước, quỳ xuống, hai chân trước chống cuống
chiếu, đầu cúi sấp. Đoạn đứng dậy, lùi lại một bước bàng chân phải rồi cúi đầu như
trước. Hộ làm thế 4 lần xong đi giật lùi sang bên phải bàn thờ, tức là bên trái tượng
Gióng. Điệu múa đó được điểm bằng những tiếng trống ăn nhịp với từng động tác.
Tiếp đến là hai người cầm cờ lau, hai người đánh trống con và mèn hai người cầm
cần câu và cung tên. Mấy người này lễ 4 lễ bình thường (chắp tay, quỳ gối) ở chiếu
hai rồi đừng ra hai bên: Người đánh trống hay gần chiếng. Những người này cũng
vận động theo tiếng trống chiêng.
Đến lượt 12 người cầm sênh tiến lên, đứng ở chiếu ba thành hai hàng 6. Họ
gài sênh ở thắt lưng, đứng chụm gót, cánh tay gấp và nâng lên ngang vai, bàn tay
ngửa ra về phía bàn thờ để ngang trước ngực rồi quay bên trai và quay bên phải.
Sau đó họ cúi đầu và quì xuống, xếp chéo sênh ở trên chiếu, rồi lại đứng dậy và
múa hai bàn tay đủ ba mặt: trước, trái và phải như trớc. Họ lặp lại những động tác
đó 4 lần theo nhịp trống mèn, xong cầm sênh lên gõ 4 tiếng và chia lại hai hàng
đứng ra hai bên.
Điệu múa cờ trong ngày hội Gióng
Ba tiếng trống dứt lễ, cả phường bắt đầu diễn trò vây bắt hổ.
Họ hát 6 lần câu mở đầu:
Lập đồn đắp luỹ xây thành
Bên ngoài trống điểm tuần hành bên trong.
Xen tiếng đệm lót khác nhau có trống và sên giữ nhịp. Động tác đánh trống,
Thế là tiếng trống, chiêng nổi lên ba hồi liền. Tất cả tướng quân chỉnh đốn
hàng ngũ, vũ khí và nhạc cụ cầm sẵn để chờ lệnh xuất trận. Trong giờ phút nghiêm
trọng phường ải -lao vừa múa vừa hát bài ca ngợi Gióng:
Thứ sáu đời vua Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng, tướng cường nữ nhung
Tiếng hát vừa dứt, các ông hiệu (tướng của Gióng) đến múa lạy trước bàn thờ
Gióng, như là tuyên thệ và tỏ rõ quyết tâm đánh giặc. Các động tác giống hệt như
trong lễ rước đã nói ở trên. Sau đó các tướng trở về chỗ cũ. Ba hồi trống chiêng lại
nổi lên nữa. Một tiếng hô to và hàng loạt tiếng “dạ” ran. Toàn quân hàng trăm người
nhằm về phía Đông - đàm tiến bước rầm rập.
Hai hiệu tiểu cổ, tức tướng tiên phong mặc áo đỏ, quần vàng chẽn ống, đội
mũ thêu rồng, cầm trống khẩu đi đầu dưới lọng đỏ có tua rua vàng lóng lánh. Theo
hai hiệu tiểu cổ là 12 em bé mặc áo đỏ đên (thường gọi là làng áo đỏ, áo đen) cầm
roi song sơn son. Tiếp đến là ông Hổ, phường ải - lao và cờ quạt tàn lọng rước các
tướng: Hiệu trống, hiệu chiêng, hiệu trung quân và hiệu cờ. sau hiệu cờ là Long giá
tức con ngựa trắng bằng gỗ kéo trên bốn bánh xe, tượng trưng ngựa của Gióng,
thường ngày để ở trong đền và sau nữa là đoàn quân dài nườm nượp bước đid thành
hai hàng.
Tất cả vừa đi gấp vừa chạy tiến đến chiến trường. áo quần đủ các màu sắc sặc
sỡ, trống Gióng, chiêng khua, cờ bay phất phới, tang lọng rợp trời, bát bửu, siêu
đao, dùi đồng, phủ việt uy nghiêm hùng dũng. Tiếng hát, tiếng nhạc của phường ải lao rộn ràng. Cảnh tượng thật là náo nhiệt trên bờ đê dài ba cây số. Khi qua đền
Mẫu, mọi người dừng lại cúi đàu chào mẹ Gióng.
Chiến trường rất đơn giản. Ở giữa hai bờ đê có hồ sen. Quân địch làm chủ hồ
đó. Gần hồ có những cồn đất nhỏ, trên đó trải ba chiếc chiếu, ở giữa chiếu có một
cái bát uýp lên tờ giấy trắng. Chiếu tượng trưng đồng bằng, bát tượng trưng núi
non, giấy trắng tượng trưng mây. Gần đó nữa có một bệ đất phẳng đặt bàn thờ
Gióng. Đám rước tới nơi, ngựa được đẩy đến cạnh bànthờ, khi giới và cờ lọng cũng
được cắm ở đấy. Còn các tướng của Gióng thì đến đứng ở gần chiếu.
đến cắm cờ trước tượng Gióng, hiệu trống và hiệu chiêng đặt trống chiên ở hai bên.
Ngựa gỗ được đặt lại chỗ cũ đằng sau tượng Gióng. Hàng tổng mở tiệc khao quân.
Nhưng giặc chưa chịu thua hẳn. Chúng bày lại trận thế, tiến đến sát Phù đổng, bao vòng lấy quân ta. Quân thám báo vừa loa tin, lập tức quân ta bỏ cả ăn
uống cầm ngay vũ khí, cờ quạt tiến ra chiến trường theo ba hồi trống giục. Tướng
Đốc và tướng Ngựa của giặc đã chiếm đóng vùng đất giữa đền Thượng và đền Mẫu.
Quân ta phá vòng vây, nhằm phía 2 tướng đầu của giặc mà xông tới. Khi đến gần,
pháo nổ ran chứng tỏ tình hình nguy kịch. Quân ta vừa phải lùi lại một quãng. Các
tướng của Gióng xông thẳng chân đê trước mặt làng Phù - đổng ở bãi Sòi - bia ().
Cuộc chiến đấu xảy ra ác liệt ở đó. Cách bố trí trận địa giống hệt như ở Đống - đàm.
Ba tiếng trống lệnh vừa dứt, hiệu cờ lại bắt đầu nhảy ra múa trên chiếu. Lúc
này cờ được chao từ trái sang phải, ngược chiều với lần trước. Nhân dân gội là “ba
ván nghịch”. Hiệu cờ múa xong ván nghịch thứ ba, thì hiệu trống và hiệu chiêng
đánh 3 hồi trống, chiêng xen kẽ vang trền báo tin quân ta thắng lợi hoàn toàn. Các
tướng nữ của giặc xuống kiệu, coi như bị thua. Quân ta phất cờ, tung đao, reo hò ầm
ĩ trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng. Hai tướng Đốc, tướng Ngựa của giặc bị
hiệu Cờ bắt giải bộ về đền. Hiệu cờ bắt chúng quỳ xuống nộp kiếm, bắt chúng lạy 4
lạy vái 2 vái trước bàn thờ ông Gióng.
Trong không khí tưng bừng phấn khởi của ba quân và nhân dân ở trong, ngoài
đền, hiệu Cờ ra lệnh nổi trống chiêng rồi lấy kiếm tước được của giặc múa trên đầu
giặc mấy vòng, đoạn dùng đầu kiếm ấy hất mũ và phanh thây giặc. Vụ thừa tế hứng
mũ áo giặc lên mâm và bưng vào nội cung dâng thần. Sau lễ thủ cấp đó là mọi
người ra khỏi đền phường ải - lao lại múa hát, kèn nhị trống bát âm lại réo rắt tưng
bừng. Tiệc khao quân tiếp tục thì trời cũng vừa tối… Hàng tổng lại hướng vào các
trò vui, các tiết mục văn nghệ khác trong đêm.
4. Sau ngày thắng trận
Ngày hôm sau, mồng 10 tháng 4 âm lịch, hàng tổng lại Rước vãn để duyệt
quân và kiểm tra lại khí giới. Lễ tạ ơn Gióng được tổ chức cùng với hội mừng thắng
Là một lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi thuộc vùng Hà Nội
để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh
Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Có 2 hội Gióng tiêu
biểu ở Hà Nội là hội Gióng Sóc Sơn ở đền Sóc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn và hội
Gióng Phù Đổng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm đã được UNESCO
công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Giá trị nổi bật toàn cầu ở hội
Gióng chính là một hiện tượng văn hóa được bảo lưu, trao truyền khá liên tục và
toàn vẹn qua nhiều thế hệ. Mặc dù ở gần trung tâm thủ đô và đời sống cộng đồng
trải qua nhiều biến động do chiến tranh, do sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa, hội
Gióng vẫn tồn tại một cách độc lập và bền vững, không bị nhà nước hóa, thương
mại hóa.
KẾT LUẬN
Hội Gióng là một lễ hội văn hóa cổ truyền mô phỏng một cách sinh động và khoa
học diễn biến các trận đấu của Thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc Ân.
Thông qua đó có thể nâng cao nhận thức cộng đồng về các hình thức chiến tranh bộ
lạc thời cổ xưa và liên tưởng tới bản chất tất thắng của cuộc chiến tranh nhân dân,
toàn dân, toàn diện trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Hình tượng
Thánh Gióng đã trở thành một “Tứ bất tử” trong đời sống tâm linh người Việt. Lễ
hội Thánh Gióng là một di sản văn hóa phi vật thể thuộc lĩnh vực tín ngưỡng và sự
kiện lễ hội, được nhà nước phong kiến chú trọng phát triển từ thời Lý và cộng đồng
giữ vai trò rất lớn trong việc bảo tồn qua hàng ngàn năm lịch sử
PHỤ LỤC
Một số hình ảnh nghi lễ rước Thánh khao quân và tái hiện những trận đánh nổi
tiếng trong Hội Gióng Phù Đổng
Trước đền Gióng, làng Phù Đổng chật cứng người xem hội.
Các ông “Hiệu” làm lễ xuất tướng trước đền.
Đám rước rời Đền Gióng đi về đền Mẫu “thờ mẹ Đức Thánh Gióng” để làm lễ khao
quân.