quát quy chế pháp lý về thanh toán bằng séc cũng như thực trạng tình hình thanh toán bằng séc ở nước ta hiện nay và đề xuất một số kiến nghị giải pháp - Pdf 27

Bộ môn Luật Ngân hành
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, mọi hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ và các hoạt
động khác trong nền kinh tế quốc dân cuối cùng đều được kết thúc bằng khâu
thanh toán. Các quan hệ thanh toán được thực hiện dưới hai hình thức là thanh
toán trực tiếp bằng tiền mặt và thanh toán qua các trung gian thanh toán. Thanh
toán qua các trung gian thanh toán là việc chi trả không tiến hành trực tiếp giữa
người chi trả với người thụ hưởng mà thông qua việc ủy nhiệm cho các tổ chức
trung gian như Ngân hàng, Kho bạc nhà nước… thực hiện. Trong nền kinh tế thị
trường, thanh toán qua trung gian thanh toán chủ yếu là thanh toán không dùng
tiền mặt nên có vai trò rất lớn.
Việc nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ thanh toán qua trung gian tạo thành chế độ dịch vụ thanh toán qua trung gian
thanh toán. Chế độ dịch vụ thanh toán là tổng thể các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các trung gian thanh toán
thực hiện hoạt động dịch vụ thanh toán và các quy phạm pháp luật quy định
hình thức, phương thức thanh toán qua trung gian thanh toán, các quyền và
nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dịch vụ thanh toán.
Các quy phạm pháp luật về phương tiện thanh toán - bao gồm tiền mặt,
séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu, thẻ ngân hàng, các
phương tiện thanh toán khác - là một trong những bộ phận cấu thành chế độ
dịch vụ thanh toán. Trong đó, séc là phương tiện thanh toán được phát triển ở
nhiều nước trên thế giới và đang được nhà nước ta khuyến khích sử dụng. Việc
minh bạch hóa quy chế pháp lý về thanh toán bằng séc có vai trò thiết thực đối
với việc mở rộng sự phát triển của phương tiện thanh toán này ở nước ta. Với
tầm quan trọng đó, trong khuôn khổ bài viết này xin được khái quát quy chế
pháp lý về thanh toán bằng séc cũng như thực trạng tình hình thanh toán bằng
séc ở nước ta hiện nay và đề xuất một số kiến nghị giải pháp.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ THANH TOÁN BẰNG SÉC
Séc là một phương tiện thanh toán được sử dụng rộng rãi trong các nước có

Thứ hai, séc được người ký phát phát hành để thanh toán trong các giao
dịch mua bán hành hóa, cung ứng dịch vụ, cho vay giữa các tổ chức, cá nhân
với nhau;giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng với tổ chức,cá nhân; giao dịch
thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi séc
đã được ký phát thì quan hệ trong thanh toán séc sẽ độc lập không phụ thuộc
vào giao dịch là cơ sở để phát hành séc.
Thứ ba, quan hệ thanh toán bằng séc là quan hệ khá phức tạp có nhiều loại
chủ thể tham gia với tư cách khác nhau được pháp luật điều chỉnh bao gồm các
quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong việc cung ứng, phát hành, bảo lãnh,
chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi khởi kiện về séc.
Thứ tư, các quan hệ phát sinh trong thanh toán bằng séc được điều chỉnh
bằng Luật công cụ chuyển nhượng và pháp luật có liên quan. Trong quan hệ
thanh toán bằng séc có yếu tố nước ngoài, nếu có điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó. Các bên tham gia quan hệ thanh toán séc được thỏa thuận áp dụng các tập
quán thương mại quốc tế theo quy định của Chính phủ. Trường hợp séc được
phát hành ở Việt Nam nhưng được bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu,
thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở một nước khác thì séc phải được phát hành
theo quy định của Luật công cụ chuyển nhượng. Nếu séc được phát hành ở nước
khác nhưng được bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy
1
Theo khoản 4 Điều 4 Luật công cụ chuyển nhượng
SVTH: nhóm 2 – KT32H2 2
Bộ môn Luật Ngân hành
đòi, khởi kiện ở Việt Nam thì việc bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu,
thanh toán, truy đòi, khởi kiện được thực hiện theo quy định của luật công cụ
chuyển nhượng.
2. Chủ thể tham gia thanh toán quan hệ bằng séc
Tham gia quan hệ thanh toán bằng séc có thể có các loại chủ thể sau:
Người ký phát là người lập và ký phát hành séc.

Tổ chức cung ứng séc quy định điều kiện, thủ tục đối với việc bảo quản, sử
dụng séc do mình cung ứng như: Số lượng séc trắng cung ứng cho khách hàng
trên cơ sở bảo đảm phù hợp với nhu cầu và độ tin cậy trong thanh toán của từng
đối tượng cụ thể; phân định trách nhiệm của các bên liên quan trong lưu trữ, bảo
quản, luân chuyển séc trắng và séc trong quá trình xử lý thanh toán trong nội bộ
tổ chức cung ứng séc. Quy định về trách nhiệm trong việc bảo quản séc trắng và
những yêu cầu trong việc sử dụng séc đối với người được cung ứng séc trắng...
SVTH: nhóm 2 – KT32H2 3
Bộ môn Luật Ngân hành
Theo quy định của pháp luật thủ tục cung ứng séc trắng thực hiện như sau:
Khi có nhu cầu sử dụng séc,chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản ủy
quyền lập giấy đề nghị cung ứng séc nộp cho tổ chức cung ứng séc. Tổ chức
cung ứng séc có trách nhiệm kiểm tra điều kiện của người đề nghị cung ứng séc.
Trước khi giao séc cho khách hàng, tổ chức cung ứng séc trắng phải chịu trách
nhiệm in, dập chữ hoặc ghi sẵn nội dung của các yếu tố: Số séc, tên người bị ký
phát, tên người ký phát séc; địa điểm thanh toán; các yếu tố trên giải từ MICR
(nếu có) và các nội dung khác trên tờ séc trắng nếu thấy cần thiết và để thuận
tiện cho người sử dụng.
Tổ chức cung ứng séc phải mở sổ theo dõi tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản
của người được cung ứng séc, số lượng và ký hiệu (số xê-ry, số séc) của các tờ
séc cung ứng cho người được cung ứng séc và yêu cầu người được cung ứng
séc phải ký nhận vào sổ theo dõi.
Người được cung ứng séc phải kiểm đếm số lượng tờ séc, tính chính xác
của các yếu tố trên tờ séc trắng được cung ứng, nếu thấy có sai sót phải báo cáo
ngay để đổi lấy tờ séc khác. Sau khi đã nhận séc trắng từ tổ chức cung ứng séc,
nếu xảy ra sai sót hoặc để séc bị lợi dụng thì chủ tài khoản phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra.
1.2. Ký phát séc.
Ký phát séc là việc người ký phát, ký và chuyển giao séc lần đầu cho người
thụ hưởng.

1.3.1. Chuyển nhượng
Chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển giao quyền sở hữu séc
cho người nhận chuyển nhượng theo một trong các hình thức “ký chuyển
nhượng” hoặc “chuyển giao”.
 Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng: Là việc người thụ hưởng
chuyển quyền sở hữu séc cho người nhận chuyển nhượng bằng cách ký vào mặt
sau sec và chuyển giao sec cho người nhận chuyển nhượng.
Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng được áp dụng đối với tất cả
các loại sec (trừ sec không được chuyển nhượng).
Người chuyển nhượng có thể ký chuyển nhượng theo 2 hình thức: ký để
trống hoặc ký đầy đủ.
- Ký chuyển nhượng để trống : là việc người chuyển nhượng ký vào mặt
sau của tờ sec và chuyển giao sec cho người nhận chuyển nhượng.
- Ký chuyển nhượng đầy đủ : là việc người chuyển nhượng ký vào sau tờ
sec và phải ghi đầy đủ tên của người được chuyển nhượng, ngày chuyển
nhượng.
 Chuyển nhượng bằng chuyển giao: Là việc người thụ hưởng chuyển
quyền sở hữu sec cho người nhận chuyển nhượng bằng cách chuyển giao sec
cho người nhận chuyển nhượng.
Việc chuyển nhượng bằng chuyển giao được áp dụng đối với các loại sec
sau: sec được ký phát trả cho người cầm giữ; séc chỉ có một chuyển nhượng
bằng ký chuyển nhượng để trống; séc có chuyển nhượng cuối cùng là ký chuyển
nhượng để trống
1.3.2. Nhờ thu séc
Để được thanh toán số tiền trên sec, người thụ hưởng séc có thể chuyển
giao séc để nhờ thu bằng cách ký chuyển nhượng cho một tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán (người thu hộ) để nhờ thu theo thoả thuận.
Trong trường hợp không thể trực tiếp xuất trình tại địa điểm thanh toán,
người thu hộ có quyền chuyển giao sec đó cho người thu hộ khác để người thu
hộ này xuất trình tờ sec.

thời hạn đó mà tờ séc vẫn chưa được xuất trình đòi thanh toán, người ký phát có
quyền yêu cầu người bị ký phát chấm dứt việc tạm giữ hoặc phong tỏa số tiền
dùng để đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ séc đó.
Bảo lãnh séc là việc người thứ ba (người bảo lãnh) cam kết với người
nhận bảo lãnh sẽ thanh toán toàn bộ hay một phần số tiền ghi trên séc khi người
được bảo lãnh không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ tờ séc.
Thủ tục bảo lãnh: Người bảo lãnh ghi cụm từ “bảo lãnh”, số tiền bảo lãnh,
tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trên mặt
trước tờ séc hoặc trên văn bản đính kèm. Trường hợp bảo lãnh không ghi tên
người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là bảo lãnh cho người ký phát.
Người bảo lãnh sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được tiếp nhận quyền
của người được bảo lãnh đối với những người có liên quan đến séc, xử lý tài sản
đảm bảo của người được bảo lãnh và có quyền yêu cầu người được bảo lãnh,
người ký phát và những người có trách nhiệm với người được bảo lãnh thực
hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh đã thanh toán.
1.5. Xuất trình và thanh toán séc
1.5.1. Xuất trình
Việc xuất trình séc để thanh toán được coi là hợp lệ khi sec được người thụ
hưởng (hoặc người được người thụ hưởng uỷ quyền), người thu hộ xuất trình
sec đúng địa điểm, đúng thời hạn theo quy định.
SVTH: nhóm 2 – KT32H2 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status