Phân tích và đánh giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (mã cổ phiếu TSC) - Pdf 36

TÓM TẮT
Trong sự nghiệp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế
nước ta liên tục tăng trưởng và ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch ngày càng hợp lý,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thì hoạt động của thị trường chứng khoán ngày càng
phát triển và vai trò của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ngày càng quan
trọng. Tại vì thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế.
Do đó việc phân tích và đánh giá cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán là
điều cần thiết đối với nhà đầu tư, cổ đông. Mặc khác Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông
nghiệp Cần Thơ (TSC) là thành viên niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh
(HOSE). Vì vậy, trong quá trình thực tập tại công ty này tôi quyết đinh chọn đề tài nghiên
cứu là “Phân tích và đánh giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông
nghiệp Cần Thơ (mã cổ phiếu: TSC)”. Đề tài bao gồm 6 chương, nội dung chính của mỗi
chương như sau:
- Chương 1 giới thiệu về đề tài.
- Chương 2 viết về cơ sơ lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
- Chương 3 phân tích tình hình tài chính của TSC.
- Chương 4 phân tích tình hình giao dịch cổ phiếu TSC trên HOSE.
- Chương 5 đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty.
- Chương 6 kết luận và kiến nghị.
- 1 -
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam có hàng trăm cổ phiếu niêm yết nên nhiều nhà
đầu tư đôi khi sẽ rất lúng túng trong việc lựa chọn đối tượng để đầu tư. Vấn đề quan trọng
đối với họ là “chọn mặt gửi vàng”, nghĩa là phải tìm ra một số loại cổ phiếu thực sự có khả
năng sinh lời để đầu tư.
Một thực tế hiện nay là rất nhiều nhà đầu tư không biết các công ty được niêm yết cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán đang hoạt động như thế nào và đầu tư vào cổ phiếu của
các công ty nào sẽ có lãi? Dưới tác động của “hiệu ứng đám đông”, họ bắt chước nhau, cùng

- Phân tích tình hình giao dịch của cổ phiếu TSC trên Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE).
- Đánh giá cổ phiếu TSC dựa vào việc phân tích.
- Phân tích cổ phiếu TSC trên thị trường với mục tiêu là đưa ra dự báo về giá cổ phiếu
và xu hướng giá cổ phiếu trong tương lai, tìm khả năng sinh lời.
- Kiến nghị khi đầu tư vào cổ phiếu TSC.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian (địa bàn nghiên cứu)
Luận văn được thực hiện tại Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần
Thơ. Nguồn thông tin được sử dụng cho đề tài này được tổng hợp từ Phòng Kinh doanh và
Phòng Kế toán của công ty.
1.3.2 Thời gian (giai đoạn hoặc thời điểm thực hiện nghiên cứu)
- Thời gian thực hiện luận văn này bắt đầu từ ngày 31.01.2008 – 25.04.2008.
- Số liệu chỉ sử dụng trong luận văn này là số liệu từ năm 2005 đến 2007.
1.3.3 Phạm vi về nội dung
- Cơ sở lý luận, kiến thức cơ bản về phân tích cổ phỉếu
- Phân tích một số tình hình cơ bản của Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông
nghiệp Cần Thơ.
- Phân tích thực trạng cổ phiếu TSC khi niêm yết trên HoSE.
- Nhận xét và đanh giá cổ phiếu TSC.
- Kết luận và kiến nghị khi đầu tư vào cổ phiếu TSC.

- 3 -
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Công ty cổ phần
2.1.1.1 Khái niệm
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

ghi tên. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
b) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
c) Số lượng cổ phần và loại cổ phần;
d) Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;
đ) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc
tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của cổ đông là tổ chức đối với cổ
phiếu có ghi tên;
e) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần;
g) Chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty;
2.1.3 Chứng khoán
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình
thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
- Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng
tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Mệnh giá chứng khoán: Mệnh giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ chào bán lần đầu ra công
chúng là mười nghìn đồng Việt Nam. Mệnh giá của trái phiếu chào bán ra công chúng là một
trăm nghìn đồng Việt Nam và bội số của một trăm nghìn đồng Việt Nam.
2.1.4 Niêm yết chứng khoán
- Tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung
tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả
năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán.
- Tổ chức phát hành nộp hồ sơ niêm yết phải chịu trách nhiệm về tính chính xác,
trung thực và đầy đủ của hồ sơ niêm yết. Tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được
- 5 -
chấp thuận, người ký báo cáo kiểm toán và bất cứ tổ chức, cá nhân nào xác nhận hồ sơ niêm
yết phải chịu trách nhiệm trong phạm vi liên quan đến hồ sơ niêm yết.

- 6 -
tiền tệ khi các ngân hàng tài trợ vốn cho công tythông qua cấp tín dụng. Đối với những nhà
quản lý, việc sử dụng hệ số tài chính để giám sát quá trình kinh doanh, nhằm đảm bảo công
ty sử dụng hiệu quả các nguồn vốn sẵn có và tránh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh
toán.
Thông qua các hệ số tài chính, nhà quản lý thấy được tình trạng tài chính và hoạt động
của công ty có được củng cố không và liệu các hệ số nói chung của nó tốt hơn hay tồi tệ hơn
so với hệ số của các đối thủ cạnh tranh. Khi các hệ số này thấp hơn các chuẩn mực nhất định,
thì có giải pháp kiểm soát, khắc phục trước khi phát sinh các vấn đề nghiêm trọng. Ngoài ra,
việc phân tích các hệ số tài chính cũng cho phép nhà đầu tư hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa
bảng cân đối tài sản và các báo cáo tài chính (ví dụ như để tính toán thu nhập trên đầu tư của
một công ty cần phải lấy số liệu tổng tài sản từ bảng cân đối kế toán và số liệu lợi nhuận ròng
từ báo cáo thu nhập).
Hệ số tài chính được phân chia thành các nhóm dựa trên các tiêu chí về hoạt động,
khả năng thanh toán, nghĩa vụ nợ và khả năng sinh lời của công ty.
2.1.6.1 Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán
Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền
mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn. Việc quản lý khả năng thanh toán bao gồm việc khớp
các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả
năng thanh toán mang tính chất kỹ thuật. Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng,
nó quyết định đến nghĩa vụ nợ của công ty, do vậy sử dụng hệ số thanh toán được xem là
cách thử nghiệm tính thanh khoản của công ty. Trong thực tế hệ số thanh toán được sử dụng
nhiều nhất là hệ số khả năng thanh toán hiện tại và hệ số khả năng thanh toán nhanh (hay còn
gọi là hệ số thử axít).
- Hệ số thanh toán ngắn hạn là mối tương quan giữa tài sản lưu động và các khoản nợ
ngắn hạn, hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc đáp ứng nhu cầu thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn.
Tài sản lưu động
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn.

được thể hiện qua các hệ số: hệ số nợ; hệ số thu nhập trả lãi định kỳ; hệ số trang trải chung.
- Hệ số nợ hay tỷ lệ nợ trên tài sản cho biết phần trăm tổng tài sản được tài trợ bằng
nợ. Hệ số nợ càng thấp thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng ít và ngược lại hệ số nợ càng cao
thì hiệu ứng đòn bẩy tài chính càng cao.
Tổng số nợ
Hệ số nợ =
- 8 -
Tổng tài sản
- Hệ số nợ được phản ánh thông qua hệ số nợ trên vốn cổ phần (D/E) và hệ số nợ dài
hạn trên tổng tài sản (LD/TA). Hệ số nợ trên vốn cổ phần biểu thị tương quan giữa nợ dài
hạn và vốn cổ phần. Mức cao thấp của hệ số này phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh tế khác
nhau.
(Nợ dài hạn + Giá trị tài sản đi thuê)
Hệ số nợ trên vốn cổ phần (D/E)=
Vốn cổ phần.
- Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LD/TA) so sánh tương quan nợ với tổng tài sản
của một công ty, và có thể cho biết những thông tin hữu ích về mức độ tài trợ cho tài sản
bằng nợ dài hạn của một công ty, hệ số này có thể dùng để đánh giá hiệu ứng đòn bẩy tài
chính của một công ty.
- Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến
mức độ nào cũng rất quan trọng, và người ta đã sử dụng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. Hệ số
này đánh giá khả năng sử dụng thu nhập hoạt động (thu nhập trước thuế và lãi- EBIT) để trả
lãi của một công ty, hệ số này cho biết công ty có khả năng đáp ứng được các nghĩa vụ trả nợ
lãi đến mức nào, thông thường hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh
toán lãi của công ty cho các chủ nợ càng lớn.
EBIT
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ=
Chi phí trả lãi hàng năm.
2.6.1.4 Nhóm chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty
Trên thực tế người ta thường sử dụng một số hệ số sau để đánh giá hiệu quả sinh lợi

nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao thì các cổ
phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi
nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.
- Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong
quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết
định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường
(Market Price - PM) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính
như sau:
P/E = PM/EPS
Trong đó giá thị trường PM của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua
bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà
công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu
- 10 -
hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một
đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả
các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao
trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị
trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E
rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao
dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần
nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ,
sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.
2.1.7 Các chỉ báo kỹ thuật dung để phân tích và đánh giá cổ phiếu
Phân tích kỹ thuật cổ phiếu nhằm nghiên cứu những diễn biến hay hành vi thị trường -
thông qua việc nghiên cứu các mô hình giao dịch và các hành vi hiện tại của thị trường, vốn
đã phức tạp - để có thể biết được một cách sâu sắc các hành vi có thể xảy ra trong tương lai
của thị trường. Những thông tin về một cổ phiếu, hoặc một ngành, hoặc một thị trường đều
có thể được các nhà đầu tư nghiên cứu, xem xét, và do đó, nó phản ánh vào trong giá, cổ tức,
lợi nhuận và mô hình giao dịch. Thông thường các chỉ báo kỹ thuậy sau được nhà đầu tư sử

mũ trong 12 và 26 ngày. Bên cạnh MACD, một chỉ số khác là MACDA được phát triển bằng
cách tính trung bình trượt trong 9 ngày của MACD. Chỉ số này được xem như là chỉ số “dấu
hiệu”.
Đường 1 - MACD, được tính như sau:
MACD = EMA(12) – EMA(26)
- 12 -
Đường thứ 2 - MACDA, là đường trung bình trượt hàm mũ của đường 1, được tính như
sau:
MACDA(n) = MACD(n-1)+[k*(MACD(n)-MACD(n-1)
Với n là khoảng thời gian hiện tại, k là hằng số làm trơn, và 9 là số điểm mẫu MACD
được sử dụng để tính MACDA.
Cách sử dụng
Cách sử dụng MACD khá đơn giản, tín hiệu giao dịch chủ yếu dựa trên sự giao nhau của
đường MACD và MACDA. Trong ví dụ trên, màu xanh là đường MACD và màu đỏ là
đường MACDA. Mua vào khi đường xanh cắt và vượt lên trên đường đỏ và bán ra khi
đường xanh cắt và ở phía dưới đường đỏ.
Đồ thị 2: Ví dụ minh họa sử dụng đường MACD
Từ đồ thị trên có thể thấy tín hiệu mua đầu tiên vào đầu tháng 11, sau đó là tín hiệu mua
vào tiếp tục xuất hiện vào đầu năm 2007 và tiếp theo là một tín hiệu bán khác vào khoảng
giữa tháng tháng 3. Mỗi tín hiệu này được xem như một dấu hiệu cho phép ta chuyển sang
một vị thế mới mà không nhất thiết phải dừng hoặc thoát ra khỏi thị trường.
MACD là chỉ số xu hướng, nó không có các giới hạn trên và dưới. Nó cũng có thể sẽ
tăng mãi chứ không dừng lại như các chỉ số giao động, vì thế chúng ta không nên áp dụng
các nguyên tắc của đường bán quá nhiều/mua quá nhiều cho MACD. Thay vì thế, chúng ta
nên dùng đường 0 như một đường tham chiếu: khi đường MACD vượt lên trên hoặc xuống
dưới đường 0, đó là báo hiệu cho một sự thay đổi xu thế dài hạn. Nếu MACD vượt lên trên
đường 0, xu thế thị trường bò tót xuất hiện và nếu dưới 0, đó là xu thế thị trường gấu. Trong
- 13 -
ví dụ trên, tất cả các giao điểm đều nằm phía trên đường 0, vì thế rõ ràng chúng đang ở thị
trường bò tót.

Mua khi thị trường ở mức oversold và bán khi thị trường ở overbought lưu ý chỉ áp dụng
điều này cho 1 thời kỳ biến động còn khi đang hình thành 1 xu hướng thì sẽ không đúng.
• EMA như là vai trò của đường hỗ trợ hay kháng cự (support or resistance). Mua khi
RSI tăng lên trên EMA và bán khi RSI rơi xuống dưới EMA. EMA là 1 tính hiệu trễ và
thường đưa ra tín hiệu mua khi vượt qua thời kỳ uptrend.
• Bullish divergence (tín hiệu phân kỳ mua): tín hiệu mua khi đường giá đang đi xuống
trong khi RSI thì đang tăng, tương tự bearish divergence (tín hiệu phân kỳ bán): tín hiệu bán
khi đường giá tăng trong khi đường RSi thì lại giảm. Mặt hạn chế của sự phân kỳ
(divergence) là chúng cố gắng báo trước 1 xu hướng đảo chiều thay vì xác định theo 1 xu
hướng.
• Dạng đồ thị: xu hướng, kháng cự/hỗ trợ, tam giác (triangles), đầu-vai (head and
shoulders) khi áp dụng RSI nó giống như đường dẫn cho giá. Cái dở là dạng đồ thị: xu
hướng, tam giá... là quan điểm cá nhân phụ thuộc vào chủ quan của từng traders nên không
thể sử dụng trong trading system.
2.1.7.4 Chỉ báo về xung lượng Momentum
Chỉ số xung lượng đo tốc độ thay đổi của giá đóng cửa. Nó được sử dụng để nhận diện
mức suy yếu của xu thế và các điểm đảo chiều. Chỉ số này thường bị đánh giá thấp do sự đơn
giản của nó.
Không có nhiều tài liệu nói về chỉ số xung lượng vì các nhà phân tích cho rằng nó không
đủ mạnh và hiệu quả để sử dụng cho việc nghiên cứu và đánh giá.
Tôi thì cho rằng có một điều gì đó đằng sau mà chúng ta không nhìn ra. Và cuối cùng tôi
cũng đã tìm thấy một điểm khá thú vị, điểm mà tôi rất tâm đắc về chỉ số này. Đây cũng
chính là ý tưởng mấu chốt của chỉ số này.
Quá trình cung và cầu của thị trường thường sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lí của
người giao dịch: lòng tham và nỗi sợ hãi. Điều đó có thể tạo ra cơn sốt khủng khiếp và
những động thái đó sẽ chi phối đến giá cả hiện tại của thị trường.
- 15 -
Thường thì việc phân tích xung lượng không được gắn liền với các chiến lược và
phương pháp trong giao dịch. Trước nay, các nhà phân tích chỉ sử dụng nó một cách đơn lẻ
mà không quan tâm nhiều đến mối quan hệ với khối lượng và động thái của thị trường. Đó

hiệu quả.
Dưới đây là một trong những cách giao dịch sử dụng kỹ thuật này để mua cổ phiếu:
• Cho dù cả chỉ số xung lượng và RSI đều chỉ ra thời điểm bán quá nhiều trùng nhau,
chúng ta vẫn không chắc chắn liệu có thể đó chỉ là một sự dịch chuyển mạnh để sau đó dẫn
đến một sự phá vỡ (breakout) trong ngắn hạn hay không. Vì thế, chúng ta phải đợi cho đến
khi 2 chỉ số này bắt đầu tăng. Khi giá tiến đến giữa Bollinger band (điểm M), chúng ta bắt
đầu đặt lệnh mua với mục đích dài hạn. Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là khi
RSI đi qua đường 30 lần đầu tiên (điểm X) trong khi chỉ số xung lượng đang đi xuống, liệu
đây có phải thời điểm bạn nên mua vào hay không? Tất nhiên là không. Đây chính là điểm
cốt lõi mà tôi muốn chỉ ra về hiệu quả của việc sử dụng chỉ số xung lượng trong việc dự đoán
xu hướng khi mà những chỉ số khác không chỉ ra được.
• Đặt mức dừng thua lỗ (stop loss) ngay dưới điểm đáy vừa được thiết lập (điểm P), nơi
mà RSI cũng chạm đáy (điểm R) và bắt đầu có xu hướng đi lên.
• Khi giá chạm đường trên của BollingerBand (điểm T1) chúng ta có thể thoát khỏi thị
trường.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp thu thập, xử lý số liệu.
Trực tiếp thu thập số liệu thực tế được cung cấp từ Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật
Nông nghiệp Cần Thơ về Báo cáo tài chính qua các năm 2005, 2006, 2007 và Bảng cáo bạch.
Đồng thời, em còn tham khảo thu thập số liệu, thông tin từ một số Website và một số sách
báo, tạp chí chuyên ngành.
Phương pháp xử lý số liệu: phương pháp mô tả thông qua bảng biểu thống kê, kết hợp
phân tích, so sánh và đưa ra nhận xét, đánh giá kết quả để làm nổi rõ vấn đề nghiên cứu. Áp
dụng phương pháp tỷ số, phương pháp số tuyệt đối, số tương đối qua các năm.
2.2.2. Phương pháp phân tích tình hình chung của công ty
2.2.2.1. Phương pháp so sánh
- Bằng số tuyệt dối
Là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
Trong đó:
y

độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu. Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục.
2.2.2.2 Phương pháp sơ đồ Dupont và một số phương pháp khác
Phương trình Dupont phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận trên vốn đầu tư, sự luân
chuyển của tài sản có, mức lợi nhuận trên doanh thu và mức nợ.
ROA = Mức lợi nhuận trên doanh thu x Tỷ số luân chuyển tài sản có
Lợi nhuận ròng Doanh thu
 ROA = x (1)
Doanh thu Tổng tài sản có
Phía bên trái của sơ đồ (1) triển khai mức lợi nhuận ròng trên doanh thu nhân với doanh
thu trên tổng tài sản có. Nếu mức lợi nhuận thấp hoặc có xu hướng giảm, ta có thể phân tích
từng khoản mục chi phí để tìm ra những chi phí bất hợp lý từ đó có những giải pháp xử lý
thích hợp. Doanh thu trên tổng tài sản có tìm ra tỷ số luân chuyển tài sản có của một công ty.
ROE = ROA x Hệ số vốn tự có
Lợi nhuận ròng Tổng tài sản có
 ROE = x (2)
Tổng tài sản có Vốn tự có
- 18 -
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có (ROE) được tính bằng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài
sản có (ROA) nhân với hệ số vốn tự có, tức là nhân với tỷ số tài sản trên vốn tự có.
Ta kết hợp phương trình (1) và (2) để hình thành phương trình Dupont mở rộng:
ROE = (Mức lợi nhuận trên doanh thu) x (Tỷ số luân chuyển TSC) x (Hệ số vốn tự có)
Lợi nhuận ròng Doanh thu Tổng tài sản có
 ROE = x x
(3)
Doanh thu Tổng tài sản có Vốn tự có
2.2.2.3 Phương pháp sử dụng biểu đồ
Sử dụng phần mềm phân tích kỹ thuật là Metastock để phân tích chứng khoán, sử dụng
các đồ thị, hình vẽ kết hợp với công cụ phân tích kỹ thuật để đưa ra nhận định, đánh giá
chứng khoán cần đầu tư.
Để có thể vẽ biểu đồ và thiết lập các chỉ báo phân tích, dự đoán cho chứng khoán ta

Bộ nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn) và quyết định số 1105/QĐ-UBT92 ngày 31/10/1992 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
tỉnh Cần Thơ.
3.1.1.2 Chuyển đổi sở hữu thành Công ty Cổ phần và niêm yết cổ phiếu tại Sở giao
dịch chứng khoán
 Chuyển đổi sở hữu
Tích cực hưởng ứng chủ trương Cổ phần hoá Công tyNhà nước, tháng 10 năm 2002
Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ đã có công văn đến Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh
Cần Thơ (nay là Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Cần Thơ) xin được cổ phần hoá. Sau một thời
gian chuẩn bị, Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ được thành lập theo
quyết định số 2500/QĐ-CT.UB ngày 25 tháng 07 năm 2003 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
tỉnh Cần Thơ về việc chuyển Công tyNhà nước Công ty Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần
Thơ thành Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ (hình thức cổ phần hoá:
giữ nguyên vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn)
và chính thức hoạt động theo hình thức Công ty Cổ phần từ ngày 01 tháng 08 năm 2003.
 Thời điểm trở thành công ty cổ phần đại chúng
- 20 -
Theo quy định của Bộ tài chính và Uỷ Ban Chứng khoán Nhà nước, đến ngày 11 tháng
06 năm 2007, Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ đủ điều kiện của một
Công ty Đại chúng và chính thức gởi hồ sơ đăng ký Công ty Đại chúng với Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước vào ngày 21 tháng 06 năm 2007.
 Niêm yết
Thực hiện đúng định hướng phát triển ngay từ khi chuyển thành Công ty Cổ phần,
ngày 09 tháng 04 năm 2007 Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ ký hợp
đồng tư vấn số 01 với đơn vị tư vấn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam để thực hiện niêm yết cổ phiếu Công ty tại sàn giao dịch chứng
khoán của Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngày 24 tháng 09 năm 2007,
Tổng giám đốc Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh có quyết định số
113/QĐ-SGDCK chấp thuận niêm yết cổ phiếu của TSC; Ngày 04 tháng 10 năm 2007, Cổ
phiếu của Công ty Cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ với mã chứng khoán TSC

Xí nghiệp thuốc sát trùng Cần Thơ và TSC giữ 30% vốn điều lệ tại Xí nghiệp này. Đến cuối
tháng 07 năm 2003, Công ty hoàn tất việc cổ phần hoá, chính thức chuyển sang hoạt động
dưới hình thức Công ty Cổ phần. Lúc này, nguồn vốn Công ty tham gia góp vốn tại Xí
nghiệp thuốc sát trùng Cần Thơ được chuyển về cho Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Cần Thơ (nay là
Uỷ Ban Nhân dân TP. Cần Thơ) quản lý.
3.1.2.4 Từ tháng 08 năm 2003 đến nay
Chuyển hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần từ ngày 01 tháng 08 năm 2003 theo
quyết định số 2500/QĐ-UBT ngày 25 tháng 07 năm 2007 của Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân
Thành Phố Cần Thơ với vốn điều lệ 60 tỷ đồng. Trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Công ty Cổ phần số: 5703000049 đăng ký lần đầu ngày 25 tháng 07 năm 2003 ngành nghề
kinh doanh của TSC là: Nhập khẩu kinh doanh phân bón các loại. Thu mua, gia công,
chế biến, cung ứng xuất khẩu gạo và các loại nông sản. Nhập khẩu kinh doanh máy
móc thiết bị và tư liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp. Đại lý cung ứng các loại tư liệu
sản xuất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Để thực hiện định hướng phát triển, Công ty đã tiến hành tăng vốn điều lệ từ 60 tỷ
đồng lên 83,12915 tỷ đồng vào tháng 04 năm 2007. Ngày 13 tháng 09 năm 2007 Công ty tiến
hành đăng ký kinh doanh bổ sung lần thứ 03; Ngoài các ngành nghề đã đăng ký lần 1, trong
lần đăng ký này Công ty bổ sung các ngành, lĩnh vực sau: nhập khẩu, kinh doanh nguyên
liệu sản xuất thức ăn gia súc, thức ăn thuỷ sản; Sản xuất thức ăn gia súc, thức ăn thuỷ
sản. Nhập khẩu, kinh doanh nguyên liệu, phụ liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vật và
các chế phẩm phân bón. Nhập khẩu, kinh doanh hạt giống phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp. Kinh doanh địa ốc, bất động sản và văn phòng cho thuê. Các ngành nghề đăng
- 22 -
ký kinh doanh bổ sung nằm trong định hướng mở rộng hoạt động của Công ty; tuy nhiên việc
triển khai các ngành nghề lĩnh vực mới được cân nhắc 1 cách thận trọng sau khi phân tích tất
cả các yếu tố có liên quan, chỉ triển khai khi thời cơ thuận lợi trên cơ sở đảm bảo hiệu quả
kinh tế.
3.1.3 Phân tich điểm mạnh, yếu, cơ hội, đe dọa của TSC
3.1.3.1 Điểm mạnh của TSC
Trong


Thơ
luôn



đơn

vị

kinh

doanh



hiệu

quả,

dẫn

đầu

về

hiệu

quả



số

nhập

khẩu

phân

bón

lớn

nhất

Việt

Nam. Như
vậy,

với

vị

thế



01



sản

xuất

kinh

doanh

cao



ổn

định

trong

nhiều

năm

liền, rõ

ràng
Công

ty


so

với

các
công ty khác

trong

ngành.
Doanh

thu

hàng

nhập

khẩu

của

Công

ty

(kể

cả



tiêu

thụ)

hiện

chiếm

khoảng

10%

thị

phần

tiêu

thụ

phân
bón nhập

khẩu

trong

cả



Công

ty

từ

hơn 15

năm

nay,



kinh

nghiệm

trong

kinh

doanh

phân

bón,

vật

đối

lớn

của

Công

ty
ngay

từ

khi

Công

ty

thực

hiện

cổ

phần hóa.

Hệ

thống

miền

Đông Nam

Bộ



Tây

Nguyên.

Đây



điểm

mạnh
nổi

trội

của

Công

ty

Cổ

ngành.
Với

phương

châm

giao

dịch


C
h+
í
nh

x
á
c



T
r
un
g

t
h

lệ

q
u
ốc

tế

,

Công

ty



uy

tín

rất

cao

với

các

nhà



nhập

khẩu.
Trụ

sở

chính

của

Công

ty

đặt

tại

thành

phố

Cần

Thơ





chiếm

95%

lượng

gạo

xuất
khẩu

của cả

nước



tiêu

thụ

trên

60%

lượng

phân



Cổ

phần

Vật



kỹ

thuật

nông
nghiệp Cần

Thơ

đã

trở

nên

quen

thuộc,

thân





khu

vực

Đồng

bằng

Sông

Cửu

Long.

Trong

lĩnh

vực

vật


nông

nghiệp, thương


nông

dân,

các

nhà khoa

học



các



quan

quản



bình

chọn



“Bạn



phẩm

(nông

sản
chế

biến,

thuốc

bảo

vệ

thực

vât, phân

bón

v.v…)

được

người

tiêu



t

l
ư

n
g

s

n

p
h

m

tốt



Gi
á

c


c



đề

cho

Công

ty

không

chỉ

tiếp

tục
phát

triển

kinh

doanh

các

mặt

hàng



mới.
Trong

kinh

doanh,

chất

lượng

sản

phẩm

luôn

luôn

được

Công

ty

đặt

lên



nào

từ

khách

hàng

về
các

sản phẩm



TSC

hoặc

WFC

cung

cấp:
+ Đối

với

phân

tập đoàn,

nhà

máy

nổi

tiếng

trên

thế

giới.
+ Đối

với

gạo

xuất

khẩu:

cho



lượng

của

Công

ty

luôn

đảm

bảo

chất

lượng



hiện

tại
được

khách hàng

đánh

giá



vực

Đồng

bằng Sông

Cửu

Long.
+ Đối

với

nông

sản

xuất

khẩu:

điều

đặc

biệt



Công

phẩm



xuất

khẩu

sản

phẩm

tinh
chế

(đóng lon)

với

các

tiêu

chuẩn

đã

đạt

được

Hoa

Kỳ).
Qua

hơn

10

năm

giữ

được

uy

tín

tuyệt

đối

trong

các

hợp

đồng

sự

tín

nhiệm

rất

cao

từ

các
ngân

hàng thương

mại.
Công

ty

Cổ

phần

Vật





tạo

được

sự

đoàn

kết,

tương

thân

tương

ái,

phát

huy
tính

năng động,

sáng

tạo



phong cách

sống

làm

việc



quan

hệ

cộng

đồng.

Nhiều

năm

liền

Công

ty

được

Nông

nghiệp



Phát

triển

Nông

thôn,

đến

năm

2010

diện
tích gieo

trồng

của

cả

nước

ha.

Với

diện

tích

gieo

trồng

này,

nhu

cầu

phân

bón

của

Việt

Nam
- 24 -
cho




650.000

tấn
Kali và

khoảng

2,2



2,5

triệu

tấn

NPK

(tính

đến

31/05/2007,

công

suất

với

gạo

xuất

khẩu,

trong

nhiều

năm

tới

xuất

khẩu

gạo

vẫn



một

trong



tranh
ngày

càng gay

gắt



hy

vọng

tìm

kiếm

lợi

nhuận

cao

từ

hoạt

động


chủ

sở

hữu

Công

ty

quá

cao

(cuối

năm

2006 là

67,3%,

đến

ngày

16/07/2007


56,88%


ra

công
chúng

để

tăng

vốn

bởi



Công

ty

không

thuộc đối

tượng

Nhà

Nước



thời

gian

đầu

thành

lập.
Qua

02

năm

trở

lại

đây,

thị

trường

ngành

hàng kinh



thì

tính

chủ

động

nhạy

bén

hết

sức

cần
thiết,

nhưng

bị

hạn

chế

bởi


Đối
v

i ph
â
n bón
:

trong

kinh

doanh

phân

bón,

mặt

hàng



khả

năng

đem



sử

dụng

phân

bón của


con

nông

dân,

nhất



nông

dân

vùng

Đồng

bằng



ty

nhận

thấy

nhu

cầu

Urê năm

2006

giảm

khoảng
trên

30%),



thay

vào

đó



được

Nhà

Nước



lỗ

khi đồng

hành

đầu

vào

gần

như
chiếm

lĩnh

thị

trường


trong

kinh

doanh

phân

bón là từ

năm

2006

giá

cả

trên

thị

trường
thế

giới

biến

động

quy

luật

thuận

chiều.
- 25 -

Trích đoạn Phân tích Dupont Chỉ tiêu quản lý Chỉ tiêu trên cổ phần Bảng 6: Các chỉ tiêu trên vốn cổ phần Khối lượng khớp lệnh giao dịch Giá khớp lệnh qua các phiên giao dịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status