Câu 5:
Đồng chí hãy vận
dụng mối quan hệ giữa
chính trị với KT và thực tiễn
đổi mới của cách mạng Việt
Nam để làm sáng tỏ bài học
sau: “kết hợp chặt chẽ ngay
từ đầu đổi mời KT với đổi
mới chính trị, lấy đổi mới
kinh tế làm trọng tâm, đồng
thời từng bước đổi mới
chính trị” (VK ĐH VIII,
NXB CTQG Trang 71)
Bài làm
Sau 10 năm thực
hiện đường lối đổi mới toàn
diện (1986-1996) và 5 năm
thực hiện nghị quyết ĐH
Đảng lần thứ VII. Đất nước
ta đã vượt qua 1 giai đoạn
thử thách, gay go, khủng
hoảng trầm trọng về KT-XÃ
HỘI. Trong những hoàn
cảnh hết sức khó khăn phức
tạp đó, nhân dân ta không
những đứng vững, kiên trì
tiến lên CNXH mà còn vươn
lên đạt thắng lợi nổi bật trên
nhiều mặt. Để tổng kết
chặng đường đổi mới 10
công việc nhà nườc hay xã
hội. Phạm vi hoạt động gắn
với những quan hệ giữa các
giai cấp, giữa các dân tộc và
các nhóm xã hội khác nhau
mà hạt nhân của nó là vấn đề
giành, giữ và sử dụng quyền
lực nhà nước.
Kinh tế theo nghĩa gốc thì
Economi có nghĩa là tính
hiệu quả, tiết kiệm. Theo
nghĩa rộng thì KT là chỉ hệ
thống các quan hệ kinh tế,
QHSX của một hình thái
KT-XÃ HỘI, là tổng thể nền
kinh tế quốc dân của một
quốc gia với các ngành, các
lĩnh vực kinh tế kỹ thuật cụ
thể.
Theo CN MácLênin thì KT bao giờ cũng
quyết định chính trị và điều
này được khẳng định hoàn
toàn trong lý luận cũng như
trong thực tiễn.
+ Về mặt lý luận: theo CN
Mác-Lênin thì cơ sở hạ tầng
(KT) quy định cấu trúc và
tính chất của KTTT (chính
trị) và tồn tại xã hội quyết
tính chất và kiểu quan hệ
giữa các lĩnh vực khác nhau
trong đời sống xã hội (đạo
đức, pháp luật, tình cảm…)
Trong khi nhấn
mạnh vai trò của cơ sở hạ
tầng (KT) đối với KTTT
(CT), quan điểm của CN
Mác-Lênin khẳng định rằng
chính trị mặc dù bị kinh tế
quyết định nhưng CT lại có
tính độc lập tương đối và có
sự tác động trở lại KT rất
mạnh mẽ.
+ Về mặt lý luận: theo CN
Mác-Lênin thì kiến trúc
thượng tầng (CT) cũng có sự
tác động trở lại đối với cơ sở
hạ tầng (KT) và ý thức xã
hội cũng có sự tác động trở
lại đối với tồn tại xã hội.
+Về mặt thực tiễn: do nhận
thức được quy luật KT
khách quan, KTTT (CT) có
vai tró định hướng cho quy
luật KT, mang lại phương án
tối ưu cho phát triển KT và
phục vụ vì lợi ích của GC.
Với ý nghĩa đó, chính trị ra
triển xã hội nếu không thì
có thể gây ra bất ổn về
chính trị. Vì vậy, nhà
nước phải điều chỉnh cho
cân đối tô1c độ phát triển
giữa các ngành, các lĩnh
vực của nền KT.
Vai trò tác động
của chính trị tác động đến
các chủ thể KT: một
thành phần KT được coi
là một chủ thể KT, mỗi
chủ thể KT có vai trò, địa
vị, lợi ích riêng. Vì vậy,
từ cơ sở KTTT (CT) phải
có sự kiểm soát, tạo điều
kiện tác động cho các chủ
thể KT phát triển để cho
họ thực hiện được lợi ích
riêng của họ và phải tạo
điều kiện cho họ góp
phần vào việc thực hiện
lợi ích chung. Định
hướng XHCN là mục tiêu
chung, không chỉ riêng có
thành phần KT XHCN
mà phải huy động tất cả
các thành phần kinh tế.
Song cũng cần phải xác
thông qua quy luật đó tác
động tạo điều kiện cho KT
phát triển và như vậy CT
thực sự là động lực phát
triển KT.
Chính trị tác động
ngược chiều với KT thì nó là
lực cản quá trình phát triển
KT-xã hội. Nghĩa là chính
trị không nhận thức đúng
hoặc nhận thức không đầy
đủ quy luật khách quan. Ví
vậy, các chủ trương chính
sách của đảng và nhà nước
đề ra không đúng quy luật
khách quan thì nó là lực cản
của quá trình phát triển KT.
Ví dụ: Sai lầm chủ quan
nóng vội cải tạo XHCN
(xoá các thành phần
KT), sai lầm trong công
nghiệp hoá chỉ chú trọng
phát triển công nghiệp
nặng không quan tâm
phát triển nông nghiệp,
công nghiệp nhẹ.
Sai lầm duy trì quá lâu
cơ chế KT tập trung
động quản lý của nhà
nước. Tuyệt đối hoá vai
trò của chính trị sẽ dẫn
tới chủ nghĩa duy tâm
duy ý chí.
Hai luận điểm của
Lênin về mối quan hệ giữa
CT với KT:
+ “Chính trị là biểu hiện tậo
trung của KT”: Lênin khẳng
định chính trị phả ánh KT
nhưng nó không phản ánh
giản đơn; KT như thế nào thì
CT phả ánh như thế đó.
Song nó không như tấm
gương soi. Sự hình thành,
tồn tại vàphát triển của chính
trị là trên cơ sở những đòi
hỏi khách quan của sự phát
triển KT.
o
Chính trị phả ánh
tập trung KT có nghĩa là:
Nó phải phản ánh
được lợi ích KT của GC và
phản ánh được bản chất của
một chế độ kinh tế, nó phản
ánh cái cốt lõi (cơ bản), bền
Nhận thức một
cách khoa học thực trạng KT
và những quy luật KT
Lựa chọn hình thức
tổ chức, chính sách phù hợp
bảo đảm phát huy tối ưu tác
dụng của các quy luật KT
Xây dựng tri thức
khoa học để giác ngộ quần
chúng hành động phù hợp
quy luật
Với luận điểm trên Đảng ta
rút ra 2 vấn đề sau:
Không nên hiểu
một cách đơn giản là KT
nhiều thành phần có đối lập,
đối khánh thì chính trị với tư
cách là sự phản ánh của KT
là chính trị đa nguyên, đa
đảng
Trong KT có đối
kháng nhưng nếu có nột
thành phần KT chủ đạo đủ
mạnh chi phối các thành
triển hệ thống chính trị).
Ưu tiên chính trị so với KT
thì ván đề đặt ra là:
Khi giải quyết các
vấn đề KT thì phải góp phần
duy trì củng cố quyền lực
chính trị. Mặt khác, trong
KT dù cải tổ hay đổi mới
như thế nào cũng phải luôn
giữ vững hệ tư tưởng chính
trị vì hệ tư tưởng CT quy
định phương hướng mục
tiêu, bản chất của chế độ xã
hội. Lênin viết: “không có
một lập trường chính trị
đúng thì một GC nhất định
nào đó không thể nàogiữ
vững được sự thống trị của
mình và do đó không thể
hoàn thành được nhiệm vụ
của mình trong sản xuất”.
(lênin toàn tập, Tập 43
Trang 300)
Trong điều kiện
cách mạng XHCN, sự ưu
tiên của CT so với KT là tất
yếu để xây dựng CNXH.
lập, thống nhất, những
thành quả đổi mới của nước
ta…
Phải có quan điểm
chính trị đúng khi xử lý các
vấn đề KT như: vấn đề dân
tộc và GC, quan hệ làm ăn
với nước ngoài phải vì lợi
ích của dân tộc…
Mối quan hệ giữa
CT và KT trong công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay:
+ Trước ĐH Đảng toàn
quốc lần thứ VI (1986),
trong công cuộc cách mạng
XHCN Đảng ta đã chủ
quan, nóng vội mắc phải
nhiều sai lầm về một số vấn
đề có tính chiến lược như
mô hìnhKT, công nghiệp
hoá, hợp tác hoá, cải tạo
XHCN… chúng ta xác định
sai lầm bước đi, không tập
trung phát triển nông
nghiệp, công nghiệp nhẹ
mà thiên về công nghiệp
nặng, ham làm nhanh, làm
định:
1) Giải quyêt tương
quan giữa đổi mới KT và
đổi mới chính trị:
Trong đổi mới, Đảng ta xác
định lấy đổi mới KT làm
trọng tâm và tuỳ theo yêu
cầu đổi mới KT mà từng
bước đổi mới về chính
trị.chủ trương đổi mới kinh
tế là chuyển từ KT tập
trung quan liêu, bao cấp,
căn bản dựa trên sở hữu
toàn dân và tập thể, sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự
quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN, dước
sự lãnh đạo của Đảng;
chuyển từ một nền kinh tế
cơ bản là khép kín, tự cung
tự cấp sang một nền KT
mở, kết hợp tăng trưởng
KT với công bằng xã hội,
bảo vệ môi trường sinh thái
từng bước đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước theo định
hướng XHCN.
Chúng ta xây dựng nền KT
vô sản, làm cho các tổ chức
trong chính trị hoạt động
năng động và có hiệu quả.
Đổi mới các nhân tố trong
hệ thống chính trị là đổi
mới: Đảng, nhà nước và
các tổ chức chính trị-xã hội
trong hệ thống chính trị
của nước ta. Đổi mới Đảng
là nâng cao năng lực và
sức chiến đấu của Đảng để
đáp ứng được vai trò lãnh
đạo của Đảng trong công
cuộc đổi mới. Đổi mới nhà
nước là nâng cao vai trò
điều hành quản lý của nhà
nước, xây dựng một nhà
nước pháp quyền XHCN,
là nhà nước quản ly, điều
hành xã hội bằng pháp
luật, là nhà nước thật sự
dân chủ, nhà nước của
dân, do dân và vì dân.
Ngoài ra, các đoàn thể
quần chúng nhân dân phải
thực sự là cầu nối giữa
Đảng-nhà nước-nhân dân.
Đồng thời giải quyết tốt các
vấn đề xã hội, giải quyết về
quan hệ giai cấp sao cho
định hướng cho sự phát
triển KT hàng hóa nhiều
thành phần
Đảng
ta
chủ
trương nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần,
định hướng XHCN, có
nghĩa là mục tiêu CNXH
phải giữ vững. CNXH phải
tiếp cận nền KThh nhiều
thành phần mới phát huy
được tiềm năng của xã hội,
tính năng động sáng tạo
của các thành phần KT và
phù hợp với quy luật phát
triển chung.
3) Kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần luôn đặt
dười sự lãnh đạo của
Đảng:
Khi chuyển sang nền KT
theo cơ chế thị trường với
nhiều hành phần KT thì có
nhiều người cho rằng nền
KT nhiều thành phần tất
yếu phải có đa thành phần
trong chính trị. Điều này
đã được Đảng ta lý giải là
dân… và đó chính là nhiệm
vụ chủ yếu của cả thời kỳ
quá đo. Song, phát triển
nền KT hàng hóa nhiều
thành phần định hướng
XHCN phải có sự lãnh đạo
của Đảng, nếu thoát ly sự
lãnh đạo của Đảng thì tất
yếu không còn CNXH. Do
vậy, Đảng ta không chấp
nhận đa nguyên chính trị,
đa Đảng đối lập là nguyên
tắc cao nhất của thời kỳ đổi
mới ở nước ta hiện nay.
Sự khẳng định đó không
phải là ý muốn chủ quan
mà là phù hợp quy luật
khách quan, của lịch sử cn
Việt Nam và phù hợp con
đường và mục tiêu CNXH
mà Đảng và Bác Hồ đã lựa
chọn. Thực tế cho thấy
không có một GC nào tự
chia sẻ quyền lực cho GC
khác, kể cả ở các nước TB
cũng vậy. Song, để tự
khẳng định chính mình,
Đảng phải tự đổi mới vươn
lên ngang tầm nhiệm vụ.
NQ TW6 (lần 2) khoá VIII
chủ đạo, chi phối toàn bộ
nền KT, các thành phần
KT khác với tính cách là
những phương tiện để thực
hiện mục tiêu CNXH.
Song, để phân biệt giữa
CNTB và CNXH thì cái
chính là quyền lực chính
trị, nghĩa là nhà nước đó là
của ai thì nó sẽ hướng nền
kinh tế đó vận động theo
mục tiêu nhất định.
Để giữ vững định hướng
XHCN trong điều kiện nền
kinh tế nhiều thành phần
phải có nhà nước mạnh
mới có thể làm hạn chế
những khuyết tật vốn có
của nền kinh tế thị trường.
Đây là một nguyên tắc, lịch
sử cho thấy nhà nước quản
lý điều hành làm cho nền
KT-xã hội ổn định, nếu
không thì nó sẽ trỏ thành
một nền KT-xã hội vô tổ
chức, vô kỷ luật. Vì vậy, để
giữ vững ổn định xã hội và
nền kinh tế luôn luôn phát
triển nhà nước phải tạo
điều kiện thuận lợi cho các
viên; đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với
toàn bộ đời sống KT-xã hội
phù hợp với yêu cầu và quy
luật khách quan của nền
KT.
Đổi mới bộ máy
nhà nước và hướng tới là
xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN, nghĩa là nhà
nước quản lý điều hành xã
hội bằng pháp luật, là làm
cho bộ máy nhà nước đủ
mạnh để lãnh đạo toàn bộ
nền KT quốc dân. Nhà
nước đủ mạnh thì đủ sức
điều khiển bánh xe KT thị
trường theo quỹ đạo XHCN
và tiến lên CNXH, CNCS
mang lại cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho toàn dân
tộc.
Đổi mới các đoàn
thể quần chúng nhân dân
là làm cho các tổ chức này
với tư cách là đại diện cho
lợi ích của nhân dân lao
động. Làm được điều đó có
nghĩa là góp phần tạo ra
động lực cho quá trình đổi
vữngchắc.
Thực sự 15 năm đổi mới
Đảng ta đã xử lí tốt các mối
quan hệ đó. Chúng ta tin
tưởng rằng Đảng và nhà
nước sẽ tiếp tục đổi mới
thành công hơn nữa đáp ứng
được lòng tin yêu của dân
đối với Đảng. Đảng tin dân,
dân tin Đảng, phấn đấu vì
mục tiêu: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Câu 1: Đồng chí hãy trình
bày những nội dung cơ bản
của lịch sử tư tưởng chính trị
ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại.
Nêu giá trị của nó đối với sự
nghiệp đổi mới ở nước ta
hiện nay.
Bài làm
A,
Trung quốc là một
trong những nước có nền
văn minh lâu dài vào bậc
nhất thế giới. Vào TK XXI
trước công nguyên Trung
Quốc đã bước vào XH
trương người cầm quyền
phải thực thi đức trị. Nghĩa
là nhà cầm quyền phải dùng
đức để cảm hóa XH vào kỷ
cương nề nếp.
Nghĩa là cầm quyền phải
dùng đức để cảm hoá hướng
XH vào kỷ cương nề nếp.
Khổng Tử cực lực phản đối
dùng pháp luật hình phạt
như là công cụ chủ yếu để
cai trị. Khổng Tử cho rằng:
cai trị XH bằng pháp luật thì
dân sự nhưng không phục,
chỉ có cai trị XH bằng đạo
đức (đức trị) thì dân mới
phục.
Nội dung:
+ Phạm trù nghĩa-lợi và vấn
đề quản lý Xh: ở Khổng Tử
chưa đặt ra vấn đề này một
cách rõ ràng. Mạnh Tử là
người đầu tiên sử dụng
phạm trù này một cách có hệ
thống trong việc quản lý
XH. Mạnh Tử phản đối”lợi”
là động lực của sự phát triển
XH. Ong cho rằng nếu mọi
trị: Nền tảng của đạo đức là
huyết thống. Khổng Tử từng
nói: hiếu làgốc của học
thuyết nhân. Những người
con nào hiếu với cha mẹ thì
không bao giờ lại là kẻ bề
tôi bất trung cả. Như vậy,
đức trị gắn đạo đức và chính
trị. Hiếu gắn liền với trung
(trai thời trung hiếu làm đầuNĐC). (trong học thuyết của
Khổng Tử thì đạo đức, huyết
thống và chính trị quyện làm
một. Đạo đức cũng tức là
chính trị và chính trị cũng
chẳng qua là sự mở rộng của
D8ạo d0ức mà thôi).
+ Vương quyền và thần
quyền: để củng cố vương
quyền, khổng tử gắn chặt nó
với thần quyền. Lễ giáo vừa
có mục đích tỏ lòng sùng bái
với tổ tiên vừa có mục đích
hướng về thần quyền. Dùng
lễ giáo để kết hợp chặc chẽ
giữa vương quyền và thần
quyền là chính sách khôn
khéo của đức trị.
Chủtrương đức trị
được GC phong kiến TQ
địch hơn cả sức mạnh của trí
tuệ và sức mạnh của lưỡi
gươm.
+ Ngòi ra, do bản thân pháp
luật là bình đẳng (ít ra cũng
bình đẳng trước pháp luật)
thế nhưng trong XH đẳng
cấp như xã hội phong kiến
thì làm sao thực hiện được
điều đó. Đẳng cấp trên làm
sao chịu ngang hàng với
đẳng cấp dưới trước pháp
luật.
2, “Pháp trị”
Pháp trị là hệ thống
lý luận về sự cai trị XH bằng
pháp luật với sự thống nhất
giữa pháp luật, quyền lực và
thủ đoạn.
Pháp trị bắt đầu từ
Tuân Tử nhưng Hàn Phi mới
là kiến trúc sư chủ yếu, có
hệ thống. Pháp trị được đề
cao ở thời Tần Thủy Hoàng
với thời gian ngắn ngủi và
không có vị trí đáng kể trong
lịch sử phong kiến trung
quốc cũng như trong các
nước phương đông
xấu “ác”, con người vốn
sing ra đã mang đầy tính
tham lam, ích kỷ. Do đó
thường xâm phạm lẫn nhau.
Vậy XH muốn tồn tại thì
không thể không có pháp
luật.
Pháp trị tôn sùng sức mạnh
của quyền lực chứ không tôn
sùng sức mạnh của đạo đức.
Hàn Phi không tán dương
nhiều về đạo đúc nhân ái.
Ong cho rằng Xh thịnh trị
không phải nhờ vào lòng
nhân ái. Nhân ái không phải
là chất keo để gắn mọi
người lại với nhau và cũng
không phải là chất kích thích
để động viên mọi người vì
nhà nước phong kiến. Dân
sở dĩ làm việc phụng sự nhà
nước không phải vì nhà
nước yêu thương dân cũng
như dân thương nhà nước
mà chỉ là do dân sợ thế lực
nhà nước mà thôi. Chính
nhờ sự thực thi pháp trị nên
nhà tần trở thành nước hùng
mạnh tóm thu giang sơn về
và THUẬT chung quy là
nhằm mục đích củng cố
chính quyền tức là củng cố
THẾ. Thi hành pháp lệnh và
giữ gìn thế lực thì thịnh trị,
làm trái pháp lệnh bỏ thế lực
thì sẽ loạn.
3,”KIÊM ÁI TRỊ”
Kiêm ái trị là sự cai
trị bằng tình thương yêu
gộp, yêu thương ngang nhau
rộng khắp, không phân biệt
người thân hay người sơ,
mình cũng như người.
Người đầu tiên khởi
xướng thuyết kiêm ái là Mặc
Tử (480-420Tcn)
Nội dung:
+ XH ổn định là XH dựa
trên cơ sở tình thương: các
nhà kiêm ái cho rằng sở dĩ
XH loạn là do người không
yêu thương nhau. Cho nên
làm mọi người thương yêu
nhau thì phải làm cho nhau
có cùng lợi. Tình thương
yêu không phải là lời nói
suông mà luôm gắn liền với
+ Phê thuyết thiên mệnh:
thuyết kiêm ái phê phán
quan điểm định mệnh cho
rằng mọi cái đều do trời định
sẵn sẽ làm cho con người
mất hết sự cố gắng vươn lên
trong công việc.
4, “vô vi trị”
Vô vi trị là hệ
thống lý luận về sự cai trị
bằng “không cai trị”, làm
bằng “không làm” không
can thiệp vào “bản tính tư
nhiên của đạo”.
Nội dung:
+ Vô vi: không hành động
“không làm”
vô vi trị là
cai trị không bằngg cai trị.
+ Đạo: quy luật
bản tính
tư nhiên của đạo là quy luật
tự nhiên.
Đạo trời: diễn ra theo
quy luật tự nhiên “tưởng
như không làm gì” mà vẫn
có hiệu quả vì mọi cái đều
diễn ra theo quy luật của nó.
Đạo người là quy luật
không thôn tính lẫn nhau thì
đới sống của nhân dân, thì
XH tự vận động theo quy
luật của mình thì như thế thì
mọi thứ đều được được tạo
ra.
Cai trị bằng không
cai trị tức là sự cai trị diễn ra
một cách tự nhiên, người bị
cai trị cảm thấy mính không
bị trị, họ tự giác hành động
theo quy luật của tự nhiên
của lịch sử và như vậy
không có gì mà không được
tạo ra từ sự cai trị của không
cai trị.
Đạo trị quốc theo
vô vi là phép cai trị khiến
nhiều người dân cảm thấy
mình được tôn trọng, cảm
thấy mình chíng kà chủ nhân
của XH, của đời sống của
chính mình. Do đó, họ nỗ
lực hành động theo quy luật
của XH thì ắt không có gì
mà không trị.
Về bản chất con người:
đạo gia cho rằng bản chất
con người không thiện cũng
càng lớn đến các nước châu
á như Việt Nam, Nhật Bản,
Triều tiên…
Đức trị ảnh hưởng đến XH
Việt Nam từ đầu công
nguyên đến thế kỷ 15, đức
trị trở thành tư tưởng chính
thống của GC phong kiến
Việt Nam. Ngày nay, đức trị
vẫn còn ảnh hưởng nhiều
trong xã hội Việt Nam nhất
là vùng nông thôn. Đức trị
phù hợp với bản sắc nhân
nghĩa của xã hội Việt Nam.
Truyền thống yêu nước của
người Việt Nam không tách
rời khởi đức trị. Tuy vậy,
đức trị tạo ra xã hội thiên về
đạo đức gỉm sút ý thức pháp
quyền, gây trở ngại không ít
cho công cuộc xây dựng xã
hội hiện nay. Do đó chúng ta
phải thực hiện đồng bộ các
biện pháp giáo dục, kinh tế,
hành chính và pháp luật để
phòng, chống có hiệu quả
các tệ nạn xã hội nhất là
trộm cướp, cờ bạc, ma túy,
mại dâm, lừa đảo…
hiến pháp và pháp luật. Cán
bộ công chức nhà nước phãi
là đầy tớ trung thành của
dân, tận tụy phục vụ nhân
dân. Bên cạnh việc xây dựng
nhà nước pháp quyền
XHCN dười sự lãnh đạo của
Đảng, phải thường xuyên
giáo dục cán bộ, đảng viên,
công chức vế chính trị tư
tưởng, đạo đức, cách
mạng… để nâng cao chất
lượng đội ngụ cán bộ, công
chức. Tăng cường hơn nữa
công tác giáo dục, rèn luyện
đạo đức cách mạng, chống
chủ nghĩa cá nhân, đấu tranh
chống tệ nạn tham nhũng,
quan liêu, tư tưởng cơ hội,
thực dụng, bài trừ hủ tục mê
tín, lối sống vị kỷ xa đoạ, xa
rời quần chúng… không
ngừng nâng cao trình độ
chính trị, học vấn, chuyên
môn nghiệp vụ, kiến thức
lãnh đạo, quản lý và công
tác vận động quần chúng…
trù cơ bản nhất, quyền lực
nói lên thực chất hoạt động
chính trị của các GC, các
đảng phái trong xã hội có
GC.
Theo CN Máclênin: “quyên lực chính trị
theo đúng nghĩa của nó, là
bạo lực có tổ chức của một
giai cấp để trấn áp một giai
cấp khác” (Mác-ăngghen
tuyển tập tập một NXB ST
HN 1989 trang 569)
Đặc điểm của quyền lực
chính trị là khi ra đời nó gằn
liền với sự xuất hiện của các
GC. Do đó quyền lực chính
trị luôn luôn mang tính GC,
không có quyền lực chính trị
chung chung cho mọi GC.
Đồng thời, quyền lực chính
trị thể hiện ra bên ngoài là
thống nhất nhưng bên trong
thì nó chứa đựng các mâu
thuẫn, thậm chí con là mâu
thuẫn đối kháng. Mặt khác
sức mạnh ủa quyền lực
chính trị là sức mạnh của
một giai cấp chứ không phải
của một cá nhân nào đó
Nó được thể hiện thông qua
3 nhân tố đó là:
Hệ thống chuyên
chính của GC cầm quyền
như các đảng phái, các tổ
chức chính trị-xã hội do
GC cầm quyền đặt ra hoặc
đứng về phía GC cầm
quyền (nhà nước TB:
Đảng tư sản cầm quyền,
các tổ chức chính trị xã hội
do GC tư sản lập ra…)
Hệ thống các tổ
chức trung gian như các
đảng phái, tổ chức tôn
giáo, tổ chức chính trị-xã
hộitrung lập. Hệ thồng này
không bảo vệ lợi ích cho
GC cầm quyền, cho lợi ích
của GC bóc lột nhưng
cũng không bảo vệ lợi ích
cho người lao động
Hệ thống các tổ
chức đối lập với GC cầm
quyền. Đây là các tổ chức
chống lại hệ thống chuyên
chính của GC cầm quyền
bao gồm: Đảng CS, tổ
chức công đoàn tiến bộ.
nhưng về tính chất thì
hoàn toàn khác nhau. Cụ
thể là trong xã hội có GC
bóc lột thì hình thức biểu
hiện của cơ chế thực hiện
quyền lực CT bao gồm
một hệ thống các nhân tố
mâu thuẫn đối kháng nhau,
còn ở chế độ XHCN hình
thức biểu hiện của cơ chế
thực hiện quyền lực chính
trị bao gồm một hệ thống
các nhân tố thống nhất để
nhằm phát huy quyền lực
chính trị của nhân dân lao
động.
Nội dung cơ chế
thực hiện quyền lực chính
trị:
+nội dung mang tính chất
tổng quát: xay dựng cơ chế
thực hiện quyền lực chính trị
phải dựa trên mục tiêu của
quyền lực chính trị. Nói cach
khác, mục tiêu của quyền
lực chính trị quết định đến
việc xây dựng cơ chế để
thực hiện nó.
+ Nội dung mang tính chất
Nhờ đó lảm cho mục tiêu
chính trị của GC cầm quyền
mang được hình thức cái
phổ biến và có tính cưỡng
chế đối với toàn xã hội.
Phải xây dựng được một
hệ thống các tổ chức: Đảng,
nhà nước và các tổ chức CTxã hội để đi vào thực hiện
hiến pháp, pháp luật. Nhờ
vậy mục tiêu của GC cầm
quyền mới được hiện thực
hoá trong đời sống xã hội.
Đối với GC không
cầm quyền nhưng phải là
GC trực tiếp đối lập với GC
cầm quyền:
GC không cầm quyền
không ngừng củng cố mục
tiêu kinh tế, CT của mình rồi
trên cơ sở đó tiến tới lật đổ
quyền lực chính trị của GC
cầm quyền để thiết lập
quyền lực chính trị thuộc về
GC mình.
GC không cầm quyền phải
đề ra các biện pháp tổ chức
cho quần chúng nhân dân
đấu tranh, thông qua những
quyền chuyên chế công
nông là tiền đề cho hệ thống
chính trị Việt Nam sau này.
Mùa xuân 1975, sau khi
hoàn thành thắng lợi cách
mạng DTDCNH ở miền
nam, thống nhất nước nhà
thì chúng ta đã thiết lập
được cơ chế quyền lực chính
trị trên phạm vi cả nước. Cơ
chế thực hiện quyền lực
chính trị trong thời gian qua
đã đạt được những thành tựu
và hạn chế sau:
+ Thành tựu: thành tựu có
tính chất bao trùm của hệ
thống chính trị Việt Nam
trong thời gian qua là giữ
vững và ổn định chính trị về
mọi mặt, cụ thể:
Trên lĩnh vực dân
chủ: chúng ta đã mở rộng
được dân chủ XHCN trên tất
cả các lĩnh vực nhất là trên
lĩnh vực CT và KT
Về vai trò lãnh đạo
của đảng: chúng ta đã giữ
được sự lãnh đạo duy nhất
của Đảng cộng sản, kiên
pháp luật từng bước được
xác lập và hoàn thiện.
Những bước tiến đó góp
phần làm cho hoạt động của
các cơ quan nhà nước các
cấp đạt được những bước
tiến quyết định theo hướng
phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, tăng cường kỷ
cương và nâng cao hiệu lực
quản lý của nhà nước).
Về đoàn thể CT-xã
hội: mặt trận tổ quốc, các
đoàn thể nhân dân, các tổ
chức CT-xã hội đã từng
bước đổi mới về nội dung và
phương thức hoạt động.
(nhiệu hội, đoàn thể hợp
pháp được thành lập theo
nhu cầu, lợi ích và theo
nguyện vọng của các tầng
lớp khác nhau trong nhân
dân, cũnh như những người
Việt Nam định cư ở nước
ngoài…_
Ngoài ra, chúng ta
đã xoá bỏ dần được những
mặc cảm do chiến tranh để
lại, từng bước củng cố tăng
TLSX, mở cửa bên ngoài…
là một chiến lược đúng đắn.
Song nhiều vấn đề lý luận về
Đảng cộng sản cầm quyền
trong điều kiện kinh tế thị
trường chưa được làm sáng
tỏ; trong khi khẳng định tính
không đối lập của cơ chế thị
trường với CNXH, chúng ta
cũng thấy rõc bên cạnh
những mặt tích cực là cơ bản
vẫn tồn tại những mặt yếu
kém của nó ngay trong
trường hợp định hướng
XHCN, đó là do chúng ta
không chuẩn bị được ngay
từ đầu để khắc phục những
tác động ngịch chiều của
nó…)
Về
nhà
nước:
những bước tiến đổi mới của
nền hành chình quốc gia còn
rất khiêm tốn. Tình trạng
quan liêu, nhiều tầng, nhiều
nấc thang của bộ máy hành
chính làm cho yêu cầu quản
lý quá trình KT-xã hội chưa
Công tác cán bộ:
khâu quy hoạch, đào tạo, bố
trí sử dụng cán bộ, chuẩn bị
đội ngũ cán bộ kế cận thì có
làm nhưng chưa có sự thay
đổi căn bản (Nghị quyết
BCH TW3 khoá VIII)…
Phương hướng đổi
mới hệ thống CT ở Việt
Nam:
+ Phương hướng mang tính
chất tổng quát nhằm khắc
phục những hạn chế trên
phương hướng mang tính
chất bao trùm để xây dựng
hệ thống chính trụi nước ta
là: phải mở rộng dân chủ
hơn nữa trong cơ chế thực
hiện quyền lực chính trị, để
cho dân chủ XHCN vừa là
mục tiêu vừa là động lực của
quá trình phát triển và xây
dựng CNXH ở nước ta.
+ Phương hướng cụ thể: yêu
cầu phải đi vào đổi mới 3
nhân tố trong cơ chế thực
hiện quyền lực CT, đó là:
Đổi mới Đảng:
mới Đảng, NQ ĐH IX neu
rõ 4 nội dung đổi mới của
Đảng trong giai đoạn hiện
nay là:
GD tư tưởng CT,
rèn luyện đạo đức cách
mạng, chống chủ nghĩa cá
nhân.
Tiếp tục đổi mới
công tác cán bộ.
Xây dựng, củng cố
các tổ chức co sở Đảng.
Kiện toàn tổ chức,
đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng.
Đổi mới nhà nước:
nhà nước XHCN vừa là cơ
quan đại diện cho ý chí và
quyền lực của nhân dân lao
động, vừa thay mặt và chịu
trách nhiệm trước dân về
quản lý điều hành xã hội
bằng pháp luật. Nhà nước
phải thể chế hoá quyền công
dânvà quyền con người về
động, đồng thời cũng là nơi
trực tiếp pháp huy quyền
làm chủ của nhân dân trong
quá trìng xay dựng xã hội
mới. Vì vậy, đổi mới phải đa
dạng hoá hơn nữa các hình
thức CT-xã hội của nhân
dân , phải xem chức năng
bảo vệ lợi ích chính đáng
của các thành viên trong tổ
chức mình là một trong
những chúc năng quan
trọng. Quá trình đổi mới cần
tập trung 2 nội dung chủ yếu
sau:
Xác định rõ chúc
năng nhiệm vụ của các tổ
chức CT-xã hội trong điều
kiện thực hiện nền KT hàng
hóa nhiều thành phần để từ
đó đưa ra được những
phương thức hoạt động phù
hợp.
Xây dựng các tổ
chức CH-xã hội phải theo
nguyên tắc, một mặt là từng
thành viên phải có trách
nhiệm tham gia xây dựng tổ
CNH, HĐH đất nước. Tăng
cường và mở rộng khối đại
đoàn kết toàn dân nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu:
“dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn
minh “, nền dân chủ XHCN
được xác lập vững chắc.
Câu 8:
Đồng chí hãy
trình bày những quan điểm
cơ bản về xây dựng nhà
nườc pháp quyền và xã hội
công dân trong CNXH.
Trên cơ sở đó khẳng định
sự cần thiết yêu cầu và
phương hướng xây dựng
nhà nước pháp quyền và xã
hội công dân trong giai
đoạn đổi mới ở nước ta
hiện nay.
Bài làm
Chính quyền (nhà nước)
là vấn đề cơ bản của mọi
cuộc cách mạng. Giành
chính quyền là vấn đề rất
khó khăn, song giữ được
chung”… nhằm che giấu
bản chất GC của nhà nước
tư sản. Đồng thờo, tìm mọi
cách chứng minh nhà nước
tư sản là “công cụ phục vụ
xã hội”, “đứng trên các GC”
để điều hoà mâu thuẫn xã
hội. Song, chúng ta cũng
phải thừa nhận rằng, nền dân
chủ tư sản có những bước
tiến bộ, nhưng về bản chất
nền dân chủ đó không phải
là dân chủ cho đông đảo
nhân dân, mà quyền làm chủ
thực sự ở các nước TB nằm
trong tay GC tư sản, phục vụ
lợi ích của GCTS.
Ơ xã hội XHCN, nhà
nước pháp quyền XHCN
mang bản chất GCCN. Bản
chất đó thể hiện ở chỗ toàn
bộ hoạt động của nhà nước
từ pháp luật, co chế, chính
sách đến những nguyên tắc
tổ chức, hoạt động đều thể
hiện tưởng, quan điểm của
GCCN, từng bước xây dựng
quyền làm chủ của nhân
dân. Với ý nghĩa đó, nhà
nước XHCN là nhà nước
vua đứng trên pháp luật).
Nhà nước pháp
quyền luôn luôn tuân thủ,
bảo vệ quyền công dân và
quyền con người; giữa công
dân và nhà nước, các đơn vị
KT và các tổ chức xã hội
luôn luôn có mối quan hệ
thông qua pháp luật, trách
nhiệm pháp lí. Có nhĩa là
nhà nước và công dân luôn
luôn bình đẳng với nhau.
Nhà nước pháp
quyền là tổ chức chính trị
của xã hội thông qua pháp
luật để tạo các điều kiện là
nhà nước dân chủ, nói cách
khác, là nhà nước phải tạo ra
thể chế, những yêu cầu d8ể
thực hiện dân chủ.
2)
Xã
hội
công dân:
Bất kỳ hình thức
nhà nước nào cũng có xã hội
tương ứng với nó. Nhà nước
pháp quyền phải là một xã
hội tương ứng là xã hội công
dân (tương ứng với nhà
các quyền tư nhiên của con
người và của công dân,
quyền này được bảo đảm
bằng một “khế ước xã hội”.
Xã hội công dân là
một xã hội buộc nhà nước
phải phụ thuộc vào ý chí chủ
quền của nhân dân (quyền
lực thuộc về nhân dân). Nhà
nước pháp quyền-XHCD là
điều kiện để cho nhà nước
phát triển, nếu như không có
XHCD mạnh (công dân
không hiểu nhiều về pháp
luật…) thì đó là nhà nước
chuyên quyền, độc đoán,
mất dân chủ.
Thực tế cho thấy, ở nơi
nào trình độ dân trí cao thì
thực hiện quy chế dân chủ
tốt, và ngược lại nơi nào
trình độ dân trí thấp, cuộc
sống còn khó khăn thì nơi đó
thực hiện quy chế dân chủ
kém. Vì vậy, quan điểm của
Đảng ta là xây dựng nhà
nước pháp quyền mạnh vả
đồng thời xây dựng xã hội
công dân cũng phải mạnh,
đó là nhà nước của dân, do
thừa những giá trị của nhà
nước pháp quyền trong lịch
sử: kế thừa những tri thức,
những tinh hoa của nhân lọai
đã có trong lịch sử, về cơ
chế dân chủ, sự kết hợp giữa
hành pháp, lập pháp, tư
pháp; nhà nước pháp quyền
quyền lực thuộc về nhân
dân, sự phát triển của nhân
dân đặt ở vị trí trung tâm.
Xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN phải căn
cứ vào những vấn đề của
quốc gia, dân tộc về: KT,
CT,văn hoá, xã hội… và
khẳng định là không có một
mô hình chung nào về nhà
nước pháp quyền cho tất cả
mọi đất nước.
2)
Một số đặc
điểm của nhà nước pháp
quyền XHCN:
Nhà nước pháp
quyền XHCN bảo vệ phục
vụ lợi ích của nhân dân mà
trước hết là nhân dân lao
động.
Nhà nước và công
quyền lực thuộc về nhân
dân.
Quyền lực nhà
nước tổ chức theo nguyên
tắc tập trung thống nhất,
không phân chia mà chỉ có
sự phối hợp, phân công giữa
các quyền (lập pháp, hành
pháp, tư pháp) để thực hiện
quyền lực thống nhất. Đồng
thời, có cơ chế kiểm soát
quyền lực để bảo đảm cho
nhân dân thực sự có quyền
giám sát.
Trong tổ chúc và
hoạt động, Nhà nước pháp
quyền XHCN quán triệt
nguyên tắc tập trung dân chủ
để thực hiện thống nhất
trong tư tưởng và hành
động, giữa các nghành, giữa
trung ương và địa phương,
giữa cá nhân và tập thể.
Nhà nước pháp
quyền XHCN qản lí và điều
hành xã hội bằng pháp luật.
Tuy nhiên, nó luôncoi trọng
giáo dục nâng cao đạo đức
XHCN.
Nhà nước pháp
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư nhũng, quan liêu còn nhiều,
tưởng HCM về nhà nước. Vì nh4ng phân định về trách
vậy, nhà nước ta góp phần nhiệm, quyền hạn và sự phối
đắc lực thống nhất đất nước hợp giữa các cơ quan quyền
và xây dựng CNXH.
lực chưa tốt…
Nhà nước ta đã
Từ việc đánh giá thực
quản lí va điều hành xã hội trạng trên, xây dựng nhà
bằng pháp luật (về cơ bản), nước pháp quyền-XHCD là
và ngày nay, đang từng bước nhiệm vụ bức thiết ở nước ta
sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hiện nay là do các yêu cầu
hệ thống pháp luật chung sau:
cho cả nước.
Cần phải có nhà
Nhà nước ta đã nước pháp quyền đủ mạnh
hình thành được cơ chế và để bảo vệ và phát huy những
thể chế hoá quyền kàm chủ thành quả của cách mạng mà
của nhân dân trên nhiều lĩnh chúng ta đã đạt được. Đặt
vực: CT, KT,văn hoá, tư biệt là những thàng quả
tưởng… và nhờ đó nền dân trong giai đoạn đổi mới hiện
chủ XHCN liên tục được nay.
củng cố và pháp triển.
Cần phải có nhà
Trong tổ chức và nước pháp quyền đủ mạnh
hoạt động của nhà nước, nhà để giải quyết những vấn đề
nước ta luôn có sự đổi mới mới nảy sinh do mặt trái của
đáp ứng những yêu cầu được nền KT thị trường, kinh tế
đặt ra trong từng thời kỳ lịch nhiều thành phần: tệ nạn xã
làm cho tình trạng bất công, xoá bỏ CNXH.
bất bình đẳng xã hội có xu
2)
Những
hướng gia tăng.
yêu cầu và phương hướng
Tổ chúc và hoạt
đổi mới:
động của bộ máy nhà nước * những yêu cầu mang tính
còn nặng nề: tình trạnh thiếu nguyên tắc:
kiến thức nghề nghiệp, bộ Trong đổi mới, nhà
máy cồng kềnh, tệ nạn tham nước luôn luôn bảo đảm
được bản chất cách mạng và
khoa học. Đó là giữ vững
đượclập trường quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng HCM cho mọi hành
động của cách mạng, hoàn
thiện nền dân chủ XHCN là
làm cho nhà nước thật sự
của dân, do dân và vì dân.
Trong sự đổi mới
phải bảo đảm quyền lực nhà
nước thống nhất, không
phân chia nhưng có sự phân
công rành mạch 3 quyền: lập
pháp, hành pháp và tư pháp.
Trong đổi mới của
nhà nước phải luôn luôn bảo
quan điểm trên của Đảng
ta được ghi trong văn kiện
ĐH VIII của Đảng về xây
dựng nhà nước pháp quyền
XHCD là: tiếp tục cải cách
bộ máy nhà nước, xây dựng
và hoàn thiện nhà nhước
CHXHCNVN trên cơ sở
quán triệt 5 quan điểm cơ
bản là:
1.Xây dựng nhà
nướcXHCN của dân, do dân
và vì dân; lấy liên minh GC
công nhân với nông dân và
tầng lớp trí thức làm nền
tảng do ĐCS lãnh đạo. Thực
hiện đầy đủ quyền làm chủ
của nhân dân, giữ nghiêm kỷ
cương xã hội, chuyên chính
với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của tổ quốc và
của nhân dân.
2. quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa
các cơ quan trong việc thực
hiện các quyền: lập pháp,
hành pháp và tư pháp.
3.thực hiện nguyên
chống đượctham nhũng, giữ
được trong sạch của bộ máy
nhà nước”.
Nhân dân tham gia
công việc nhà nước trước
hết là ở những lĩnh vực chủ
yếu sau: tham gia lựa chọn
người đại diện cho mình
thông qua bầu cử đại biểu
HĐND các cấp và đại biểu
quốc hội; tham gia đóng góp
ý kiến vào những văn bản
pháp luật và những quyết
định quan trong của nhà
nước; tham gia giám sát hoạt
động của các cơ quan hành
pháp, tư pháp (điều tra, xét
xử, thi hành án…)
Đặc biệt hiện nay, ở
từng cơ sở nhân dân tham
gia và thực hiện cơ chế dân
chủ mà nhà nước đã ban
hành. Trong đó, nòng cốt là
cán bộ, Đảng viên phải luôn
ý thức rằng nhà nước là của
dân, do dân và vì dân; quyền
lực nhà nước là do dân trtao
cho những đại biểu ưu tú của
chung cảnh ngộ người dân
mất nước, đã gắn bó khăng
khít và đều có đóng góp
xứng đáng vào sự nghiệp
chung. Vì vậy, liên minh
công-nông-trí luôn có ý
nghĩa quan trọng trong sự
nghiệp đổi mpới của đất
nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
Đổi mới nâng cao
chất lượng công tác lập pháp
và giám sát tối cao của quốc
hội đối với toàn bộ hoạt
động của nhà nước. Đó là:
+ Về lập pháp: ban hành các
đạo luật cần thiết để điều
chỉnh các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Ưu tiên xây
dựng các luật về KT, các
quyền công dân và các luật
điều chỉnh trong công cuộc
cải cách bộ máy nhà nước,
các luật điều chỉnh các hoạt
động văn hoá thông tin. Coi
trọng việc tổng kết thực tiễn,
xây dựng các văn bản pháp
luật và ban hành các văn bản
cụ thể, dễ hiểu, dễ thực
xử, thi hành án…
Cải cách nền hành
chính nhà nước: là trọng tâm
của vi65c xây dựng, hoàn
thiện nhà nước. Trong
những năm trước mắt, cải
cách hành chính tập trung
những nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Về cải cách thể chế hành
chính: đẩy mạnh cải cách thể
chế và thủ tục hành chính
trên những lĩnh vực liên
quan trực tiếp đến đời sống
nhân dân. Giảm tối đa cơ
chế “xin-cho”; tổng kết kinh
nghiệm thực hiện cơ chế
thực hiện cơ chế một cửa để
chỉ đạo áp dụng rộng rãi trên
tòn quốc. Đồng thời với việc
xắp xếp tinh gọn, cắt bỏ
khâu trung gian những bộ
phận chéo chức năng, nhiệm
vụ, ngăn chặn tệ cửa quyền,
tham nhũng, hối lộ, vi phạm
pháp luật.
+ Về tổ chức bộ máy: chấn
chỉnh cơ cấu tổ chức, biên
chế, quy chế hoạt động của
bộ máy hành chính các cấp
các toà án chuyên nghành và
nâng cao năng lực xét xử.
Phân định rõ chúc năng công
tố và kiểm sát của VKSND,
nâng cao chất lượng công tố
(điều tra, luận tội) tránh
những chồng chéo giữa
thanh tra nhà nước và viện
kiểm sát. Đồng thời với việc
khắc phục tình trạnh tồn
đọng án quá nhiều, quá lâu
hoặc dây dưa kéo dài thời
gian thi hành án.
Đẩy mạnh đấu
tranh chống tham nhũng:
kiên quyết đấu tranh thường
xuyên và có hiệu qua tệ nạn
tham nhũng trong bộ máy
nhà nước các cấp. Đấu tranh
chống tham nhũng phải đấu
tranh chống buôn lậu, lãnh
phí, quan liêu; tập trung vào
các hành vi lợi dụng chúc
quyền tham ô làm thất thoát
tài sản nhà nước, nhận hối
lộ… đồng thời, kết hợp
những biện pháp cấp bách
với những giải pháp có tầm
chiến lược nhằm vừa hoàn
Nếu chúng ta quán triệt đầy
đủ và thực hiện tốt nh774ng
yêu cầu và lhương hướng
nêu trên, thì nhà nước pháp
quyền XHCNVN sẽ được
thiết định vững chắc và
XHCD ngày càng phát triển
về mọi mặt. Đồng thời,
chúng ta có đủ điều kiện để
xây dựng thành công CNXH
theo cương lĩnh xây dựng
đất nước thời kì quá độ lên
CNXH ở nước ta.
Câu 9: Dùng lý luận về
các tổ chức chính trị xã hội
ngoài nhà nước và thực
tiễn cách mạng nước ta để
phân tích và chứng minh:
“để tiếp tục đưa sự nghiệp
đổi mới tiến lên giành
thành tựu to lớn hơn cần
thực hiện tốt việc mở rộng,
tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân ở trong nước
và nước ngoài, phát huy
dân chủ, động viên tối đa
sức mạnh của toàn thể dân
tộc vì mục tiêu dân giàu,
pháp quyền XHCN, nghĩa là
xây dựng một nhà nước
quản lí xã hội bằng pháp
luật, nhưng trong thực tế nhà
nước cũng không thể can
thiệp vào tất cả các quan hệ
xã hội. Vì vậy, cùng với việc
xây dựng nhà nước pháp
quyền thì nhà nước cần
khuyến khích, tôn trọng các
quyền tự do của hội, các
đoàn thể nhân dân, thông
qua các tổ chức này lội cuốn
đông đảo các tầng lớp nhân
tự ngguyện tham gia vào
hoạt động chính trị-xã hội,
giúp đỡ nhau giải quyết các
vấn đề mà nhà nướck bao
quát hết. Xu hướng phát
triển của các tổ chức quần
chúng phi nhà nước là một
xu hướng dân chủ và tiến
bộ.
Các tổ chức chính trị- xã
hội ngoài nhà nước chủ yếu
của nước ta hiện nay là: Mặt
trận tổ quốc Việt Nam; hội
liên hiệp phụ nữ Việt Nam;
hội cựu chiến binh Việt
Nam; hội nông dân Việt
lao động, từng bước góp
phần cùng Đảng và nhà
nước hình thành nền dân chủ
XHCN.
I.
Một số tổ chức
chính trị-xã hội ngoài nhà
nước trong thời kì quá độ
lên CNXH ở nước ta hiện
nay
Các tổ chức chính trị-xã hội
của nước ta có vai trò quan
trọng trong việc góp phần
tham gia xây dựng đường
lối, nghị quyết của Đảng,
tham gia xây dựng những
đạo luật quan trọng, động
viên đoàn viên, hội viên
thực hiện nhiệm vụ chính trị
của đất nước, của địa
phương và chính quyền cơ
sở. Ngoài ra, nó còn tham
gia giám sát hoạt động của
các cơ quan nhà nước, góp
phần đầu tranh chống tiêu
cực, tham nhũng làm trong
sạch bộ máy của Đảng và
chính quyền, làm lành mạnh
hoá quan hệ xã hội.
Mặt trận tổ quốc
cậy lẫn nhau, hướng đến
tương lai. Khối đại đoàn kết
toàn dân trong mặt trận tổ
quốc Việt Nam luôn được
củng cố và phát triển sâu
rộng trên cơ sở liên minh
công-nông và đội ngũ trí
thức.
Tổng liên đòan lao
động Việt Nam:
Về tổ chức công đoàn
Lênin viết: “nhiệm vụ chủ
yếu của công đoàn là bảo vệ
lợi ích của quần chúng, theo
nghĩa trực tiếp nhất và chính
xác nhất của từ đó”. Công
đoàn Việt Nam là tổ chúc
chính trị-xã hội rộng lớn của
GC công nhân và người lao
động Việt Nam tự nguyện
lập ra dưới sự lãnh đạo của
ĐCSVN, là thành viên trong
hệ thống chính trị của xã hội
Việt Nam.
Công đoàn cùng với cơ
quan nhà nước và tổ chúc
KT, tổ chức xã hội chăm lo
về quyền lợi của cán bộ,
công chức, viên chức và
những người lao động khác,
TN luôn thể hiện tính tiên
phong của mình trong việc
tổ chức, tập hợp đoàn viên
thanh niên đảm nhận vai trò
xung kích của lực lượng trẻ
trong quá trình xây dựng
CNXH, góp phần thực hiện
đẩy nhanh tiến trình CNH,
HĐH đất nước theo chủ
trương và đường lối của
Đảng và nhà nước.
Hội liên hiệp phụ
nữ Việt Nam:
Trong luận cương CT đầu
tiên của đảng đã khẳng định
mục tiêu của cách mạng
Việt Nam là giải phóng DT,
giải phóng GC và giải phóng
phụ nữ. Luận cương cũng
khẳng định “thực hiện nam
nữ bình quyền” là 1 trong 10
nhiệm vụ “cốt yếu” của cách
mạng Việt Nam. Thực hiện
chủ trương đó các tổ chức
phụ nữ với các tên gọi khác
nhau đã ra đời: hội phụ nữ
giải phóng, hội phụ nữ dân
chủ, hội phụ nữ phản đế,
đoàn phụ nữ cứu quốc…từ
những tổ chức đoàn thể phụ
khá tốt của hội đã đáp ứng
nguyện vọng bức thiết của
các phụ nữ với các phong
trào thi đua như: “phụ nữ
tích cực học tập,, lao động
sáng tạo, nuôi dạy con tốt,
xây dựng gia đình hạnh
phúc”, “phụ nữ giúp nhau
phát triển kinh tế GĐ, cần
kiệm xây dựng đất nước”,
“giỏi việc nước, đảm việc
nhà”…Đồng thời, hội cũng
đã thiết lập được mối quan
hệ với nhiều tổ chức quốc tế
và nhiện được nhiều sự hỗ
trợ, hợp tác có hiệu quả, góp
phần làm cho bạn bè quốc tế
hiểu biết hơn về Việt Nam.
Song, bên cạnh những thành
tựu đã đạt được, họat động
của hội liên hiệp phụ nữ
Việt Nam còn bộc lộ những
yếu kém nhất định làm giảm
vị trí của mình như: việc
bình đẳng với nam giới, bồi
dưỡng đào tạo nghề, học tập
nâng cao trình độ học vấn và
thực hiện quyền lợi về vai
trò, vị trí của người phụ nữ
trong xã hội mới…
cao mới. Mặt trận tổ quốc
Việt Nam phát huy tinh thần
kế thừa truyền thống quý
báu của dân tộc, Đảng ta
luôn gương cao ngọn cờ
đoàn kết toàn dân, coi đó là
đường lối chiến lược cơ bản,
lâu dài, là nguồn sức mạnh
và động lực to lớn để xây
dựng và bảo vệ tổ quốc
trong thời kì công nghiệp
hoá, HĐH đất nước. Mặt
trận tổ quốc Việt Nam tán
thanh đường lối chủ trương
của Đảng, nhằm thực hiện
mục tiêu giữ vững độc lập,
thống nhất chủ quyền quốc
gia và toàn vẹn lãnh thổ,
phấn đấu sớm thoát khỏi
nghèo nàn lạc hậu, tiến lên
dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn
minh góp phần tích cực vào
sự nghiệp hoà bình, d0ộc lập
dân tộc và tiến bộ xã hội trên
thế giới. Để thực hiện thắng
lợi các nhiệm vụ trên, trong
giai đoạn hiện nay, mặt trận
tổ quốc Việt Nam cần quán
triệt những chủ trương lớn
nhân dân trong xây dựng
cuộc sống mới.
Đồng thời, đoàn kết phải
trên cơ sở lợi ích. Hiện nay
cơ cấu GC, cơ cấu xã hội
nước ta biến đổi rất đa dạng
và phong phú. Bên cạnh lợi
ích và nhu cầu chung thì các
GC, các tầng lớp xã hội của
nước ta đều có tiếng nói,
những nhu cầu, lợi ích riêng.
Đảng lãnh đạo nhà nước và
xã hội phải đề ra hệ chính
sách phản ánh lợi ích và
tiếng nói đa dạng của các
GC, các tầng lớp xã hội khác
nhau. Có như vậy n\thì chính
sách đại đoàn kết mới đi vào
chiều sâu và tạo ra động lực
phát triển KT-xã hội.
+ Thực hiện chính sách đại
đoàn kết dân tộc ngay trong
tổ chúc và hoạt động bộ máy
chính quyền nhà nước nói
riêng và hệ thống chính trị
nói chung.
+ Đoàn kết các giai tầng, các
dân tộc, các tôn giáo, người
Việt Nam ở trong nước và
địng cư ở nước ngoài tán
sáng tạo, nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh góp
phần làm cho dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh như NQ
ĐH VII công đoàn Việt Nam
và nghị quyết hội nghị TW
lần thứ VII (khoá VII)
ĐCSVN chỉ ra, tổ chức công
đoàn phải thực hiện nhiệm
vụ chính trị trong giai đoạn
đổi mới đất nước ta hiện nay
như sau:
+ Đổi mới và tăng cường
các hoạt động xã hội, chăm
lo đời sống, tạo động lực
thiết thực cho CNVC-LĐ.
+ Đổi mới hình thức và biện
pháp tuyên truyền GD của
công đoàn cho phù hợp với
từng điều kiện và từng loại
hình cụ thể.
+ Động viên tổ chức hoạt
động phong trào quần chúng
th745c hiện phát triển thắng
lợi chương trình phát triển
công nghiệp và công nghệ,
đấu tranh chống bệnh quan
liêu, tham nhũng.
+ Đổi mới và không ngừng
trong xu thế hội nhập và
toàn cầu hoá đòi hỏi các
doanh nghiệp phải chấp
nhận luật chơi của thị
trường. Với ý nghĩa đó phải
lảm cho người lao động
nhận thức đưpợc rằng sản
xuất kinh doanh có phát
triển bền vững thì lợi ích của
người lao động mới được
bền vững. Mặt khác, tổ chức
công đoàn cần tham gia với
nhà nước chuẩn bị tốt nguồn
lực chio tương lai, giải quyết
tốt vấn đề lao động do quá
trình sắp xếp lại và hoàn
chỉnh các văn bản pháp luật
nhằm hạn chế tối đa mặt tiêu
cực của toàn cầu hoá.
Về đổi mới công tác
tuyên tuyền GD là nhằm
phương châm hướng mạnh
về cơ sở, phù hợp với từng
đối tượng, đẩy mạnh một
bước việc xây dựng đội nhụ
CNVC-LĐ đáp ứng yêu cầu
của thời kì mới. Nâng cao
chất lượng nghiên cứu và
tham gia có hiệu quả việc
xây dựng và hoàn chỉnh
thế hệ tương lai của đất
nước. Lúc sinh thời bác viết:
“đoàn thanh niên ta nói
chung là tốt, mọi việc đều
hăng hái xung phong, không
ngại khó khăn, co chí tiến
thủ. Đảng cần phải chăm lo
giáo dục đạo đúc cách mạng
cho họ thành những người
thừa kế xây dựng XHCN
vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là một việc rất
quan trọng và rất cần thiết”.
Nhờ sự quan tâm của Đảng
mà thanh niên không ngại
gian khổ, hi sinh luôn xứng
đáng với niềm tin cậy của
Bác, viết lên những trang sử
hào hùng của dân tộc. Tuy
nhiên, ngày nay trong hoàn
cảnh mới của đất nước,
trong dòng xoáy của nền KT
thị trường: chủ ngiã cá nhân,
lối sống thực dụng… Đòan
cũng còn nhiều lúng túng
trên nhiều phương diện như:
hình thức tổ chức chưa đủ
sức hấp dẫn đối với thanh
niên. Đặc biệt là chức năng
phát minh, cống hiến. Đồng
thời cùng với Đảng và nhà
nước có biện pháp và hình
thức thích hợp trong việc tôn
vinh, đãi ngộ xứng đáng các
tài năng, phát huy trí tuệ
trong nghiên cứu KH, xây
dựng luật pháp và quản lí xã
hội.
+ lồng ghép nhiều mục
tiêu và hiệu quả trong hoạt
động đoàn.
+ Đối với thanh niên:
Đoàn phải chăm lo giáo dục,
bồi dưỡng, đào tạo phát triển
toàn diện về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, lối sống,
văn hoá, nghề nghiệp, tạo
việc làm phát triển tài năng
và sức sáng tạo, phát huy vai
trò của thanh niên trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc.
Hội liên hiệp phụ
nữ:
Để thực hiện đổi mới,
nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động của mình, Đại
Hội Phụ Nữ Việt Nam lần
thứ VI (19871) đã xác địng
những vấn đề được quan tâm
mang tính toàn cầu. Để góp
phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu, nhiệm vụ của cách
mạng do Đảng đề ra, Hội
LHPN cần thực hiện một số
nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Vận động mọi tầng lớp
phụ nữ dấy lên phong trào
thi đua học tập, nâng cao
học vấn, nghề nghiệp,
nghiên cứu KH, ngoại ngữ,
công nghệ thông tin. Phối
hợp với các ngành hữu quan
có giải pháp hỗ trợ để thúc
đẩy phong trào thi đua học
tập.
+ Vận động các tầng lớp phụ
nữ đẩy mạnh phong trào thi
đua lao động sản xuất, thực
hành tiết kiệm, phát huy
sáng kiến cải tiến kĩ tuật và
tiếp thu kĩ thuật công nghệ
mới ứng dụng vào sản xuất
và đời sống nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu
quả.
+ Phối hợp các ngành chức
năng để khai thác nguồn lực
nhằm thực hiện xoá đói
nhà nước, vì sự bình đ83ng
và phát trir63n của phụ nữ
Việt Nam. Đồng thời tăng
cường hiệu quả và vị thế của
hội trong các hoạt động
qyý«chính sách tế ở khu vực
và trên toàn thế giới.
+ Nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ Hội và chất
lượng, hiệu quả hoạt động
của bộ máy Hội Phụ nữ các
cấp. Đổi mới mạnh mẽ hơn
nữa phương thức hoạt động
của Hội, làm cho Hội thực
sự luôn luôn là chỗ dựa đáng
tin cậy của Phụ nữ Việt
Nam.
III. Kết Luận:
Cùng với mặt trận tổ quốc,
các tổ chức chính trị xã hội
ngoài nhà nước có vai trò rất
quan trọng trong sự nghiệp
đại đoàn kết toàn dân xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, phát
huy dân chủ, giữ gìn kỉ
cương phép nước, nâng cao
trách nhiệm của công dân,
thúc đẩy công cuộc đổi mới,
thắt chặt mối liên hệ giữa
Đảng, nhà nước với nhân
hình thức tập hợp quần
chúng và đa dạng hóa chức
năng, nhiệm vụ của các tổ
chức CT-xã hội đó.
Mặt khác, đổi mới là
phương thức hoạt động của
các tổ chức CT-xã hội ngoài
nhà nước là góp phần khắc
phục tình trạnh hành chính
hoá, quan liêu, xa dân. Xây
dựng các phong trào quần
chúng phải gắn liền, với
chương trình, kế hoạch phát
triển KT-xã hội của cả nước
và địa phương. Hướng mạnh
về cơ sở để phát triển tổ
chức, tăng cường sinh hoạt
chính trị, tư tưởng đáp ứng
nhu cầu và lợi ích thiết thực
của các đoàn viên, hội viên,
các tầng lớp nhân dân, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân.
Câu10: Văn hoá
chính
trị là một phạm trù quan
trong của chính trị học, có
vai trog to lớn trong hoạt
mới của đất nước đang đi
vào chiều sâu của quá trònh
cải cách chính trị, của dân
chủ hóa đời sống chính trị
lại càng nỗi lên như một yêu
cầu bức xúc. Ngày nay văn
hóa chính trị rất cần thiết
trong việc xử lý các mối
quan hệ của đời sống chính
trị quốc tế.
1, khái niệm về văn hóa và
văn hóa chính trị.
1/ khái niệm về văn hóa:
Văn hóa là phạm trù dùng để
chỉ trình độ phát tiễn nhất
định của xã hội, của những
khả năng và năng lực sáng
tạo của con người, trình độ
phát tiễn đó được phản ảnh
trong các kiểu và hình thức
tổ chức cuộc sống cũng như
hoạt động của con người.,
trong những giá trị về vật
chất và tinh thần do con
người tạo ra.
Dự thảo Văn kiện ĐH 9
khẳng định:” Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, thể
hiện tầm cao và chiều sâu
về trình độ phát triển của
xác định trình độ chung của
ý thức xã hội và ý thức công
dân. Văn hóa chính trị chính
là trình độ học vấn và văn
hóa nói chung với tư cách là
cơ sở của văn hóa chính trị.
Vì nếu không có trình độ
học vấn nhất định thì khó có
thể đạt tới ý thức chính trị tự
giác hoặc tính tích cực trong
chính trị, nhiều việc làm
manh động, tự phát vô chính
phủ.
Lê nin cho rằng dân chủ và
CNXH đòi hỏi một trình độ
văn hóa cao. Song. Khi bước
vào xây dựng chủ nghĩa xã
hội mà trình độ văn hóa,
khoa học kỹ thuật, năng lực
quản lý của cán bộ đảng
viên và nhân dân lao động
còn quá thấp so với yêu cầu
của các nhiệm vụ mới. Lênin
cũng cho rằng phải đặt vào
chương trình giáo dục chính
trị cho tất cả mọi người để
họ hiểu và biết phải xây
dựng CNXH như thế nào và
bằng cách nào. Xóa nạn mù
chử, nâng cao trình độ học
này, coi nhẹ nguồn kia. Bởi
vì mỗi nguồn đều có ưu
điểm riêng của nó. Song
chúng ta cũng phải thừa
nhận rằng, kinh nghiệm là
vốn quý, nhưng nếu chỉ
dừng lại ở kinh nghiệm thì
dễ bị bệnh chủ nghĩa kinh
nghiệm, và cũng chỉ nếư
dừng lại ở đào tạo trường
lớp ( lý luận) thì chúng ta dễ
rơi vào căn bệnh chủ nghĩa
giáo điều. Vì vậy, cần phải
phát huy được ưu thế của
mỗi nguồn và khắc phục
được hạn chế của nó.
- Niềm tin chính trị, lý lưởng
chính trị cũng là bộ phận cấu
thành của văn hóa chính trị.
Nó hình thành trên cơ sở tri
thức chính trị được tích lũy
biến thành niềm tin, lý tưởng
giai cấp; từ niềm tin chính
trị, lý tưởng chính trị sẽ biến
thành hoạt động chính trị
thực tiễn, là kết quả của
hành động chính trị, là cái
chuẩn mực chính trị, nếp
sống chính trị, là những thói
quen ứng xử trong những
đường thực hiện mục tiêu thì
không tốt như thời nhà Tần
(Trung quốc ): Xây dựng
Vạn lý trường thành mục
tiêu là để chống giặc nhưng
con đường thực hiện mục
tiêu thf bằng máu và nước
mắt do sử dụng công sức của
nhân dân một cách khắc
nghiệt và tàn nhẫn.
Ngoài ra, hệ tư tưởng chính
trị là đường lối, chính sách
của Đảng. Đây chính là bộ
phận cốt lõi của văn hóa
chính trị và giữ vị trí cực kỳ
quan trọng trong văn hóa
chính trị. Nó tể hiện lợi ích
cách mạng của một giai cấp
và đống vai trò chủ đạo
trong đời sồn tinh thần xã
hội.
III. những phương hướng cơ
bản để nâng cao văn hóa
chính trị của nhân dân ta
hiện nay.
1/ Thực trạng văn hóa chính
trị của nước ta hiện nay.
+ Ưu điểm:
- Hạt nhân cơ bản của văn
hóa chính trị nước ta hiện
thu có chọn lọc như: tiếp thu
truyền thống nhan nghĩa của
đạo Khổng, loại bỏ tam
cương ngũ thường của Nho
giáo.
- Dân tộc ta mẫn cảm về
chính trị, rất nhiệt tình tham
gia vào công việc của Nhà
nước. Đặc biệt là vấn đề đọc
lập, chủ quyểncua dân tộc.
Sự nhạy cảm đó là “Gen” rất
trội của dân tộc Việt nam.
+ Hạn chế:
- Một bộ phận dân tộc ta còn
hạn chế trong văn hóa tranh
luận chính trị ( Vì thông qua
tranh luận nhận thức về hiểu
biết chính trị được nảy sinh )
- Ý thức, sự hiểu biết pháp
luật, ý thức tuân thủ pháp
luật của nhân dân ta còn
nhiều hạn chế và ở trính độ
thấp.
- Những yếu tó tiêu cực mới
của văn hóa chính trị khi
chúng ta chuyển nền kinh tế
tập trung quan liêu, bao cấp
sang nền kinh tế theo cơ chế
thi trường thì một bộ phận
nhân dân coi lợi ích kinh tế
trường, yếu tố cạnh tranh đã
trở thành một thực tế trong
SXKD, trong các quan hệ
kinh tế - xã hôi. Do quan hệ
về lợi ích, con người quan
tâm nhiều đến năng xuất
chất lượng và hiệu quả
SXKD, tính năng động của
mỗi con người với tư cách là
con người kinh tế tăng lên rõ
rệt, con người bớt đi màu
sắc giáo điều, tính hình thức
và ngày càng có chiều
hướng thiết thực hơn trong
quan hệ lợi ích và giải pháp
thực hiện lợi ích.
Tuy nhiên kinh tế thị trường
cũng bộc lộ nhiều mặt tiêu
cực như là: Chủ nghĩa cá
nhân, lối sống thực dụng, ích
kỷ, chạy theo đồng thiền,
thậm chí coi thường các
chuẩn mực đạo đức, các giá
trị nhân văn, các di sản
truyền thông tốt đẹp của dân
tộc… Từ những mặt trái đó
dẫn đến khuynh hướng con
người thuần túy về kinh tế,
thờ ơ trước các vấn đề tiêu
cực, ít hoặc không quan tâm
phats sinh và tái sinh những
tư tưởng bảo thủ, trì trệ gây
bất lợi cho sự ổn định chính
trị và hình thành văn hóa
chính trị theo hướng tích cực
-Quá trình đổi mới, sự phát
triển nhu cầu đa dạng về văn
hóa là dấu hiệu tiến bộ. Nhờ
đó con người có điều kiện
tiếp nhận thông tin, nâng cao
hiểu biết, nâng cao nhạy
cảm trong cuộc sống. Song,
nặt trái của nền kinh tế thị
trường là khuynh hướng
thương mại hóa văn hóa đã
tạo nên những lệch lạc về thị
hiếu nghệ thuật, về cách
đánh giá, cách nhìn nhận các
sự kiện chính trị đã tác động
ảnh hưởng tiêu cực tới sự
hình thành văn hóa chính trị
ở nước ta.
- Về tình hình thế giới: Sự
sụp đổ của Liên Xô và các
nước XHXN ở Đông Au đã
gây nên những bất lợi trong
tương quan trật tự thế giới
và trong cuộc đấu tranh giữa
2 hệ tư tưởng vô sản và tư
sản. Đồng thời khuynh
văn hóa chính trị của nhân
dân ta như sau:
- Nâng cao trình độ học vấn,
trình độ văn hóa nói chung
cho nhân dân, vì trình độ
học vấn, trình độ văn hóa
chính là cơ sở của văn hóa
chính trị. Về trình độ học
vấn và trình độ dân trí, một
học giả phương Tây nói:”
Xây một trường học thì bớt
đi một nhà tù “
- Đổi mới và nâng cao chất
lượng giáo dục lý luận chính
trị để góp phần hình thành
thể giới quan khoa họcvà
niềm tin trong nhân dân, đặc
biệt là đối với cán bộ, đảng
viên, trí thức, văn nghệ sỹ,
thanh niên, sinh viên ở các
trường đại học và cao
đẳng… Yêu cầu trong đổi
mới cần chú ý những nội
dung sau:
+ Coi trọng giáo dục tính
cách mạng và khoa học của
chủ nghĩa Mác Lênin.
+ Giáo dục phải phù hợp với
từng loại hình cụ thể.
+Giáo dục trên cơ sở sáng
sách của Đảng và Nhà nước
( vì mục đích tuyên truyền
và tăng niềm tin cho nhân
dân ).
- Tăng cường hình thức giao
tiếp văn hóa tinh thần theo
yêu cầu dân chủ hóa và mở
rộng hoạt động đối ngoại
trao đổi kỷ năng và phương
pháp văn hóa tranh luận
( Mở rộng giao lưu văn hóa
như chương trình SV 2000,
giờ thứ 9 của Tổng liên đoàn
lao động Việt nam, ở nhà
chủ nhật, gặp nhau cuối tuần
của đài truyền hình Trung
ương, chương trình về
nguồn thăm lại chén trường
xưa của Trung ương đòan,
Gặp mặt truyền thống của
Hội cựu chiến binh Việt
nam).
- Mở rộng hình thức và
phương pháp tập hợp giáo
dục quần chúng theo các
đoàn thể, các hội, các hiệp
hội. Sự phát triễn sâu rộng
các hội của quấnchung là
biểu hiện trính độ phát triển
của văn hóa dân chủ. Đây là
đằng, làm một nẻo mà phải
sống với nhau có tình, có
nghĩa. Người cho rằng: Đọc
hết sách vở của Chủ nghĩa
Mác Lênin mà sống với
nhau không có tình, có nghĩa
thì không hiểu gì về chủ
nghĩa Mác Lênin.
+ Hồ Chí Minh yêu cầu khi
có chức có quyền cần đề
phòng một só bệnh nó dễ đi
liền với chức quyền như:
Bệnh cậy thế, bệnh tham
nhũng, bệnh địa phương chủ
nghĩa, bệnh chia rẽ, bè phái,
bệnh kiêu ngạo.
Ngoài ra để văn hóa chính
trị trở thành phổ biến và
thâm nhập rộng rãi vào quần
chúng nhân dân thì cần sớm
tập trung lực lượng chuyên
gia để nghiên cứu và tiễn
khai các đề tài về chính trị
và khoa học chính trị, trong
đó có vấn đề về văn hõa
chính trị.
Câu 11:
tại của xã hội.
I.
Cơ sở phương pháp
luận để xây dựng và tổ chức
thực hiện quyết sách chính
trị
1) khái niệm quyết
sách chính trị và vai trò của
quyết sách chính trị:
Quyết sách chính
trị là đường lối, là NQ của
Đảng. Đường lồi của Đảng
là khoa học, là nghệ thuật
lãnh đạo chính trị của GC
cônh nhân trong cuộc đấu
tranh từng bước cải tạo xã
hội cũ, xây dựng xã hội mới;
đường lối còn là bao quát
một hệ thống những quan
điểm của Đảng và mang tíng
chiến lược ở từng thời kì
cách mạng cụ thể. Có thể có
đường lối chung cho toàn bộ
quá trình cách mạng, và có
thể có đường lối cho từng
giai đoạn ứng với từng
nhiệm kì của ĐH Đảng.
Nghị quyết của Đảng bao
gồm: Nghị Quyết của trung
ương, Đảng bộ, chi bộ, của
phạm vi của mọi nghị quyết
càng hạn hẹp bao nhiêu thì
mọi nội dung cùa nghị quyết
càng mang tính cụ thể bấy
nhiêu.
Vai trò của quyết
sách chính trị:
Quyết sách chính trị luôn
có vai trò đặc biệt quan
trọng đối với một Đảng. Nó
bảo đảm tính tự giác, tính
định hường đúng đắn và tính
hiệu quả của hoạt động
chính trị nhằm biến đổi xã
hội một cách thực tế thei
hướng tiến bộ. Sự quan
trọng của quyết sách chính
trị đối với một Đảng đựoc
thể hiện ở 2 cơ sở sau:
+ Xuất phát từ nội dung
của quyết sách chính trị. Nôi
dung của quyết sách chính
trị luôn thể hiện 3 nội dung
cơ bản sau:
Quyết sách chính
trị đề ra mục tiêu và định
hướng cho cách mạng (kể cả
GC VS và GC TS). Đây là
nội dung cơ bản nhất, quan
định lực lượng cách mạng
trước hết là công-nông do
GC công nhân lãnh đạo,
song phải lôi kéo cho được
nhiều thành phần tiểu TS, trí
thức, trung nông về phía
cách mạng. Đối với phú
nông , trung tiểu địa chủ và
TS Việt Nam chưa rõ mặt
phản cách mạng thì phải lợi
dụng hoặc trung lập, bộ
phận nào rõ mặt thì phải
đánh đổ. Sự ra đời của Đảng
và tính đúng đắn của cương
lĩnh đã đánh dấu một bước
ngoặc căn bản của lịch sử
cách mạng Việt Nam, chấm
dứt thời kì khủng hoảng về
đường lối cứu nước, là sự
kiện có ý nghĩa quyết định
đối với toàn bộ quá trình
phát triển cách mạng Việt
Nam từ đó và về sau này.
Quyết sách chính
trị là cần phải xác định bạn
đồng minh và kẻ thù để từ
đó bố trí tương quan lực
lựơng cách mạng. Hực tiễn
cách mạng Việt Nam đã
tháng 8/1945, quân tưởng
với danh nghĩa giải giáp
quân nhật kéo ồ ạt vào nước
ta. Am mưu đen tối của
chúng là “diệt cộng, cầm
Hồ”. Chúng tiến hành đánh
phá, cướp bóc nhiều nơi ở
nước ta. Bác Hồ của chúng
ta lặng lẽ chia sẻ những đau
thương do quân tưởng và
bọn bán nước gây ra. Song,
Bác kết luận, phải nhận thức
đúng về ta (biết mìmh); về
địch (biết người) nếu đánh
tưởng lúc này khó nói vời
thế giới vì chúng mang danh
nghĩa quân đồng minh, vả
lại quân tưởng chúng ăn gạo
lứt, đi giày cỏ, luồn rừng lội
suối không kém gì bộ đội ta.
điều quan trọng là chúng
đang bị hai sức ép lớn là do
Đảng cộng sản trung quốc
đánh chúng, hai là theo hiệp
ước pháp-tưởng thì tưởng sẽ
rút toàn bộ quân lực về
nước. Nghĩa là không đánh
ta cũng thắng. Và thực tế đã
chứng minh được điều đó:
quân tưởng đã rrút về nước
toàn dân đối với tư liệu sản
xuất ngay cả khi lực lượng
sản xuất còn thấp kém…,
duy trì quá lâu mô hình KT
tập trung quan liêu bao cấp
đã đưa đến sự trì trệ và
khủng hoảng về KT-xã hội.
Đại Hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI đã đánh giá thực
trạng tình hình đất nước,
thẳng thắn chỉ ra những sai
lầm, khuyết điểm, những
khó khăn về KT và đời sống
nhân dân. Đảng đề ra đường
lối đổi mới đúng đắn, đề ra
con đường biện pháp và
bước đi thích hợp, phản ánh
đúng quy luật vận động
khách quan của lịch sử và
thực trạnh tình hình KT của
nước ta, nhờ đó nền KT dần
dần ổ định và phát triển.
+ Quyết sách chính trị đúng
thì chính là xu hướng chính
trị tiến bộ tạo điều kiện cho
KT phát triển nhanh và
ngược lại. Trong điều kiện
Đảng lãnh đạo hệ thống
chính trị, để xây dựng xã hội
mới, xã hội XHCN. Quyết
Đảng phải xuất phát từ thực
tiễn và được kiểm chứng từ
thực tiễn sinh động của quần
chúng nhân dân, và điều này
cho thấy nếu xây dựng mục
tiêu sai thì không bao giờ có
hành động đúng.
2) Những cơ sở và
phương pháp luận cơ bản
trong việc xây dựng và tổ
chức thực hiện quyết sách
chính trị:
- Do quyết sách chính trị
được luận chứng một cách
KH đáp ứng được yêu cầu
của cách mạng. Vì vậy,đòi
hỏi các quyết sách chính trị
phải được xây dựng và tổ
chức thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận của phép
biện chứng duy vật. Phép
biện chứng duy vật đóng vai
trò là cơ sở của phương pháp
luật để xây dựng và tổ chức
thực hiện quyết sách chính
trị của chúng ta vì:
+ Chỉ có phép biện chứng
duy vật mới giúp cho chúng
ta nhận thức được sự vật và
xã hội một cách đầy đủ nhất
Xô, phong trào cách mạng ờ
pháp, cách mạng thuộc địa
chưa thể trực tiếp giúp ta
được. Đồng thời kí kết hiệp
định sơ bộ còn nhằm bảo
toàn lực lượng, lấy giây phút
nghỉ ngơi và củng cố vị trí
đã chiếm được, chấn chỉnh
đội ngũ, bổ sung cán bộ, bồi
dưỡng và củng cố phong
trào… Đồng thời ta cũng
khôn khéo kí với pháp tạm
ước 14/09/1946 là thể hiện
thiện chí hoà bình trước sau
như một của nhân dân Việt
Nam và tranh thủ thêm thời
gian hoà hoãn để chuẩn bị
đối phó sự bội ước của pháp,
tạo coơ hội tốt cho giai đoạn
cách mạng mới: đó là chuẩn
bị lực lượng về mọi mặt cho
toàn quốc khánh chiến.
+ Chỉ có phép biện chứng
duy vật mới giúp chúng ta
nhận thức đúng đắn và khoa
học về mối quan hệ giữa
mục tiêu và phương tiện.
D9ối với mục tiêu mà quyết
sách chính trị đề ra chúng ta
sách chính trị.
+ Cơ sở thứ nhất là sự phát
triển của xã hội nói chung và
của CNXH nói riêng là nó
luôn thống nhất giữa khách
quan và chủ quan. Trong đó,
chủ quan chính là quyết sách
chính trị. Do vậy, nếu chủ
quan phản ánh đầy d8ủ hiện
thực khách quan thì đó là
quyết sách chính trị đúng và
ngược lại. Cho nên mọi
đường lối chủ trương, chính
sách của Đảng và nhà nước
phải xuất phát từ thực tế, tôn
trọng quy luật khách quan.
Lênin cho rằng: “người ta
không thể chỉ dựa trên tình
cảm cách mạng mà định ra
một sách lược cách mạng
được. Khi định ra sách lược
phải trấn tĩnh, phải hết sức
khách quan”.
Ngoài ra, quyết sách chính
trị cần phải rất coi trọng mối
quan hệ GC. Chỉ có nghiên
cứu khách quan toàn bộ mối
quan hệ qua lại giữa các GC
tầm vĩ mô hay vi mô đều
nhằm giải quyết vấn đề cụ
thể do cách mạng đề ra. Vì
vậy, việc xây dưng, tổ chức
thực hiện quyết sách chính
trị dứt khoát phải xuất phát
từ thực tế khách quan.
+ Quyết sách chính trị đúng
thì bao giờ cũng nhằm giải
quyết những vấn đề cụ thể
do thực tiễn cách mạng đề
ra. Nhưng cụ thể ở đây là nó
phải phát huy được tính chủ
động, sáng tạo làm cơ sở cho
việc phân tích tình hình cụ
thể của sự vật trong những
không gian nhất định, biết
đề ra những quyết sách đúng
đắn, đồng thời cũng hết sức
tránh chủ nghĩa giáo điều,
rập khuôn, máy móc (chúng
ta học tập kinh nghiệm của
các nước khác nhưng không
rập khuôn máy móc mà phải
linh hoạt sáng tạo).
Chúng ta phải nắm
vững quan điểm về tính biện
chứng của sự vật và xã hội
là diễn ra trong mâu thuẫn
triển của sự vật và xã hội
cũng như chỉ ra con đường
và biện pháp để giải phóng
xã hội.
II.
Những yêu cầu cơ
bản trong việc xây dựng và
tổ chức thực hiện quyết sách
chính trị
1) những yêu cầu cơ
bản ttong việc xây
dựng quyết sách
chính trị:
Yêu cầu tổng quát:
yêu cầu cơ bản nhất của mọi
quyết sách chính trị là chúng
ta phát hiện và giải quyết
đúng đắn, kịp thời và có
hiệu quả những vấn đề do
thực tiễn cách mạng đặt ra
để từ đó đưa sự vật và xã hội
phát triển theo hướng khách
quan (yêu cầu khi giải quyết
sự việc phải tính toán cụ thể,
nhưng đôi lúc cũng không
nên tính quá kĩ, quá cầu toàn
sẽ lỡ mất thời cơ).
Yêu cầu cụ thể, bao
gồm 4 yêu cầu sau:
với thực tiễn” và “chín
muồi” nên được đông đảo
quần chúng đồng tình ủng
hộ.
+ Quyết sách chính trị phải
phát huy được tinh thần cách
mạng tiến công của quần
chúng. Tinh thần tự lực tự
cường của quần chúng nhân
dân. Có như vậy thì quyết
sách chính trị mới có khả
năng chống lại những cản
trở, vượt khó khăn thử
thách.
2) những yêu cầu cơ bản
trong việc thực hiện quyết
sách chính trị:
Nguyên tắc quan
trọg nhất của việc tổ chức
thực hiện quyết sách chính
trị là sự thống nhất giữa lời
nói và việc làm, giữa nghị
quyết và hành động.
Trong tổ chức thực
hiện quyết sách chính trị yêu
cầu phải kết hợp chặt chẽ
việc kiên trì, bền bỉ thực
hiện mục tiêu đã đề ra với
việc linh hoạt, nhạy bén
chất lượng tổ chức thực hiện
các quyết sách tiếp theo.
Quyết sách chính
trị phải được thể chế hoá
thành chủ trương, chính sách
và pháp luật của nhà nước
để buộc mọi công dân phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
III.
kết luận
thực hiện cương lĩnh 1930,
trong suốt 45 năm, Đảng ta
do chủ tịchHCM sáng lập và
rèn luyện đã lãnh đạo nhân
dân ta đấu tranh cách mạng
giành thắng lợi vĩ đại với:
cách mạng tháng tám thành
công khai sinh ra nước Việt
Nam DCCH; đánh thắng
thực dân pháp, miền bắc
chuyển sang giai đoạn cách
mạng XHCN; kháng chiến
chống mĩ cứu nước thắng
lợi, cả nước cùng quá độ tiến
lên CNXH.
Trong
cách
mạng
nổi bật nhiều điều sâu sắc.
Trong quátrình đổi mới
từ ĐH VI của Đảng khởi
xướng và được phát triển
hơn một bước ở “cương lĩnh
xây dựng đất nước trong
thời kì quá độ lên CNXH”,
các quyết sách chính trị của
Đảng ta phải luôn dựa vào
nhân dân, phù hợp với thực
tiễn, luôn sang tạo và có
những khâu đột phá mới.
Trong tiến trình đổi mới
Đảng ta luôn kiên trì mục
tiêu độc lập dân tộc và
CNXH trên nền tảng tư
tưởng CN Mác-Lênin và tư
tưởng HCM. Đồng thời, đổi
mới phải trên cơ sở kết hợp
sức mạnh của dân tộc với
sức mạnh của thời đại; tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng
là nhân tố quyết định thành
công của sự nghiệp đổi mới
ở nước ta hiện nay.
Câu 12:
Thông qua lí
những giá trị bằng cách đó
thì anh ta mới là chủ thể của
lợi ích chính trị.
Lợi ích chính trị
xuất phát từ nhu cầu chính
trị-là những nhân tố, những
hình thức, những điều kiện
chính trị thoả mãn được nhu
cầu của chủ thể. Nếu xét lợi
ích chính trị tự việc phân
loại lợi ích chính trị trên cơ
sở lĩnh vực mà lợi ích chính
trị trực tiếp hướng tới thì lợi
ích chính trị là lợi ích của
con người trên lĩnh vực
chính trị. Thực ra mọi lợi ích
chính trị đều nhằm đạt tới
lợi ích KT.
Lợi ích chính trị
hình thành từ những quan hệ
KT và gần hơn, từ các nhu
cầu và lợi ích KT. Trong xã
hội có GC, sự khác nhau về
KT dẫn đến hình thành
QHKT khác nhau từ đó nhu
cầu về lợi ích KT không
giống nhau, các nhu cầu về
lợi ích KT luôn luôn đòi hỏi
một cách khách quan việc
thực hiện chúng thông qua
định. Nói đến lợi ích chính
trị là nói đến giá trị của GC.
Giá trị của GC không chỉ là
nội dung của động lực chính
trị mà còn là mục tiêu và
hành động CT thữc tiễn chủ
thể hướng tới. Những giá trị
GC cũng chỉ là giao điểm
của các mối quan hệ xã hộiCT; đồng thời là trung tâm
của mọi động lực chính trịxã hội cũng là động lực phát
triển của xã hội có GC.
Các nhân tố, các
quá trình trong quan hệ với
con người biểu hiện hư là lợi
ích chính trị của họ. Đồng
thời nó lại có vai trò như là
con đường và phương tiện
để thực hiện hoá lợi ích CT.
toàn bộ quá trình này được
diễn ra thông qua một số
khâu có liên hệ tác động
nhân quả với nhau để cuối
cùng đưa đến một mục đích
nhất định. Đó chính là cơ
chế hiện thực hoá lợi ích
chính trị:
+ Mục tiêu lí tưởng CT với
tư cách là sự thể hiện lợi ích
chính trị:
Không có thống nhất về
mụctiêu, lí tưởng chính trị
thì chủ thể CT là một khối
lỏng lẻo hỗn tạp, phong trào
chính trị không vược qua
được trình độ tự phát và lợi
ích chính trị trở nên mờ
nhạt, không có khả năng
hiện thực hoá. Việc xác định
mục tiêu lí tưởng chính trị
đòi hỏi trước hết cần phải có
vai trò lãnh đạo, tổ chức xã
hội của lực lượng chính trị
tiên phong.
+ Vai trò của người đại diện
trong việc thực hiện lợi ích
chính trị:
Lênin đã từng nhận định:
“trong lịch sử chưa hề có
một GC nào giành được
quyền thống trị nều nó
không đào tạo ra được trong
hàng ngũ của mình những
lãnh tụ chính trị, những đại
biểu tiên phong có đủ khả
năng tổ chức và lãnh đạo
phong trào”… Vai trò của
họ được xác định do: họ
nhìn xa trông rộng, có ý chí
mãnh liệt hơn người trong
tiện, công cụ để thực hiện
lợi ích chính trị của chủ thể,
mặt khác chúng là đại diện
cho lợi ích chính trị của họ.
Trên thực tế tuỳ
theo mỗi điều kiện có sự
phân hoá về lợi ích trong nội
bộ các tổ chức cũng như
phân hoá giữa bản thân tổ
chức chính trị với cơ sở xã
hội của nó. Từ đó dẫn đến
tình trịng đấu tranh, bè phái
cao hơn là xung đột chính
trị. Khi đó vấn đề lợi ích
càng trở nên phức tạp. Để
nhận thức đúng trạng thái
chính trị đó, phải chỉ ra được
lợi ích của GC nào và nhóm
nào quyết định bản chất và
chi phối chính sách của mỗi
tổ chức chính trị.
+ Tổ chức hoạt động chính
trị thực tiễn nhằm hiện thực
hoá lợi ích chính trị:
Nếu không tổ chức
hoạt động chính trị thực tiễn
thì lợi ích chính trị chỉ tồn
tại dười dạng khả năng, lợi
trị.
Hình thức hoạt
động chính trị thực tiễn
thuờng bị chế định bởi các
nhân tố: trình độ chín muồi
của chủ thể, kĩ năng nắm bắt
các khâu liên hệ chủ yếu của
quá trình chính trị, nhiệm vụ
đặt ra phù hợp với lợi ích
chính trị căn bản, lực lượng
xã hội và điều kiện vật chất
của nó. Mác: “lúc nào hành
động chính trị cũng đều phát
sinh từ những sự thúc đẩy
vật chất trực tiếp chứ không
phải từ những câu nói chính
trị và pháp lí đi kèm theo”.
Những nhân tố trên đây
tuy chưa đầy đủ nhưng được
xem đó là những nhân tố căn
bản nhất của cơ chế hiện
thực hoá lợi ích chính trị.
Xét từ phươnh diện của cơ
chế tác động của quy luật
CT, lợi ích chính trị có vị trí
như là nhân tố trung tâm của
cơ chế đó. Bởi vì quy luật
chính trị chỉ phát huy tác
dụng khi có sự kết hợp giữa
GC đối với tiến trình phát
triển của dân tộc, nhân loại.
+ Đó cũng là sự xác lập thiết
chế CT-xã hội với hệ thống
tố chức thực thi quyền lực
chính trị của xã hội; hệ
thống pháp luật, nguyên tắc,
thể lệ… và pháp chế trong
toàn xã hội; trực tiếp hơn cả
là hệ thống chính sách và
phương thức thực hiện từng
chính sách của nhà nước đối
với xã hội nói chung, các
chủ thể nói riêng.
+ Cơ sở thực tế của việc thụ
hưởng các giá trị vật chất và
tinh thần của chủ thể là thực
trạng nền KT-xã hội của đất
nước với sự phát triển của
LLSX; trình độ phát triển
của nền văn hoá xã hội nói
chung, nền văn hoá CT và
trình độ mọi mặt của các chủ
thể nói riêng; cái quy định
tất cả những vấn đề trên lại
là bản chất của QHSX thống
trị.
Ngoài ra, truyền thống
của dân tộc, của GC, của
chính Đảng; tình hình chính
hội. Điều đó có ý nghĩa cần
tạo ra mối quan hệ thống
nhất hữu cơ giữa nhân dân
lao động (với tính cách là
chủ thể của lợi ích chính trị)
và các nhân tố của HTCT
(với tư cách là đại biểu lợi
ích và thực thi lợi ích của
nhân dân lao động) trên
những vấn đề bức bách nhất
hiện nay.
ĐH VI của Đảng
đánh dấu bước ngoặc quan
trọng trong sự lãnh đạo
chính trị của Đảng. Đó là
việc Đảng phát động công
cuộc đổi mới và dân chủ
hoá. Nhờ đó trên lĩnh vực
đời sống chính trị, nhân dân
ta có bước trưởng thành
đáng kể về chính trị. Bước
tiến ấy thể hiện trong việc
họ nhận thức lợi ích chính trị
và hoạt động chính trị để
thực hiện lợi ích đó. Đối với
hệ thống chính trị, sự đổi
mới diễn ra theo xu hướng
dân chủ hơn: Bộ máy nhà
nước được xây dựng theo
tinh thần là của dân, do dân
bộ tâm lực của họ vào giải
quyết. Do vậy, chính trị bị
lãng quên.
+ Trình độ văn hoá chính trị
của nhân dân còn thấp; thói
quen phó mặc công việc
chính trị cho người kãnh đạo
và quản lí còn khá trầm
trọng, công tác giáo dục
chính trị còn khá nhiều hạn
chế cả bề rộng lẫn bề sâu.
+ HTCT chưa biểu hiện thực
sự rõ là các tổ chức đại diện,
bảo vệ và thực hiện lợi ích
chính trị cho nhân dân lao
động, chưa lôi cuốn họ tham
gia quản lí với tính cách là
chủ thể chân chính của xã
hội.
Phương hướng thực
hiện lợi ích chính trị ở nước
ta hiện nay:
+ Phương hướng căn bản
bao trùm là bảo đảm sự định
hướng XHCN là nhằm phấn
đấu thoát khỏi nghèo nàn,
lạc hậu, tiến lên dân giàu,
nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Chỉ có CNXH mới là chế độ
trị là động lực của quá trình
phát triển xã hội.
Câu 2: Đồng chí hãy trình
bày những nội dung cơ bản
của lịch sử tư tưởng chính trị
ở phương tây thời cổ đại và
cận đại. Nêu giá trị của nó
đối với việc xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN ở
nước ta hiện nay.
Bài làm
A, Những nội dung cơ bản
thời cổ đại:
Đây là thời quá độ từ xã hội
công xã công xã nguyên
thuỷ sang thời kì chiếm hữu
nô lệ. Đặc điểm của thời kì
này là mâu thuẫn giữa GC
chủ nô với GC nô lệ. (GC nộ
lệ phương tây là LLSX chủ
yếu của xã hội, bị đối xử
một cách tàn tệ, xã hội đo sự
giàu có của nhau bằng số nô
lệ mình có được). Xuất hiện
tầng lớp dân tự do mâu
thuẫn với chủ nô. Chủ nghĩa
DT đại diện cho chủ nô quý
mạnh của nhân dân lên. Ong
là người đầu tiên đặt ra yêu
cầu về thủ lĩnh chính trị khá
toàn diện như: phải có
chuyên môn giỏi, có uy tín,
vì dân…
PLATON: yêu cầu
thủ lĩnh chính trị phải thực
sự có KHCT, có tính khí phù
hợp với nhiệm vụ đảm
đương. Ong xem tiêu chuẫn
chính trị là tiêu chuẩ của
mọi tiêu chuẩn. Ong quan
niệm người lãnh đạo trong
xã hội không được có qyền
tư hữu. Vì tư hữu sẽ làm mất
công tâm. Lực lượng võ sĩ
bảo vệ thì không được có gia
đình riêng vì có gia đình
riêng thì sẽ không thể chiến
đầu dũng cảm được. Theo
ông, thủ lĩnh chính trị phải
biết hy sinh lợi ích cá nhân
vì những giá trị chung. Ong
co sai lầm khi cho rằng một
thủ lĩnh chính trị như vậy
chỉ có ở chủ nô quý tộc.
ARISTOTE: xem
người tự nó đã hoàn hảo,
không có vấn đề công bằng
hay không công bằng ở đó.
Công bằng do con người tạo
ra xã hội con người là một
trạng thái tự nhiên, tự nó,
không ai sinh ra, không ai
sắp đặt nó, tự nhiên sinh ra
có kẻ trí và người ngu cho
nên kẻ trí thống trị người
ngu là lẽ tự nhiên, kẻ trí là
người quí tộc, nô lệ là người
ngu. Ong cho rằng quyền
lực là quy luật vĩnh viễn.
Không bao giờ trong xã hội
lại không có quyền lực.
Pháp luật nhằm thực hiện
tính tất yếu của quyền lực,
xã hội phải phục tùng ý chí
của một cá nhân là điều tất
yếu cho sự thống nhất. Theo
ông bất bình đẳng là tự
nhiên. Một quý tộc phải
được trị giá bằng một nhìn
dân thường. Ong thuộc tầng
lớp chủ nô quý tộc, có lập
trường duy tâm; không nhớ
rằng kẻ nắm tư liệu sản xuất
mới là người thống trị.
lịch sử lâu dài, nó là của
nhân dân, của chung chứ
không riêng của một ai dù
đó là người tài giỏi nhất
cũng sinh ra quyền lực được.
3, quan điểm về thể chế nhà
nước:
HÉRODOT:
là
người đầu tiên trong lịch sử
nhân loại đã phân biệt và so
sánh các thể chế của nhà
nước khác nhau. Theo ông
có 3 hình thức cơ bản:
+ Thể chế quân chủ: tức là
thể chế cầm quyền của một
người-đó là vua. Thể chế
này có 2 mặt:
Nhược: là sự độc
đoán, chuyên quyền, dễ bị
xu nịnh, luôn có xu hướng là
lạm dụng quyền lực.
Ưu: là thể chế ra
đời thường là do những
người có công khai quốc,
thường là vì lợi ích chung
của nhân dân. Nó là một bàn
đều do tập thể. Nó có xu
hướng công bằng vì lợi ích
chung.
Nhược: số đông
cngười ít học cầm quyền thì
dễ rơi vào tiểu tiết mà quên
đi tầm chiến lược, thường
thấy những chuyện trước
mắt mà không thấy trước
những chuyện lâu dài. Dễ bị
kẻ xấu kích động lôi kéo. Từ
đó ông kết luận loại thể chế
tốt nhất là thể chế hỗn hợp
những ưu của từng thể chế
trên.
DEMOCRIT: ông
ủng hộ chế độ dân chủ cộng
hoà chủ nô.
SOCRAT: ông là
người ủng hộ chế độ chuyên
chế độc tài. Ong cho rằng
dân chủ là sai lầm. Dân chủ
là chính quyền của ngừơi
ngu dốt, ông gọi đó là chính
quyền “bình dân”.
ARISTOTE: ông
luận chứng cho tính hợp lí
của chế độ chiếm hữu nô lệ.
của18 “bộ luật tự nhiên”.
Về tư cách lãnh
đạo: mọi chúc vụ của người
cầm quyền phải được thực
hiện bằng thi cử. “dòng đầu
tiên của một bộ luật là hạn
chế quyền lực của người
cầm quyền”. (Diderot)
Về phương pháp
thay đổi chế độ xã hội: ông
không tán thành phương
pháp cách mạng. Tiến bộ về
lí trí sẽ làm that đổi xã hội.
Phủ nhận vai trò
của tôn giáo: nhà thờ không
thể dung hoà với chân lí
được.
2, VOLTAIRE:
ông phê phán nhà
thờ và chuyên chế. Mọi tội
ác trong xã hội là do nhà thờ
mà ra.
Ong chủ trương tự
do tín ngưỡng, báo chí, ngôn
luận và sở hữu.
Ong lịch liệt chống
chiến tranh. Theo ông, chiến
tranh còn kinh khủng hơn
dịch hạch và điên khùng.
Bất bình d0ẳng về