A. PHẦN LÝ THUYẾT
Phân tích các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội
1
Ở Việt Nam, các quy định nhằm mục đích an sinh xã hội xuất hiện từ rất sớm
nhưng lý luận lĩnh vực pháp luật này chỉ mới được chú trọng trong những năm gần đây.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, an sinh xã hội càng trở nên quan
trọng. Để thực sự bảo đảm xây dựng, phát triển và thực hiện tốt hệ thống chính sách về
an sinh xã hội trong giai đoạn mới thì việc cần phải nắm vức các kiến thức lý luận về
quan hệ pháp luật an sinh càng trở nên cần thiết, đặc biệt là về các đặc điểm cơ bản của
quan hệ pháp luật này. Trong phạm vi đề tài, tôi sẽ đưa những đặc điểm cơ bản nhất,
qua đó mong muốn xây dựng một cái nhìn đúng đắn về quan hệ pháp luật an sinh xã hội
I. Khái niệm quan hệ an sinh xã hội.
Những quan hệ an sinh xã hội trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, được
gọi là các quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Quan hệ pháp luật về an sinh xã hội là
nhưng quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức thực hiện các
hình thức bảo vệ, trợ giúp các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết
nhằm đảo bảo an toàn trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật an sinh
xã hội điều chỉnh.
Từ đó, có thể thấy rằng các quan hệ xã hội hình thành với mục đích an sinh xã hội
trên thực tế tồn tại dưới nhiều hình thức: do Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện
hoặc do các bên tự do thiết lập cơ chế nhu cầu và lợi ích của mỗi bên hoặc hình thành
trong đời sống các cộng đồng dân cư làng xã, họ tộc, tôn giáo, nghề nghiệp... Pháp luật
chỉ điều chỉnh những quan hệ an sinh xã hội mang tính xã hội sâu sắc, được Nhà nước
tổ chức và đảm bảo thực hiện trên phạm vi rộng lớn hoặc những quan hệ cần thiết phải
quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Những quan hệ mang tính an
sinh xã hội không do pháp lụât điều chỉnh và tồn tại và vận hành theo tập quán hoặc trên
cơ sở tình cảm, quan niệm đạo đức của cộng đồng.
vừa là người tạo phong trào thực hiện các họat động tương trợ cộng đồng để các thành
viên trong xã hội, thông qua Nhà nước, bù đắp những khoảng trống mà pháp luật an
3
sinh xã hội không thể đáp ứng được do tính nghiêm trọng của rủi ro cần chia sẻ trong
những trường hợp cá biệt hoặc để mục đích an sinh xã hội đạt được ở mức độ cao hơn.
2. Thứ hai, tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội có thể là tất cả các thành
viên trong xã hội không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào.
Khác với quan hệ tương trợ cộng đồng khác có giới hạn trong những phạm vi nhất
định dựa trên cơ sở địa bàn sinh sống, tôn giáo, họ tộc hoặc các điều kiện tham gia khác,
quan hệ pháp luật an sinh xã hội được hình thành trong phạm vi rộng lớn của quốc gia.
Do Nhà nước, chủ thể đại diện cho toàn xã hội, tham gia với tư cách là một bên của
quan hệ này nên tất cả các thành viên của xã hội trong phạm vi quốc gia đều có thể
được hưởng trợ giúp. Để hưởng được một chế độ cụ thể nào đó chỉ phụ thuộc vào điều
kiện, hoàn cảnh thực tế đã được pháp luật xác định, không có bất kỳ một giới hạn hoặc
một sự phân biệt nào khác. Thậm chí, nhiều trường hợp không có sự phân biệt về quốc
tịch như phần lớn các quan hệ xã hội được pháp luật quốc gia điều chỉnh. Ví dụ, khi có
thiên tai, hoạn nạn xảy ra, mọi cá nhân trong phạm vi ảnh hưởng đều được nhận sự trợ
giúp, không có sự phân biệt đó là người Việt Nam hay người nước ngoài để xác định
quyền hoặc mức độ đảm bảo quyền trợ giúp của xã hội đối với mỗi cá nhân.
Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập theo nhiều tầng nấc
để tạo thành một hệ thống các quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, đảm bảo an toàn ở
những mức cần thiết trợ giúp cho tất cả các thành viên xã hội theo từng nhóm. Vì vậy,
những nhóm quan hệ nhỏ trong hệ thống các quan hệ pháp luật an sinh xã hội như bảo
hiểm xã hội, ưu đãi xã hội đã quy định những điều kiện nhất định đối với những người
được thụ hưởng. Đó không phải là giới hạn phạm vi tham gia loại quan hệ pháp luật này
mà chỉ để đảm bảo công bằng, trên cơ sở nhu cầu của đối tượng đó, phù hợp với trình
độ quản lý rủi ro của nhà nước.
Mỗi thanh viên bất kỳ trong toàn xã hội đều có thể tham gia một hoặc một số quan
hội, để quản lý và chia sẻ rủi ro cho cả cộng đồng, không phụ thuộc vào những quan hệ
xã hội khác, không nhằm thực hiện mục đích khác. Trên cơ sở này, Nhà nước xác định
5
những lọai quan hệ xã hội do pháp luật an sin xã hội điều chỉnh. Điều đó giải thích vì
sao nhiều quan hệ mang tính chia sẻ rủi ro khác pháp luật an sinh xã hội không điều
chỉnh song quan hệ bảo hiểm xã hội chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp tài
chính, có thực hiện cân đối thu chi lại vẫn thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã
hội.
5. Thứ năm, quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể là trợ giúp và được trợ
giúp vật chất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện.
Do mục đích của quan hệ pháp luật an sinh xã hội là đảm bảo an toàn về đời sống
dân sinh (theo nghĩa hẹp) cho con người nên nội dung chính của quan hệ này là vấn đề
trợ giúp vật chất cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết. Điều đó
không có nghĩa là việc trợ giúp vật chất quan trọng hơn những lĩnh vực trợ giúp khác
mà nó chỉ ra lĩnh vực đặc thù làm nên thuộc tính của quan hệ an sinh xã hội. Các lĩnh
vực khác trong xã hội như giáo dục đào tạo, việc làm và thu nhập, đảm bảo điều kiện
sống hòa bình cho người dân... cũng là những vấn đề rất quan trọng nhưng nó thuộc lĩnh
vực bảo đảm xã hội nói chung. Đời sống của con người gắn liền với vấn đề: “cơm, áo,
gạo, tiền”; nên khi gặp khó khăn về kiếm sống như tuổi già, tàn tật, mất nguồn nuôi
dưỡng, mất phương tiện sinh sống do thiên tai...thì xã hội phải trợ giúp cho thành viên
của mình nguồn vật chất để đáp ứng nhu cầu thiết thực nhất đó. Có thực mới vực được
đạo; cũng là thực tế chung trong đời sống con người. Vì vậy quyền và nghĩa vụ chủ yếu
nhất của các bên trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội được Nhà nước đảm bảo thực
hiện là trợ giúp vật chất cho người cần trợ giúp. Chế độ trợ cấp vật chất cho người có đủ
điều kiện luật định là nội dung chính xuyên suốt các chế độ an sinh xã hội không chỉ ở
pháp luật Việt Nam mà còn là nội dung pháp luật của tất cả các nước có điều chỉnh loại
quan hệ này
luật hiện hành. Cụ thể:
1. Cơ sở pháp lý
Thứ nhất, là điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động được quy định tại Điều 39
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 :
“Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau
đây:
1.
Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a, Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;
b, Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu
cầu của người sử dụng lao động;
c, Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và
tuyến đường hợp lý;
2.
Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1
Điều này.”
Thứ hai, Khoản 1 Điều 19 Nghị định 152/2006 hướng dẫn một số điều của Luật
Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng quy định Điều kiện hưởng chế độ tai
nạn lao động theo khoản 1 Điều 39 và điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp theo
khoản 1 Điều 40 Luật Bảo hiểm xã hội như sau: “Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong
8
giờ làm việc kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, thời gian chuẩn bị và kết
thúc công việc”
Thứ ba, Thông tư 03/2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
năm 2006
Như vậy, qua việc phân tích tình huống đưa ra, đối chiếu với các quy định của
pháp luật hiện hành về tai nạn lao động, ta có thể khẳng định anh H bị tai nạn lao động
và có đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động theo Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2006.
II. Các cơ quan tổ chức H có thể gửi đơn để yêu cầu bảo vệ
quyền lợi cho mình
Như đã xác định ở trên, H hoàn toàn có đủ điều kiện để hưởng chế độ tai nạn lao
động theo quy định của pháp luật, vì vậy, việc Bảo hiểm xã hội quận Y đã không giải
quyết chế độ tai nạn lao động cho H vì cho rằng đây là tai nạn rủi ro xảy ra ngoài giờ
làm việc là không có căn cứ, vi phạm pháp luật. Và đây được xác định là một quyết
định bảo hiểm xã hội, vì vậy thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ được thực hiện theo
khoản 2 Điều 131 Luật Bảo hiểm xã hội 2006:
“2. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện như sau:
a) Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về bảo hiểm xã hội là người
có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại.
Trong trường hợp người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại
không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền
giải quyết;
b) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có
quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động
cấp tỉnh;
10
c) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà
3. Trình tự, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại lần hai về bảo hiểm xã hội.
a) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết thì
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội hoặc khởi kiện tại Toà án;
b) Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu
nại của Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội hoặc quá thời hạn quy định mà
khiếu nại không được giải quyết thì khởi kiện tại Toà án;
c) Thời hiệu khiếu nại, thủ tục khiếu nại và thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai
thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.”
Trong tình huống này, Bảo hiểm xã hội quận Y đã không giải quyết chế độ tai nạn
lao động cho anh H, vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của mình, anh H cần phải gửi đơn
đến Cơ quan Bảo hiểm xã hội quận Y- là tổ chức đã ban hành quyết định không giải
quyết chế độ cho H theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 56 nghị định 152/2006/NĐCP của Chính phủ Hướng dẫn một số điều Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm bắt buộc:
“a) Khi phát hiện quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội trái pháp luật, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, người khiếu nại gửi đơn đến người, tổ chức đã ban
hành quyết định hoặc đã thực hiện hành vi đó”
Trong trường hợp H không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của
Cơ quan Bảo hiểm xã hội quận Y, hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại lần đầu
không được giải quyết thì H có quyền khiếu nại đến Giám đốc Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định
12
III. Giải quyết quyền lợi cho anh M theo quy định của pháp luật
hiện hành
1. Các quyền lợi của anh H theo quy định của Bộ luật lao động
Trước hết, theo Khoản 2 Điều 107 BLLĐ thì “người sử dụng lao động phải chịu
toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao
thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì
được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung”.
Anh H bị suy giảm 64% khả năng lao động, tức là ngoài 30% mức lương tối thiểu
chung, anh còn được hưởng thêm (64% - 31%)x2% = 66% mức lương tối thiểu chung.
Vậy, anh H được hưởng trợ cấp hàng tháng là 30%+ 66%=96% mức lương tối
thiểu chung.
Ngoài mức trợ cấp này,pháp luật còn quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 43
LBHXH là hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã
đóng bảo hiểm xã hội, từ 1năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi
năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo
hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
Thời điểm hưởng trợ cấp được tính từ tháng người lao động điều trị xong, ra viện.
Trường hợp thương tật tái phát, người lao động được đi giám định lại mức suy giảm khả
năng lao động thì thời điểm hưởng trợ cấp mới được tính từ tháng có kết luận của Hội
đồng Giám định y khoa.
Thêm vào đó, nếu như anh H do tai nạn lao động mà bị tổn thương các chức năng
hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên
hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật (Điều 45 LBHXH). Mặt khác, anh H còn
14
được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật theo điều
48 LBHXH nếu tình trạng sức khỏe chưa hồi phục hoàn toàn. Cụ thể:
“Điều 48. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi điều trị thương tật, bệnh tật
1. Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc
bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi
sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày.
2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức,
phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng
2.
3.
4.
5.
16
MỤC LỤC
17