ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
LÊ THU HƯƠNG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ
VÀ ĐÔ THỊ, BỘ QUỐC PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
LÊ THU HƯƠNG
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
TẠI TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ
ĐÔ THỊ, BỘ QUỐC PHÒNG
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số:
60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới cô TS.Nguyễn Thị Thanh Hải đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn các anh chị đồng nghiệp tại tổng Công ty Đầu tư
phát triển nhà và đô thị, Bộ Quốc Phòng đã tận tình hỗ trợ cung cấp thông
tin số liệu để tôi có thể tiến hành thực hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, hỗ
trợ tôi về tinh thần trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tác giả
Lê Thu Hương
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Ký hiệu
STT
Bảng
Nội dung
1
Bảng 3.1
2
Bảng 3.2
2012-2014
Cơ cấu doanh thu của tổng Công ty giai đoạn 2012-2014
3
Bảng 3.3
Tình hình biến động chi phí trong giai đoạn 2012-2014
43
4
Bảng 3.4
Bảng 3.9
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh giai đoạn 2012-2014
53
10
Bảng 3.10
Phân tích tình hình công nợ giai đoạn 2012-2014
54
11
Bảng 3.11
12
Bảng 3.12
Trang
Phân tích tình hình biến động doanh thu giai đoạn
VINACONEX 9, MHDI năm 2014
Tỷ suất sinh lời của các ngành hoạt động xây dựng năm 2014
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động giai đoạn 2012-2014
2
Hình 3.2
của tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị , 48
Bộ Quốc Phòng.
3
Hình 3.3
Tỷ suất tự tài trợ giai đoạn 2012-2014
9
52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau năm năm đối mặt với khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, hiện
nay các nền kinh tế trên thế giới cũng như Việt Nam đang dần phục hồi nhưng
tốc độ còn chậm, đặc biệt thị trường bất động sản vẫn trầm lắng, ngành xây
dựng vẫn trong tình trạng khó khăn phải đối mặt với việc xử lý nợ xấu và
lượng hàng tồn kho lớn. Đứng trước tình hình mới của nền kinh tế và của
ngành xây dựng, các doanh nghiệp xây dựng buộc phải có chính sách kinh
doanh phù hợp, rõ ràng đồng thời phải duy trì công tác quản lý, kiểm soát tốt
tài chính doanh nghiệp. Đặc thù của ngành xây dựng là vốn đầu tư lớn, việc tạo
ra sản phẩm đòi hỏi thời gian thi công lâu dài, phát sinh nhiều chi phí phức tạp
nhưng mức độ cạnh tranh lại khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn nâng
Bộ Quốc Phòng, nhà nước giao cho. Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi
chọn đề tài “Phân tích hiệu quả hoạt động tại tổng Công ty Đầu tư phát triển
nhà và đô thị, Bộ Quốc Phòng” để làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ tính cấp thiết như trên đối với tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và
đô thị, Bộ Quốc Phòng, tác giả lựa chọn đề tài này để phân tích, đánh giá hiệu
quả hoạt động kinh doanh của tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị,
Bộ Quốc Phòng trong thời gian qua và tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh tại tổng Công ty. Để thực hiện được điều này tác giả
tiến hành nghiên cứu theo các bước sau:
- Khái quát lý thuyết cơbản về hiệu quả, hiệu quảhoạtđộng kinh doanh,
đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, việc phân tích
hiệu quả hoạt độngkinh doanh với doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng.
11
- Phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanhtại tổng Công ty
Đầu tư phát triển nhà và đô thị, Bộ Quốc Phòng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh trong lĩnh vực xây dựng tại tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô
thị, Bộ Quốc Phòng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu
Tuy doanhnghiệp có nhiều hoạt động, song luận văn tập trung chủ yếu
vào phântích hiệu quả hoạt động kinh doanh và phân tích chủ yếu hiệu quả
hoạt độngkinh doanhtrên phương diện tài chính của doanh nghiệp. Luận văn
xác định:
- Đối tượngnghiên cứu: Nghiên cứu hiệu quảhoạt động kinh doanh tại
tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị, Bộ Quốc Phòng.
- Phạm vinghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động kinh doanh tại tổng Công
tư phát triển nhà và đô thị, Bộ Quốc Phòng.
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNHNGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
PHÂN TÍCHHIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1Tổng quan nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành đầu tư, sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp có
rất nhiều loại hoạt động, có những hoạt động với mục tiêu thu lợi nhuận và có
một số hoạt động để thực hiện những mục tiêu khác. Tuy nhiên hầu hết các
doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều có mục tiêu cao nhất là tối đa hóa lợi
nhuận và nhắc tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chính là nói tới hiệu
quả hoạt động kinh doanh.Vấn đề hiệu quả trong hoạt động kinh doanh luôn
là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và luôn là chủ đề nóng trong
các diễnđàn về kinh doanh.Phân tích hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp
là công việc thường xuyên của nhà quản trị, đây là quá trình xử lý thôngtin
giúp cho các nhà quản trị đánh giá được mức độ hiệu quả trong hoạt động của
mình đồng thời đưa ra được những quyết định hàng ngày cũng như những
chiến lược dài hạn. Mỗi doanh nghiệp có đặc thù riêng và cần phân tích,nhìn
nhận hiệu quả hoạt động theo đặc thù của ngành. Trong thời gian qua đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu phân tích hoạt động của các doanh nghiệp
khác nhau, trong khả năng tìm hiểu của mình, tác giả đã nghiên cứu được một
số công trình sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình, đề tài nghiên cứu về phân tích hiệu
quả hoạt động kinh doanh trên góc độ tài chính, áp dụng các chỉ tiêu trên hai
báo cáo chính là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh để phân tích. Nhóm này gồm những đề tài như:Luận văn thạc sỹ“Phân
Luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
tại Công ty Cổ phần MISA” của Nguyễn Thị Diệu Thuần (Học viện tài chính,
2012). Trong luận văn tác giả cũng đi vào hệ thống một số lý luận về hiệu quả
sản xuất kinh doanh và phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty Cổ phần MISAđồng thời đề ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp.
Luận văn thạc sỹ “Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần May Bắc
Giang” của tác giả Nguyễn Thành Đạt (Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2015).Luận văn của tác giả dựa trên cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính
doanh nghiệp để phân tích thực trạng tài chính của Công ty Cổ phần May Bắc
Giang, tác giả đã làm rõ đồng thời đối chiếu, so sánh tình hình tài chính của
đơn vị với những đơn vị khác trong ngành để nhận xét, đánh giá về tài chính
của Công ty Cổ phầnMay Bắc Giang. Từ đây tác giả đưa ra các biện pháp cụ
thể để cải thiện tình hình tài chính của Công ty, tuy nhiên các biện pháp trong
luận văn của tác giả mới chủ yếu là nêu vấn đề, chưa được đi vào cụ thể.
Ngoài ra còn có nhiều luận văn phân tích hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp dùng các chỉ tiêu tài chính truyền thống này, tuy
nhiên các tác giả hầu hết còn chưa phân tích sâu, đưa ra các biện pháp cụ thể
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: Luận
văn“Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần
thương mại và cơ khí Tân Thanh - Chi nhánh Hải Phòng” của Trần Trọng
Nghĩa (Đại học dân lập Hải Phòng, 2013); Luận văn “Phân tích hiệu quả
hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và xây dựng Kiên
Giang” của Trương Thị Bích Hào (Đại học Cần Thơ, 2007).
Bên cạnh những luận văn nghiên cứu về vấn đề hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp còn có một số bài báobàn luận về việc áp dụng
các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh vào thực
16
Luận văn thạc sỹ “ Nâng cao hiệu quả kinh doanh khu công nghiệp tại
Việt Nam - Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Quang Minh” của
Nguyễn Thị Thu Hiền (Đại học Ngoại thương, 2011). Tác giả tổng quát lại
một số lý luận về khu công nghiệp và đưa ra một số mô hình khu công nghiệp
tại nước ngoài như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, và tiến hành đánh giá
hiệu quả kinh doanh của khu Công nghiệp Quang Minh trên hai phương diện
là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Có thể thấy hiệu quả hoạt độngkinh doanh và những vấn đề liên quan là
đề tài đã được khai thác và nghiên cứu nhiều trong các năm qua. Hầu hết các
đề tài đều đã hệ thống lại lý luận về hiệu quả, hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh, các nhân tố ảnh hưởng, công tác tổ chức, chỉ tiêu đánh giá và đã phân
tích thực trạng hoạt động của các đơn vị mà đề tài đi sâu vào nghiên cứu. Tất
cả các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo rất hữu ích để nghiên
cứu về đề tài phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên
các công trình nghiên cứu trên chủ yếu có tác dụng tham khảo về mặt nghiên
cứu lý thuyết, các số liệu đã lạc hậu, mặt khác đối tượng nghiên cứu có rất ít
điểm tương đồng đối với đối tượng mà tác giả muốn tập trung nghiên cứu.
Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về phân tích hiệu quả
hoạt động, hoạt động kinh doanh tại tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô
thị, Bộ Quốc phòng một cách tổng thể và toàn diện. Tổng Công ty Đầu tư
phát triển nhà và đô thị, Bộ Quốc phòng là một doanh nghiệp đặc thù hoạt
động trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản không chỉ vậy
doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức đan xen yếu tố quân đội. Những hoạt động
của doanh nghiệp này không chỉ chịu tác động từ những chính sách chung mà
còn chịu tác động từ những quy định, chính sách của Bộ Quốc phòng.Vì thế
đề tài “Phân tích hiệu quả hoạt động tại tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà
và đô thị, Bộ Quốc phòng”là một vấn đề rất cần được nghiên cứu và làm rõ.
19
của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong
suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy các quan điểm đều đưa đến một cách hiểu hiệu quả hoạt động
kinh doanh biểu hiện là mối tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào.
Về mặt so sánh tuyệt đối:
Hiệu quả hoạt động kinh doanh = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào
Về mặt so sánh tương đối:
Trong đó kết quả đầu ra có thể là: Khối lượng sản phẩm hiện vật, giá trị
gia tăng, giá trị sản xuất công nghiệp, khối lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh
thu…
Chi phí đầu vào gồm: Chi phí về lao động, chi phí về vốn, chi phí
nguyên vật liệu, chi phí tài chính….
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả hoạt động kinh doanh
có thể được phân chia thành các loạisau:
Hiệu quả kinh tế: Là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tiền vốn) để đạt mục tiêu đã đề ra.
Hiệu quả xã hội: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt
được các mục tiêu xã hội nhất định như giải quyết công ăn việc làm, giảm số
người thất nghiệp, nâng cao trình độ lành nghề, cải thiện mức sống cho người
lao động.
Hiệu quả an ninh quốc phòng: Phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực vào
sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo an ninh
chính trị, trật tự xã hội.
Hiệu quả đầu tư: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại cho nhà đầu tư các
kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra.
- Yếu tố khoa học kỹ thuật: Với sự phát triển ngày càng cao của khoa
học kỹ thuật, công nghệ, vật liệu mới…doanh nghiệp ngày càng nâng cao
được năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí khi áp dụng
21
khoa học tiên tiến vào quy trình hoạt động. Chính vì vậy yếu tố khoa học kỹ
thuật là một trong những yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp phải chú
trọng nắm bắt trong thời đại mới. Đây là yếu tố có khả năng làm tăng sức
cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2.2Yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan gồm những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, tác
động tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Yếu tố môi trường kinh doanh: Tỷ giá, tỷ lệ lạm phát, chính sách thuế,
lãi suất, tiền tệ… là những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Những điều chỉnh thay đổi của yếu tố này có thể trở
thành điều kiện thuận lợi hoặc cũng có thể trở thành trở ngại gây khó khăn
cho tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Việc theo dõi, dự báo biến động
yếu tố này giúp doanh nghiệp chủ động và có kế hoạch sản xuất kinh doanh
phù hợp.
- Yếu tố môi trường chính trị - luật pháp: Sự ổn định về chính trị, hệ
thống luật pháp, các cơ chế chính sách được áp dụng cũng tác động lớn tới
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp phải tuân thủ.
- Yếu tố môi trường tự nhiên: Vị trí địa lý, thời tiết, khí hậu, nguồn lực
tự nhiên, tài nguyên… Biến động của yếu tố tự nhiên ảnh hưởng lớn tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nhất là khi doanh nghiệp có khoa học
công nghệ chưa cao, còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
- Yếu tố nhà cung cấp: Số lượng, chất lượng của nguồn cung ứng các
yếu tố sản xuất có ảnh hưởng lớn tới khả năng, năng lực lựa chọn phương án
kinh doanh tối ưu.
nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả kinh doanh của các tổ chức
hoạt động.Bởi vậy mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị là không
ngừng nâng cao kết quả và hiệu quả kinh doanh bằng mọi công cụ hữu hiệu.”
(Phạm Thị Gái, 2004, trang 6). Phân tích hoạt động kinh doanh trở thành công
23
cụ không thể thiếu đối với các nhà quản trị khác nhau trong nền kinh tế. Bức
tranh toàn cảnh sau khi phân tích kinh doanh là điều mà mỗi nhà quản trị thấy
được như trình độ tổ chức sử dụng các yếu tố sản xuất, các nguồn lực tài
chính… trong hiện tại để đưa ra quyết định cho tương lai của doanh nghiệp.
Do vậy, phân tích hoạt động kinh doanh có ý nghĩa với nhiều đối tượng quan
tâm tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Các đối tượng thường sử dụng thông tin từ phân tích hoạt động kinh
doanh đó là: Chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các cơ
quan chức năng của nhà nước, công ty kiểm toán, cán bộ công nhân viên, các
chuyên gia phân tích…
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp:Nhà quản trị doanh nghiệp là những
người trực tiếp quản lý doanh nghiệp, cần hiểu rõ tình hình tài chính cũng như
các hoạt động khác của doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh đáp
ứng các mục tiêu như đánh giá khả năng tài chính, hiệu quả hoạt động trong
từng giai đoạnh, bộ phận, khả năng sinh lời, khả năng tích lũy lợi nhuận của
doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh hướng các quyết định của ban
giám đốc theo chiều hướng phù hợp với thực tế của doanh nghiệp, như quyết
định về đấu thầu, huy động vốn, phân phối lợi nhuận. Đồng thời việc phân
tích này cũng là cơ sở cho các dự đoán tài chính, kế hoạch huy động và đầu tư
vốn, các chính sách chung của doanh nghiệp. (Phạm Thị Gái, 2004)
Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư như các cổ đông, các công ty
góp vốn liên doanh… Các nhà đầu tư quan tâm trực tiếp đến giá trị của doanh
Phân tích hiện hành: Là những phân tích đồng thời với quá trình kinh
doanh đang xảy ra nhằm xác định tính đúng đắn của các dự án, kế hoạch, dự
toán… và điều chỉnh kịp thời, hợp lý trong các kế hoạch sản xuất kinh doanh,
thường được gọi là phân tích tác nghiệp.
Phân tích sau:Là phân tích kết quả kinh doanh thu về thường thể hiện
thông qua các báo cáo tài chính, báo cáo kinh doanh bộ phận… nhằm đánh
giá hiệu quả toàn bộ hoạt động kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định kinh
doanh trong kỳ tới.
25