Đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực dân chủ và nhân quyền ở nước ta hiện nay tiểu luận cao học môn chính trị học nâng cao - Pdf 36

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ nhiều năm qua, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược “diễn
biến hoà bình” nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế
giới. Diễn biến về tư tưởng là một trong những mũi nhọn chống phá dưới nhiều
hình thức tinh thần thâm độc: xuyên tạc những nguyên lý cơ bản của hệ tư tưởng
cộng sản, gieo rắc những giá trị tư bản chủ nghĩa phương Tây, phê phán những
mô hình chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng tỏ dựng những
lực lượng chống đối ở các quốc gia, kích động xu hướng chia rẽ, ly khai nhằm
gây các cuộc bạo loạn để kiếm cớ can thiệp lật đổ.
Văn kiện Đại hội đaị biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định
“Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng
phí đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Những biểu
hiện xa rời mục tiêu, lý tưởng của Chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục.
Các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”,
gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân
tộc”, “tôn giáo” hòng làm thay đổi chính trị ở nước ta.
Để thực hiện âm mưu đó, chúng dùng chiến lược tấn công trên tư tưởng
hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra những
khoảng chống để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên
và nhân dân làm chuyển hoá, xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trong thời gian tới, cuộc đấu tranh tư tưởng chắc chắn diễn ra
ngày càng quyết liệt. Để giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh này, cần phải
tiến hành hàng loạt các giải pháp trên mặt trận tư tưởng, lý luận; trên lĩnh vực
kinh tế - xã hội; trên mặt trận đối ngoại và an ninh. Tư tưởng nhằm tạo ra sức
đề kháng trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trước hàng loạt âm mưu

1





Tiểu luận góp phần làm rõ việc nhận thức những quan điểm của Đảng ta
trong việc tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân chống âm
mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch. Đồng thời, nâng cao tầm
hiểu biết, tính cảnh giác và trang bị cho bản thân những kiến thức cần thiết để
phục vụ cho quá trình học tập và công tác lâu dài.
7. Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung tiểu luận gồm 02 chương.

3


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ
ĐỊCH VÀ CĂN CỨ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ ĐỂ BÁC BỎ CÁC LUẬN
ĐIỂM LỢI DỤNG DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN NHẰM CHỐNG PHÁ
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1.1 . Một số khái niệm có liên quan
- Các thế lực thù địch
Tất cả những ai, cá nhân hay tổ chức, nhà nước hay tổ chức phi chính
phủ, hợp pháp hay bất hợp pháp, ở trong nước hay ở nước ngoài, người Việt
Nam hay người nước ngoài với mục đích chống phá Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, có hoạt động chống phá ta trên mọi lĩnh vực tư
tưởng, chính trị đều là thành phần của “các thế lực thù địch”. Các thế lực thù
địch trên thực tế là những phần tử hiếu chiến ở ơhương Tây, ngoài ra bao gồm
một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài như: Tổ chức Chính phủ
Việt Nam tự do; Tổ chức Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam;
Tổ chức Đảng nhân dân hành động; Tổ chức Liên minh Việt Nam tự do; Tổ

Một là, người đề xuất khái niệm dân chủ vô sản. Khái niệm này làm cơ
sở cho khái niệm quyền dân chủ. Dân chủ vô sản là dân chủ do số đông, cho
nhân dân lao động; là quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của nhân
dân. Đem quyền dân chủ cho nhân dân, theo người là mục tiêu trực tiếp, trước
mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hai là, Người khẳng định quyền dân tộc tự quyết, bao gồm quyền phân
lập và quyền lựa chọn chế độ xã hội của các dân tộc sống dưới ách áp bức của
chủ nghĩa đế quốc. Đây là tiền đề chính trị của khái niệm quyền dân tộc tự
quyết và quyền tập thể trong hệ thống khái niệm quyền con người hiện đại.
Ba là, Người đề xuất chính sách xã hội của Nhà nước công – nông
hướng vào đại đa số nhân dân lao động và những người thuộc nhóm xã hội có
nhiều khó khăn như người già, cô đơn, thất nghiệp.
Nhiều học giả nhân quyền phương Tây đã thừa nhận chính sách xã hội
của Nhà nước Xô Viết là một đóng quan trọng cho quan niệm về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá hiện đại.
5


1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
có những đóng góp lớn lao vào sự phát triển lý luận về quyền con người, nhất
là quyền của nhân dân sống ở các thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc và việc bảo
đảm những quyền đó trong xã hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trước hết, Người đánh giá khách quan giá trị nhân quyền do các cuộc
cách mạng dân chủ tư sản đem lại, đồng thời người cũng đã sớm chỉ ra rằng,
các nước đế quốc hứa sẽ trao lại độc lập, dân chủ, nhân quyền cho các dân tộc
thuộc địa chẳng qua chỉ là để lừa gạt nhân dân lao động ở “chính quốc” và để
ru ngủ các dân tộc bị áp bức. Các dân tộc bị áp bức muốn có dân chủ, nhân
quyền thật sự thì trước hết phải đấu tranh giành lại độc lập thống nhất đất
nước và đi theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin. Độc lập dân tộc gắn

gia, nhất là những quốc gia đã tham gia các công ước quốc tế về quyền con
người. Bởi vậy, mối nhà nước, trong khi đảm bảo quyền con người của nước
mình, đồng thời quốc gia đó còn phải chịu sự giám sát của các cơ quan nhân
quyền của Liên hợp quốc và sự nhìn nhận đánh giá của cộng đồng quốc tế.
Cơ sở pháp lý của chúng ta là hệ thống văn kiện quốc tế về quyền con
người, bao gồm: các văn kiện không có tính ràng buộc như: Hiến chương,
Tuyên ngôn, Tuyên bố… và các văn kiện có tính ràng buộc về mặt pháp lý
như: các Công ước, Nghị định thư… và pháp luật quốc gia bao gồm: Hiến
pháp, pháp luật và pháp lệnh. Các văn kiện có tính ràng buộc về mặt pháp lý
bao gồm nhiều Công ước quốc tế và Nghị định thư, trong đó có những công
ước cơ bản và quan quan trọng sau:
- Công ước quốc tế và các quyền nhân sự, chính trị (1966);
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội và văn hoá (1966);
- Công ước chống tra tấn và sử dụng các hình thức trừng phạt hay đối xử
tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (1984);
- Công ước quốc tế về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (1965);
- Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (1979);
- Công ước về quyền trẻ em (1989).
7


Nắm vững và triệt để khai thác những văn kiện trên để phục vụ cho cuộc
đấu tranh chính trị - tư tưởng và đấu tranh pháp lý là hết sức quan trọng, nhất
là trong giai đoạn hiện nay.
Khác với đấu tranh vũ trang – chống bạo loạn lật đổ, bảo vệ an ninh
quốc gia, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận và pháp lý là cuộc đấu tranh công
khai; là cuộc đấu tranh giành giật công lý, lẽ phải, đấu tranh giành giật dư
luận xã hội trong nước và quốc tế. Vũ khí của chúng ta trong cuộc đấu tranh
này quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng ta và luật pháp quốc tế về quyền con người, về độc lập dân tộc, chủ

còn căn dặn cán bộ: khẳng định “quyền” của nhân dân là chưa đủ, mà phải
làm sao giúp cho nhân dân “có năng lực làm chủ”, phải biết dùng quyền làm
chủ của mình để bảo vêh quyền lợi của mình và tham gia vào công việc quản
lý của Nàh nước. Điều 50 Hiến pháp năm 1992 ghi: “ở nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy
định trong Hiến pháp và Pháp luật”. Trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành “Quy chế dân chủ ở cơ sở”, mà nội dung chủ yếu là “Dân
biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” trong việc thực hiện các chủ trương,
chính sách lớn của Đảng và Nàh nước, cũng như các quyết định về kinh tế xã hội ở địa phương. Đây là một bước tiến mới về dân chủ ở nước ta.
Về mô hình nhà nước “quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự
phân công rành mạch và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Sự bài bác của các thế
lực thù địch là vô căn cứ. Các thế lực thù địch muốn lấy mô hình nhà nước
dân chủ tư sản ở phương Tây làm “khuôn vàng thước ngọc” cho các nước.
Thực tế cho thấy trên thế giới có nhiều mô hình nhà nước, đó là Nhà nước dân
chủ nhân dân, ở đó quyền lực thuộc về nhân dân mà Quốc hội là người đại
diện; Nhà nước quân chủ, ở đó nhà Vua là người đứng đầu nhà nước; Nhà
nước quân chủ Nghị viện, ở đó Vua là nguyên thủ quốc gia nhưng không nắm
thực quyền…

9


Việc lấy một mô hình nhà nước nào đó để phê phán nước khác là
không thể chấp nhận được. Thử hỏi nếu vì các tiêu chuẩn dân chủ, nhân
quyền thì tại sao người ta lại không lên án nhà nước theo chế độ quân chủ, nơi
đang tồn tại vương quyền? Thực chất của vấn đề là họ coi hệ thống chính trị
xã hội chủ nghĩa – hệ tư tưởng đối lập với chủ nghĩa tư bản là một nguy cơ to
lớn, đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, chứ sự thật không phải vì dân chủ

vào việc bảo đảm nhân quyền bằng những sáng tạo trong chính sách và pháp
luật phù hợp với điều kiện của mình.
Trong xã hội tư bản với nền kinh tế dựa trên sở hữu tư bản tư nhân, với
sự thống trị của giai cấp tư sản, quyền con người không khỏi không mang tính
hình thức và thường là sự che đậy hoặc giảm đi sự mâu thuẫn của xã hội.
Trong quan hệ quốc tế, Nhà nước tư bản chủ nghĩa chưa bao giờ chia sẻ thành
quả dân chủ, nhân quyền cho các nước thuộc địa. Trái lại họ dùng khía niệm
dân chủ nhân quyền như là một công cụ tư tưởng để áp đặt sự thống trị về tư
tưởng của họ đối với các thuộc địa. Bác bỏ luận điểm nhân quyền cao hơn chủ
quyền, trước hết cần phân tích mối quan hệ giữa quyền độc lập dân tộc, quyền
dân tộc tự quyết với cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người.
Tiếp nối và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về quyền dân tộc
tự quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập không chỉ nói đến
“quyền phân lập” với “mẫu quốc” mà nhấn mạnh đến quyền đấu tranh giành
độc lập dân tộc, đồng thời khẳng định rằng dân tộc Việt Nma có đủ điều kiện
và quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó. Điều đó có nghĩa là, Việt Nam không cần
đến cái gọi là “chế độ quản thác” của bất cứ ai, kể cả Liên hợp quốc.
Sau 15 năm tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, vào những năm 60 của
thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế mới thừa nhận quyền dân tộc tự quyết trong
Văn kiện, Tuyên ngôn về trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa…
Các quyền dân tộc cơ bản bao gồm: Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và
toàn vẹn lãnh thổ. Đó là những nguyên tắc cơ bản, bất di bất dịch trong quan
hệ quốc tế. Điều này có nghĩa là không có một cá nhân, tổ chức, quốc gia nào,
kể cả Liên hợp quốc có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc
gia. Theo đó, vấn đề đảm bảo quyền con người bao gồm việc ghi nhận trong
11


pháp luật cũng như trong tổ chức thực hiện. Ở mỗi quốc gia, trước hết và chủ
yếu thuộc thẩm quyền của mỗi nhà nước.

lựa chọn đúng đắn con đường phát triển của đất nước. Kế thừa những thành
quả đã đạt được, khắc phục sai lầm khuyết điểm, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng, giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội, tạo
thế đi lên vững chắc và bền vững. Chưa bao giờ Việt Nam lại có được vị thế
quốc tế về chính trị và kinh tế vững chắc và rộng rãi như hiện nay. Uy tín
quốc tế của Việt Nam trên lĩnh vực quyền con người cũng được cộng đồng
quốc tế thừa nhận. Đến nay, nước ta đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế
cơ bản về quyền con người. Việt Nam đã được bầu vào Ủy ban nhân quyền
của LHQ, nhiệm kỳ 2001-2003, và được bầu vào ủy ban phát triển xã hội
nhiệm kỳ 1998-2000. Trên lĩnh vực lập pháp, từ 1986 đến nay, đồng thời với
Hiến pháp 1992, Quốc hội đã thông qua trên 40 luật, trong đó có những bộ
luật lớn bảo đảm các quyền con người như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng
hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Doanh nghiệp, Luật Đất
đai, Luật Chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em... Có thể nói, pháp luật Việt Nam
về cơ bản đã tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người.
Trên lĩnh vực quyền chính trị, việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân,
do dân và vì dân và cải cách hành chính, cải cách tư pháp đang được đẩy
mạnh. Với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", người
13


dân bằng việc sử dụng các quyền dân chủ trực tiếp và dân chủ, đại diện đã
thực sự tham gia vào công việc quản lý nhà nước và xã hội. Có thể nói chưa
bao giờ hoạt động của Quốc hội lại thu hút được sự quan tâm của nhân dân
như hiện nay; cũng chưa bao giờ sinh hoạt của Quốc hội thể hiện rõ tính dân
chủ và cởi mở như bây giờ. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được bảo
đảm đầy đủ. Hiện nay, hơn 20 triệu tín đồ thuộc các tôn giáo được tự do thực
hiện các hoạt động tôn giáo. Quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số không
những được pháp luật bảo vệ mà còn được Nhà nước chăm sóc, giúp đỡ thông
qua các chương trình phát triển kinh tế-xã hội cho các vùng khó khăn, thông

nâng cao hơn bao giờ hết và đường lối chính trị, kinh tế, độc lập tự chủ vẫn
tiếp tục được đảm bảo và phát huy, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách
mạng Việt nam. Việt Nam đã trở thành những thành viên trong các tổ chức
quốc tế, cho đến nay đã có quan hệ ngoại giao với trên 170 quốc gia và vùng
lãnh thổ. Từ năm 1981 đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước
quốc tế cơ bản về quyền con người. Với những quan hệ quốc tế được mở rộng
về số lượng, đa dạng về nội dung, vị thế chính trị, uy tín quốc tế của Việt
Nam hiện nay được củng cố vững chắc hơn bất cớ giai đoạn nào trước đây.
Nói tóm lại, trong thời kỳ đổi mới, các quyền và tự do của con người
được phát huy đảm bảo vững chắc bởi các thể chế - Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân, vì dân; xãhội công dân và nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
- Thành tựu trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị
Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam đã đặt ở vị trí cao nhiệm vụ bảo
đảm quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2 tháng 9
năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: "Nước Việt Nam
có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.
Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Trên tinh thần đó, các quyền
con người đã được khẳng định rõ trong các bản Hiến pháp từ khi lập nước đến
nay. Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam 1946 mới chỉ gồm có 70
Điều, nhưng đã dành cho việc quy định các quyền nghĩa vụ cơ bản của công
15


dân đến 18 điều và được trình bày tập trung tại một chương: "Nghĩa vụ và
quyền lợi công dân" và đặt trang trọng ở vị trí ưu tiên, ngay tại Chương II
Hiến pháp 1959 là bước phát triển hơn nữa so với Hiến pháp 1946 với 21 điều
khoản quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân. Hiến pháp 1980 là Hiến
pháp của nước Việt Nam thống nhất, kế thừa và phát huy tinh thần của hai

nhiều năm. Tuy nhiên, Việt Namvẫn có tỷ lệ cao so với khu vực.
Đối với người nghèo, Nhà nước đã chi ngân sách giúp khám, chữa bệnh
với số tiền lên tới hàng nghìn tỷ đồng.
Trên lĩnh vực khoa học – y học, giới khoa học nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn như ghép gan, thụ tinh trong ống nghiệm và điều trị
thành công bệnh SART được cộng đồng đánh giá cao.
Tính đến năm 2000 xếp hạng HDI của Việt nam là 109/201 nước, trong
khi xếp hạng kinh tế của Việt nam là 112/201. Điều này nói lên rằng đường
lối, chính sách kinh tế - xã hội của Việt Nam hướng vào con người đã đạt
được hiệu quả rõ nét đây là một ưu việt của nước ta. Có thể nói, chưa bao giờ
người dân Việt Nam lại được hưởng các quyền con người cao như giai đoạn
này. Sở dĩ có được những thành tựu đó là vì:
Một là, đường lối, chính sách, pháp luật của nước ta nhất quán hướng
vào mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và hạnh phúc của con người.
Hai là, Đảng ta đã phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, nắm vững bản
chất chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đổi mới tư duy về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với ba thể chế xã hội. Nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa được hình thành tạo ra các điều kiện cơ bản, bảo đảm cho các
quyền tự do của người dân một cách vững chắc.
Ba là, những thành tựu trên lĩnh vực quyền con người của nhân dân ta
còn dựa trên quan điểm vừa hợp tác vừa đấu tranh, hoà nhập chứ không hoà
tan; Việt Nam là bạn với tất cả các quốc gia trong cộng đồng quốc tế, tôn
trọng các điều ước quốc tế mà Việt nam đã tham gia…
2.2. Giải pháp đấu tranh trên lĩnh vực nhạy cảm, dân chủ, nhân
quyền
2.2.1. Về đối nội

18




sơ hở của các tổ chức này, để từ đó có biện pháp đấu tranh thường xuyên, hạn
chế sự hỗ trợ của các chính quyền các nước sở tại đối với hoạt động chống
đối của các tổ chức này, hạn chế những hoạt động thù địch chống Việt Nam
chúng ta.

20


KẾT LUẬN
Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng vấn
đề dân chủ, nhân quyền để đẩy nhanh quá trình "diễn biến hòa bình", vấn đề
dân chủ, nhân quyền mà ngày đêm chúng lợi dụng chống Việt Nam lại không
dừng lại ở mức độ vu cáo mà còn tiềm ẩn nguy cơ tạo thành nguyên cớ để can
thiệp sâu hơn nữa, phức tạp hơn nữa, tinh vi hơn nữa. Sự bịa đặt, vu cáo dân
chủ, nhân quyền từ phía các thế lực thù địch vừa qua đã gây ra những khó
khăn, phức tạp không nhỏ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của
toàn Đảng, toàn dân ta. Đây là vấn đề hết sức khó khăn, nhạy cảm đòi hỏi
chúng ta cần nâng cao hơn nữa tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động nắm
bắt và phát hiện những biến thái mới trong thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân chủ,
nhân quyền để chống phá Nhà nước ta, không ngừng học tập, nghiên cứu
nâng cao trình độ, kịp thời có những biện pháp đồng bộ, hữu hiệu làm thất bại
âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần xứng đáng vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

21


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status