Tác động của tỷ giá nhân dân tệ và đô la mỹ đến các yếu tố kinh tế vĩ mô việt nam - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN
VÀ ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ VÀ ĐÔ LA MỸ
ĐẾN CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM


TP.HCM, ngày 10 tháng 05 năm 2016BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN
VÀ ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
(Research Proposal)
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 62.34.02.01
Đề tài:

TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ VÀ ĐÔ LA MỸ
ĐẾN CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM

NCS: Lê Thị Thúy Hằng

Tp. HCM, ngày …… tháng …… năm 20…
Người hướng dẫn khoa học



MỤC LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BIR

Bid Interest Rate - Lãi suất ngân hàng thương mại huy động

CNY

Nhân dân tệ

CPI

Consumer Price Index - Chỉ số giá cả tiêu dùng

EUR

Euro

ERPT

Exchange Rate Pass Through - Truyền dẫn của tỷ giá


Đô la Mỹ

VND

Việt nam Đồng


1. GIỚI THIỆU
1.1. Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết
Mặc dù, các chỉ số của Việt Nam năm 2015 như lạm phát chưa tới 1%, thấp hơn
nhiều so với mục tiêu 5%; Tốc độ GDP tăng 6,68% so với năm trước, cao hơn mục tiêu
6,2%; Dự trữ ngoại hối ở mức cao đạt 38 tỷ USD (Tổng cục thống kê) đã hỗ trợ Ngân
hàng nhà nước Việt Nam đảm bảo cam kết của Ngân hàng nhà nước không điều chỉnh tỷ
giá USD/VND quá 2% trong năm 2015. Tuy nhiên, cú sốc phá giá 4,6% CNY so với
USD của Trung Quốc bắt đầu từ 11/8/2015 đã buộc Việt Nam phải điều chỉnh tỷ giá
thêm 1% vào ngày 19/8/2015, sau khi đã nới tỷ giá 2 lần mỗi lần 1% vào ngày 7/1/2015
và 7/5/2015 và điều chỉnh biên độ tỷ giá lên +-2% vào ngày 12/8/2015 và lên +-3% vào
ngày 19/8/2015, đồng nghĩa với biến động tỷ giá USD/VND được nới rộng tổng cộng
+5% trong năm 2015. Như vậy, theo đuổi cơ chế tỷ giá theo hướng cứng kém linh hoạt
trong suốt một thời gian khá dài, Việt Nam đã đối mặt với áp lực điều chỉnh tỷ giá lớn bất
thường khi xuất hiện các cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba (đồng tiền khác USD, có liên
quan đến hoạt động thương mại nhiều với quốc gia). Kết quả là chính những lần điều
chỉnh lớn bất thường như vậy sẽ làm gia tăng rủi ro tỷ giá và vấn đề đặt ra là các cú sốc
tỷ giá của USD/CNY có tác động đến các yếu tố kinh tố vĩ mô của Việt Nam như chỉ số
GDP và chỉ số CPI hay không.
Về mặt lý thuyết, mức độ linh hoạt của cơ chế tỷ giá phụ thuộc mức độ đa dạng
hóa hoạt động thương mại, nếu mức độ đa dạng hóa thương mại của một quốc gia thấp,
thì cơ chế tỷ giá của quốc gia đó sẽ kém linh hoạt. Mức độ kém linh hoạt của cơ chế tỷ
giá của Việt Nam một phần chính là do việc đa dạng hóa hoạt động thương mại còn thấp.
Tập trung quá lớn tỷ trọng thương mại vào một số nước và việc sử dụng nhiều đồng tiền

Quốc thực hiện tự do hóa hoàn toàn các giao dịch trên cán cân vốn thì biến động trong tỷ
giá USD/CNY sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các quốc gia theo nhiều hướng
khác nhau, những nước có giao dịch thương mại trực tiếp với Trung quốc hay cạnh tranh
với Trung Quốc trong các thị trưởng thứ ba thì tác động này lại càng lớn. Với việc VND
được neo khá chặt vào USD, nếu CNY lên giá so với USD thì tương quan giá trị giữa

Trang 8


CNY và VND cũng sẽ thay đổi. Trên thực tế, cán cân thương mại giữa hai nước trong đó
Việt Nam đang nhập siêu lớn từ Trung Quốc, khi CNY lên giá thì khối tài sản của Trung
Quốc sẽ lớn lên tương ứng và việc đầu tư ra nước ngoài sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn.
Như vậy, xuất phát từ nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tế đã cho thấy tác
động của biến động tỷ giá USD/CNY đến nền kinh tế thế giới sẽ vô cùng to lớn. Với
những nền kinh tế láng giềng của Trung Quốc và có thực lực yếu hơn như Việt Nam thì
sự cảnh báo này càng tăng gấp bội. Nghiên cứu này nhằm làm rõ một số vấn đề về lý
luận, thực nghiệm tác động của tỷ giá USD/CNY đến các yếu tố kinh tế vĩ mô của Việt
Nam, thông qua việc xem xét tác động lên các yếu tố sản lượng và giá cả. Vấn đề đặt ra
đối với Việt Nam là phải lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá nào là thích hợp trong quá
trình hội nhập kinh tế vì sự lựa chọn sai lầm rất có thể dẫn đến sự bất ổn tiền tệ, bất ổn
kinh tế vĩ mô. Vậy cơ chế điều hành tỷ giá nào phù hợp với tình hình kinh tế và mức độ
phát triển thị trường tài chính hiện nay của Việt Nam ? Kết quả nghiên cứu tác động của
tỷ giá USD/CNY đến các yếu tố kinh tế Việt Nam sẽ cung cấp một số câu trả lời cho vấn
đề này. Đồng thời việc xem xét mối tương quan qua lại giữa các biến trong nước và ngoài
nước khi tiến hành ước lượng, kiểm định mô hình cũng sẽ góp phần gợi ý cho việc lựa
chọn chính sách điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp với nền kinh tế Việt nam. Đó là lý do
tác giả lựa chọn tỷ giá USD/CNY cho đề tài nghiên cứu “Tác động của tỷ giá Nhân dân
tệ và Đô la Mỹ đến các yếu tố kinh tế vĩ mô Việt Nam”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả tập trung làm rõ tác động của tỷ giá


Trang 10


1.5. Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Dựa trên những nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả tiếp cận được thì
hướng nghiên cứu tác động của tỷ giá USD/CNY đối với kinh tế vĩ mô Việt Nam là thực
sự cần thiết nhưng lại chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu và tổng thể.
(1) Các nghiên cứu chủ yếu phân tích theo hướng mối quan hệ riêng lẻ giữa các
yếu tố như tỷ giá và lãi suất, tỷ giá và sản lượng hoặc tỷ giá và lạm phát…Với nghiên cứu
của mình, tác giả sẽ mở rộng phân tích McKinnon-Schnabl ở hai khía cạnh. Đầu tiên,
ngoài việc đánh giá những tác động của USD/CNY đến biến động về chỉ số GDP thực tế
của Việt Nam, tác giả cũng tìm hiểu những tác động tỷ giá hối đoái USD/CNY đến chỉ số
CPI, ngoài ra phân tích thêm tác dộng trên hai biến tiền tệ là cung tiền M2, lãi suất. Tác
giả tin rằng nhìn vào những ảnh hưởng của tỷ giá USD/CNY vào các biến mức giá hàng
hóa và thị trường tiền tệ cung cấp một bức tranh toàn diện hơn về vấn đề này. Và thứ hai,
tác giả viết lại các phân tích trong một khung cảnh động khi mà dòng vốn được tự hóa
mạnh mẽ, tỷ giá hối đoái của các quốc gia có nhiều biến động, và nền kinh tế của các
nước có nhiều thăng trầm trong thời gian gần đây.
(2) Các đề tài nghiên cứu hiện nay chủ yếu đề cập chính sách điều hành tỷ giá của
Việt Nam và Trung Quốc riêng lẻ. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả rất khó tiếp cận
các đề tài về sự phù hợp của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định neo chủ yếu vào USD hiện
có của Việt Nam. với trọng tâm đặc biệt xem xét về mối liên hệ giữa những biến động tỷ
giá đồng tiền thứ ba với tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam. Thông qua đánh giá thực
trạng, nghiên cứu các mô hình trên thế giới tác giả đã tiến hành nghiên cứu và vận dụng
lý thuyết mô hình Mundell-Fleming kết hợp với sử dụng mô hình tự hồi quy chuỗi thời
gian thực nghiệm tại Việt Nam để xem xét biến động của tỷ giá USD/CNY tác động đến
các yếu tố kinh tế vĩ mô như thế nào.
(3) Kết quả nghiên cứu này góp phần xem xét lại cơ chế điều hành neo nội tệ vào
USD hiện nay của Việt Nam. Đề tài mở ra một hướng nghiên cứu mới về cơ chế điều

2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều nghiên cứu về vấn đề tỷ giá hối đoái và chính
sách điều hành tỷ giá. Với đề tài đã lựa chọn cũng như để đạt được mục tiêu của đề tài,
tác giả đã tìm hiểu các nhóm nghiên cứu liên quan như sau
2.1. Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa cơ chế tỷ giá và kết quả kinh tế vĩ mô
Sự lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái được chú ý lớn hơn trong tài chính quốc tế sau
sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood trong đầu những năm 1970 (Kato và Uctum,
2007). Hơn nữa, cơ chế tỷ giá hối đoái được phân loại theo các quy tắc tiếp theo liên
quan đến mức độ can thiệp thị trường ngoại hối của các cơ quan tiền tệ (Frenkel và
Rapetti, 2012). Xét theo truyền thống chế độ tỷ giá chia thành hai loại cơ chế tỷ giá cố
định và thả nổi, cơ chế tỷ giá cố định thường được định nghĩa là sự cam kết của cơ quan
tiền tệ can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì một tỷ lệ cố định nào đó cho đồng
tiền quốc gia so với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ. Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi
thường được định nghĩa là sự cam kết của cơ quan tiền tệ để quyết tâm tỷ giá hối đoái
được thiết lập bởi các lực lượng thị trường thông qua cung và cầu của thị trường. Hơn
nữa, giữa các cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi và cố định, có tồn tại hệ thống thay thế để duy
trì sự linh hoạt nhất định. Chúng được biết đến như là trung gian hoặc chế độ mềm.
Chúng bao gồm neo theo giỏ nhiều ngoại tệ, neo có điều chỉnh, và cơ chế tỷ giá hỗn hợp,
nghiên cứu chi tiết về các cơ chế trung gian được cung cấp trong Frankel (2003),
Reinhart và Rogoff (2004), và MacDonald (2007).
Các chế độ tỷ giá hối đoái hiện nay mà một quốc gia quản lý tiền tệ của nó đối với
các đồng tiền khác đã được lập luận đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình
nhiều kết quả kinh tế vĩ mô trong vài thập kỷ qua. Trong hầu hết trường hợp, giá cả ổn
định đã đạt được thông qua các cơ chế sử dụng NER như một mỏ neo. Một kết quả
không mong muốn của cơ chế này là sự định giá quá cao của RER, dẫn đến những cú sốc
từ bên ngoài. Bài học quan trọng từ những kinh nghiệm này là để đối phó với biến động
của vốn và để tránh các cuộc khủng hoảng bên ngoài, chính sách kinh tế vĩ mô không chỉ
Trang 13




hàng trung ương chống lạm phát có thể cung cấp cam kết của nó bằng cách có ý định sửa
chữa các tỷ lệ trao đổi tiền tệ. Do đó, độ tin cậy của các chế độ cố định được cũng cố, chế
độ cố định gắn liền với các nhà hoạch định chính sách cụ thể (Carmignani et al., 2008).
Sự lựa chọn của USD như một loại tiền tệ neo đã được dựa chủ yếu vào sự thống trị các
tài khoản của đồng tiền này trong thương mại quốc tế. Tiếp tục với USD đã được lựa
chọn do một số lý do, trong đó có phần lớn là sự ổn định xuất khẩu và doanh thu tài chính
(khi doanh thu là thành phần chủ yếu của ngân sách nhà nước), độ tin cậy của chính sách
tiền tệ khi tỷ giá neo vào USD sẽ tăng, và để bảo vệ các giá trị của các tài sản tài chính
chủ yếu là USD chiếm ưu thế từ biến động tỷ giá hối đoái. Neo giá USD đã đáp ứng được
kỳ vọng của các nền kinh tế trong một thời gian đáng kể. Neo giá vào USD đã giúp trong
việc loại bỏ hoặc ít nhất giảm thiểu rủi ro tỷ giá và để ổn định sự biến động tài sản tài
chính chủ yếu là USD của các nước. Nó cũng làm giảm chi phí giao dịch thương mại, tài
chính và các hoạt động khuyến khích đầu tư. Hơn nữa, về mặt nội bộ ổn định tỷ giá đã
giúp các nước tránh những cú sốc danh nghĩa và giúp duy trì khả năng cạnh tranh quốc
tế của các nền kinh tế (Kumah, 2009; Khan, 2009).
Ngược lại, các nghiên cứu khác đã cho thấy tính khả thi của chế độ tỷ giá hối đoái
linh hoạt. (Poirson 2002; và Carmignani et al., 2008; Velasco, 2001). Theo quan điểm
này, những hạn chế của chính phủ cần phải được thông qua thành lập một tập hợp của
các tổ chức trong nước để đảm bảo sự thận trọng đó là không lạm dụng chính sách, phát
triển kinh tế phù hợp và bền vững để duy trì lạm phát thấp. Sự độc lập của ngân hàng
trung ương đã được đề xuất như một phương pháp để giải quyết các vấn đề mâu thuẫn
liên quan đối với chính sách tiền tệ. Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một chế độ tỷ
giá hối đoái linh hoạt có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn vì nó cho phép
nền kinh tế có một chính sách tiền tệ độc lập, cung cấp sự linh hoạt để thích nghi với
những xáo trộn trong và ngoài nước. Dưới chế độ hối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái có thể
điều chỉnh một cách nhanh chóng và giúp đỡ để khôi phục lại sự cân bằng trong nền kinh
tế, mà không cần phải thay đổi trong mức giá (MacDonald, 2007)

Trang 15



việc sử dụng của một đồng tiền quốc tế. McCauley (2010) thừa nhận rằng, CNY ảnh
hưởng ngày càng tăng ở châu Á-Thái Bình Dương, tuy nhiên sẽ không dễ dàng đạt được
vị trí như USD với vai trò chủ đạo của nó như một loại tiền tệ quốc tế. Nghiên cứu này
cung cấp bằng chứng đầu tiên về cách các thị trường nước ngoài đánh giá vị thế của tiền
tệ khi đo ảnh hưởng khu vực của tiền tệ, cho thấy có thể có sự khác nhau về vị thế giữa
các đồng tiền trong và ngoài nước.
Một số nghiên cứu khác đã tập trung vào thị trường ngoại hối trong và ngoài nước
của Trung Quốc, chủ yếu nghiên cứu quan hệ nhân quả và độ lệch giữa hai thị trường
như. Cheung và Rime (2013), Wu và Fei (2012). Các nghiên cứu này cho biết thêm một
chiều hướng khác bằng cách nhìn vào vai trò của thị trường nước ngoài trong các tác
động của CNY vào đồng tiền châu Á. Thị trường ra nước ngoài là ít bị ràng buộc bởi quy
định, luật định hơn so với thị trường nội địa, và do đó có thể gia tăng phạm vi hoạt động
và hữu ích cho cả hai trung tâm ngân hàng và các nhà quản lý quỹ. Sự chênh lệch trong
các thị trường trong và ngoài nước được thể hiện trong trường hợp của CNY. Thị trường
nội địa, gọi là thị trường CNY, dù mức độ linh hoạt ngày càng tăng, vẫn còn bị hạn chế
bởi các ngân hàng trung ương can thiệp và các quy định liên quan đến hoạt động thương
mại hàng ngày. Ngược lại, không có sự hiện diện của một ngân hàng trung ương trong
quá trình hình thành giá hoặc trong việc thiết lập phạm vi giao dịch bị giới hạn trong thị
trường ngoại hối CNY ra nước ngoài. Trong khi các tài sản tài chính trong và ngoài nước
được thể hiện dưới dạng các loại tiền tệ là chủ yếu, các phân đoạn của hai thị trường có
thể có sự khác biệt về giá cả có thể phát sinh từ điều kiện thị trường khác nhau hoặc các
phản ứng của các nhà dầu tư khác nhau trong hai thị trường.
Miriam Campanella (2014) đề cập đến quá trình quốc tế hóa của CNY. Mặc dù,
USD vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tiền tệ quốc tế, nhưng chế độ tiền tệ của thế
giới đang có nhiều thay đổi. Trung Quốc chủ động thực hiện nhiều biện pháp nhằm thúc
đẩy tiến trình quốc tế hóa CNY. Sự hình thành liên kết tiền tệ gia tăng vị trí của CNY ở
Châu Á đã làm suy yếu sự thống lĩnh, xóa bỏ vị trí gần như độc tôn của USD trước đây.
Tác giả đã kết luận sự phát triển, cũng như quá trình quốc tế hóa của CNY đang diễn ra


Trang 18


đồng tiền châu Á. Sự đánh giá lại CNY là chìa khóa để hoàn thành việc điều chỉnh USD
đối với một số nước châu Á khác bởi vì cho phép đồng tiền của họ sẽ tăng giá so với
USD. Mặt khác, việc định giá lại CNY sẽ là tốt cho cả Trung Quốc bởi vì nó sẽ chuyển
hướng một số đồng tiền tiết kiệm hiện đang lãng phí đầu tư vào trái phiếu kho bạc Mỹ có
lợi suất thấp vào tăng đầu tư hay tiêu dùng ở Trung Quốc, trong khi giảm bớt các áp lực
lạm phát cho nền kinh tế, đặc biệt là áp lực tạo ra bong bóng trong thị trường tài chính.
Các nghiên cứu về tầm quan trọng ngày càng tăng của CNY vào đồng tiền khác đã
phát triển đặc biệt là sau cải cách tỷ giá trong tháng 7 năm 2005 khi Trung Quốc từ bỏ tỷ
giá hối đoái cố định và di chuyển đến một chế độ thả nổi có quản lý như Shu, Chow và
Chan (2007) lưu ý ảnh hưởng của CNY ở châu Á ngày càng trở nên rõ nét. Một số các
nghiên cứu về vai trò của CNY đã phát triển mạnh mẽ hơn như Fratzscher và Mehl
(2011), Henning (2012) và Subramanian và Kessler (2012). Fratzscher và Mehl (2011)
mô tả sự hiện diện đáng kể của CNY trong Châu Á là "giả thuyết thống trị của Trung
Quốc", một giả thuyết dựa trên giả thuyết "vai trò chi phối các nhãn hiệu của Deutsche ở
châu Âu trong năm 1980 và 1990”. CNY được tìm thấy có tác động tương đối đến các
đồng tiền châu Á mới nổi, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm
2008-2009. Sự gia tăng của CNY có thể dẫn đến sự thay đổi trong ảnh hưởng lớn trong
khu vực. Trước năm 2005, các ngân hàng trung ương châu Á coi trọng rất cao các biến
động USD, được mô tả bởi McKinnon và Schnabl (2003) và McKinnon (2005) như là
một chế độ "neo giá mềm với đô la". Những năm vừa qua đã có một sự giảm sút trong
ảnh hưởng của USD và sự tăng lên của CNY. Nghiên cứu của Henning (2012) xác định
một xu hướng giảm đối với khối lượng USD và có xu hướng tăng đối với khối lượng
CNY trong cơ chế tỷ giá hối đoái trong tám đồng tiền Đông Á. Subramanian và Kessler
(2012) tin rằng CNY đã trở thành đồng tiền tham khảo chi phối ở 7 trong số 10 tiền tệ
Đông Á cho giai đoạn 2010-2012, bên cạnh tầm quan trọng của USD và EUR trong khu
vực. Các đồng tiền châu Á cũng tác động đến CNY một số mức độ nhất định trong

cho mô hình rổ tiền tệ của Frankel và Wei (2007) để kiểm định cơ chế neo tỷ giá theo rổ
tiền tệ của Trung Quốc và các nước Đông Á. Kết quả cho thấy tỷ trọng Đôla Mỹ đã giảm,
tỷ trọng một số đồng tiền Châu Á tăng lên trong dự trữ ngoại hối của Trung Quốc. Mặt
khác, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có sự chuyển dịch tăng tỷ trọng CNY so với các loại

Trang 20


tiền tệ quốc tế khác, hay nói một cách khác CNY đang ngày có vai trò lớn trong cơ chế
điều hành tỷ giá của các nước Đông Á như: Malaysia, Singapore, Thái Lan. Kết quả này
phản ánh có sự thay đổi lớn về vị trí của Nhân dân tệ trong chính sách điều hành của các
quốc gia. Quá trình chuyển dịch từ cơ chế tỷ giá neo theo Đôla Mỹ sang cơ chế tỷ giá neo
theo rổ tiền tệ. Một nghiên cứu khác của Arvind Subramanian and Martin Kessler
(2013) phân tích tỷ trọng của Nhân dân tệ đang tăng lên, lớn hơn khoàng 60% so với
Đôla Mỹ trong khu vực Đông Á. trong 3 năm gẩn đây, Đông Á hình thành nên khối Nhân
dân tệ. 7 trong số 10 đồng tiền thuộc Đông Á bao gồm: Won Hàn Quốc (KRW), Ringgit
Malaysia (MYR), Đôla Singapore (SGD), Bath Thái (THB), Tân Đài tệ (TWD), Rupiah
Indonesia (IDR), Peso Philippine (PHP) đã liên kết Nhân dân tệ chặt chẽ hơn so với Đôla
Mỹ và hình thành khối Nhân dân tệ. Khối Nhân dân tệ là đồng tiền đề cho quá trình quốc
tế hóa Nhân dân tệ ra phạm vi toàn cầu. Tầm ảnh hưởng của Nhân dân tệ sẽ ngày càng
vượt qua Đôla Mỹ. Nghiên cứu còn phân tích và so sánh tương quan giá trị thương mại
và mức độ sử dụng, tầm ảnh hưởng của đồng tiền 2 nước Nhật Bản và Trung Quốc đối
với các nước Đông Á. Nhật Bản chiếm 22,5% tổng số thương mại của các nước Đông Á
vào năm 1991, hiện nay Trung Quốc chiếm 24,4% tổng số thương mại của các nước
Đông Á. Tuy nhiên, Yên Nhật chưa bao giờ là đồng tiền quốc tế, trong khi Nhân dân tệ
lại có triển vọng sẽ tiến hành quốc tế hóa.
Ờ Việt Nam, Nghiên cứu của Lê Xuân Sang (2013), tác giả đánh giá quá trình
quốc tế hóa toàn cầu CNY của Trung Quốc có những đặc trưng: Nhà nước chủ động có
những biện pháp thúc đẩy và đưa ra lộ trình cụ thể cho quá trình quốc tế hóa CNY; dùng
Hồng Kông làm thí điểm, bàn đạp để thực hiện quốc tế hóa CNY và tự do tài chính ra

như Trung Quốc; Hoặc xuất khẩu độc lập cùng với Trung Quốc. Một nền kinh tế châu Á
thường có tất cả ba loại mối quan hệ này với Trung Quốc. Điều này dẫn đến một số kênh
lan toả tiềm năng cho tỷ giá có liên quan CNY. Các quốc gia có cơ chế tỷ giá neo vào rổ
tiền tệ bao gồm CNY trong rổ tiền tệ với mục đích duy trì khả năng cạnh tranh của họ với
Trung Quốc trong thương mại toàn cầu. Chính sách neo vào rổ tiền tệ có CNY cũng có
thể để giúp cho nền kinh tế của quốc gia tránh những cú sốc từ đồng tiền này đó chính là
lý do tại sao tác giả lại lựa chọn CNY làm đồng tiền trong tỷ giá hối đoái tác động đến
kinh tế Việt Nam trong đối tượng nghiên cứu của mình. Và để đạt được mục tiêu nghiên

Trang 22


cứu chung của luận án, tác giả sẽ ước lượng tác động của tỷ giá USD/CNY đến tỷ giá
USD/VND để xem xét cú sốc tỷ giá USD/CNY sẽ góp phần như thế nào đối với sự biến
đổi của tỷ giá USD/VND.
2.3. Nghiên cứu cú sốc của tỷ giá đồng tiền thứ ba tác động đến các yếu tố kinh tế vĩ
mô của một quốc gia
Nghiên cứu về tác động tỷ giá đồng tiền thứ ba đến nền kinh tế các nước thường
cho ra kết quả theo hai xu hướng. Xu hướng thứ nhất xem xét cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ
ba có tác động tương đối lớn đến các yếu tố kinh tế vĩ mô các nước, mà các nước này đã
áp dụng một chế độ tiền tệ quy đổi theo giá USD có thể sẽ dễ bị các biến thể trong các
đồng tiền thứ ba. Và xu hướng thứ hai chính là xem xét cú sốc của tỷ giá đồng tiền thứ ba
tác động không đáng kể đến tình hình kinh tế vĩ mô các nước có chế độ tỷ giá neo chủ
yếu vào USD.
2.3.1. Nghiên cứu của Ronald McKinnon và Gunther Schnabl (2003)
McKinnon và Schnabl (2003) đánh giá những tác động của biến động về tỷ giá
USD/JPY trên sự tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế các nước Đông Á. Áp dụng
OLS hồi quy, nghiên cứu ước lượng các tác động của biến động USD/JPY vào tốc độ
tăng trưởng kinh tế trong khu vực Đông Á ngoài trừ Nhật Bản thông qua sử dụng mô
hình kinh tế của Kwan (2001). Trong giai đoạn 1982-1997, Kwan hồi quy tốc độ tăng

thay đổi sản lượng của Nhật Bản có một tác động đáng kể trong tám nước Hồng Kông,
Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan. Malaysia, ngoài trừ Philippines và
Singapore dường như không được liên kết với Nhật Bản. Thứ tư, ước tính cho thấy rằng
không phải Mỹ, cũng không phải Nhật Bản, cũng không phải là các nước EA1 chung
ảnh hưởng đáng kể đến biến động sản lượng ở Trung Quốc.

Trang 24


Như vậy, nghiên cứu đã cho thấy cú sốc tỷ giá USD/JPY gây kìm hãm tăng
trưởng sản lượng của một nhóm các nước Đông Á (bao gồm cả Trung Quốc). Tác động
tiêu cực của cú sốc tỷ giá đồng tiền thứ ba cũng đúng cho từng nền kinh tế, cụ thể là,
Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, và Thái Lan. Một quốc gia đã ưu tiên đến USD như
là một cơ chế neo tiền tệ dễ bị những cú sốc trong một đồng tiền thứ ba trong đó, trường
hợp Đông Á là JPY.
2.3.2. Nghiên cứu của Qais Issa Al Yahyaei (2011)
Từ đầu thập kỷ này, và sau sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hỗ trợ bởi nguồn
thu từ dầu cao hơn, một số áp lực lạm phát đã xuất hiện ở tất cả các nước GCC, với mức
lạm phát đo bằng chỉ số giá tiêu dùng trung bình tăng từ khoảng 0,2% giữa năm 1998 và
2002 lên khoảng 10% trong năm 2008, và với một số quốc gia mức cao hơn. Mặc dù có
sự hiện diện của một số cuộc tranh luận về những nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát tại
các nền kinh tế các nước GCC như chi phí đẩy phát sinh từ tăng giá hàng hoá khác nhau
như thực phẩm và nguyên vật liệu trong lĩnh vực nhà ở so với nhu cầu, chi phí đẩy do chi
tiêu khu vực công và khu vực tư nhân tăng nhanh. Tuy nhiên nghiên cứu đã tìm hiểu có
hay không nguyên nhân chính là do chế độ tỷ giá neo cố định vào USD được thông qua
bởi các nước GCC đã đóng vai trò cơ bản. Nghiên cứu đã trình bày kết quả có một số
hiệu ứng lạm phát từ sự mất giá gần đây của đồng tiền các nước GCC bằng phương pháp
định lượng từ những biến động tỷ giá tác động vào lạm phát, giá tiêu dùng trong nước
của các nền kinh tế GCC. Để đo mức độ của tác động của tỷ giá, nghiên cứu dựa trên hai
phương pháp khác nhau và thường được sử dụng trong đo lường kinh tế, cụ thể là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status