Tài liệu Tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu doc - Pdf 10

Tác động của tỷ giá đến xuất nhập khẩu
Từ năm 2002 đến nay, thâm hụt thương mại của Việt nam gia tăng mang tính chất
hệ thống. Thâm hụt thương mại gia tăng là gánh nặng đối với cán cân thanh toán
quốc tế và làm cho tài khoản vãng lai rơi vào tình trạng thâm hụt.
Năm 2007 thâm hụt tài khoản vãng lai lên tới 6,9 tỷ USD, năm 2008 là 9 tỷ USD,
năm 2009 là 7,3 tỷ USD (nguồn: thống kê tài chính quốc tế của IMF). Thâm hụt
tài khoản vãng lai lớn trong khi cán cân vốn không đủ bù đắp đã ảnh hưởng xấu
đến dự trữ ngoại hối và đặc biệt làm cho tỷ giá thiếu cơ sở để ổn định. Hiện tại cán
cân vãng lai của Việt nam chủ yếu bao gồm cán cân thương mại, cán cân chuyển
khoản và dịch vụ, riêng dịch vụ có mức thu nhập nhỏ, chuyển khoản giảm mạnh
trong những năm gần đây, do đó thâm hụt tài khoản vãng lai trong những năm qua
gia tăng chủ yếu do thâm hụt thương mại lớn. Có ý kiến cho rằng, để khắc phục
tình trạng thâm hụt thương mại cao,Việt nam cần học tập kinh nghiệm thành công
của Trung quốc về phá giá tiền tệ. Vậy thực chất vấn đề này ra sao.
I/ Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung quốc:
Từ năm 1949 đến nay, Trung quốc đã có những thay đổi lớn về chính sách tỷ giá.
Có thể chia thành 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1949 đến năm 1979. Trong giai đoạn này Trung quốc
thực hiện quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chính phủ thống nhất
và tập trung quản lý các hoạt động ngoại hối. Trung quốc thực hiện chế độ tỷ giá
cố định, ngân hàng nhân dân Trung quốc là cơ quan duy nhất công bố tỷ giá mua
bán ngoại tệ của cả nền kinh tế. Giai đoạn này nền kinh tế Trung quốc gặp nhiều
khó khăn nếu như không muốn nói là trì trệ.
Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1979 đến năm 1993. Năm 1979, Trung quốc tiến hành
cải cách kinh tế. Nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành nhằm khuyến khích
các thành phần kinh tế phát triển, Trung quốc chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng,
các ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
đặc biệt là Hoa kiều đầu tư vào trong nước để xuất khẩu thu ngoại tệ. Chính phủ
Trung quốc bảo lãnh việc cân đối ngoại tệ cho các dự án xuất khẩu thu ngoại tệ.
Để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế, chế độ tỷ giá cũng có thay đổi, bên
cạnh tỷ giá chính thức do ngân hàng nhân dân Trung quốc công bố, sử dụng để

thành nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu thế giới sau Mỹ. Trung quốc vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng GDP cao trong nhiều năm liên tục, tính đến cuối năm
2008 đã vươn lên vị trí thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật, năm 2009 vẫn đạt tỷ lệ
tăng trưởng GDP trên 8%. Dự trữ ngoại hối của Trung quốc đứng đầu thế giới…
Các nước châu Âu, Mỹ và Nhật bản cho rằng Trung quốc đang sử dụng chính sách
tỷ giá thấp nhân tạo để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm với giá rẻ hơn sang các
nước, làm mất cân đối nghiêm trọng thị trường vốn, tài chính quốc tế, đây là
nguyên nhân chính gây nên khủng hoảng. Ngày càng nhiều nước phản đối chính
sách tỷ giá của Trung quốc.
II/ Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt nam:
Tỷ giá là đề tài được nhiều người quan tâm, tỷ giá là bài toán khó đối với bất kỳ
quốc gia nào. Về lý thuyết muốn duy trì tỷ giá ổn định phải cân đối được cung cầu
ngoại tệ. Nói cách khác điều hành tỷ giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cán cân
thương mại, cán cân vốn, cán cân vãng lai. Muốn điều hành tốt tỷ giá phải cân đối
được nguồn vốn vào, nguồn vốn ra.
Ngày 24/2/1999, Thống đốc ngân hàng nhà nước đã có quyết định số
64/1999/QĐ/NHNN và quyết định số 65/1999/QQĐ/NHNN ban hành cơ chế điều
hành tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, với nguyên tắc cơ
bản là tỷ giá được xác định theo cung cầu thị trường, có sự điều tiết của nhà nước.
Trong đó TGBQLNH của ngày hôm trước được áp dụng để các ngân hàng thương
mại làm cơ sở xác định tỷ giá giao dịch trong ngày hôm sau. Ngân hàng nhà nước
quy định biên độ giao dịch cho phép trong từng thời kỳ. Ngân hàng nhà nước trực
tiếp can thiệp lên TTNTLNH để tác động lên TGBQLNH hàng ngày.
Từ năm 2008, trước tình hình suy thoái kinh tế quốc tế ảnh hưởng mạnh đến Việt
nam, các dòng vốn vào Việt nam bị hạn chế, ngân hàng nhà nước đã chủ động
điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng để tăng tính thanh khoản trên thị trường ngoại tệ,
Tính đến 26/12/2008, ngân hàng nhà nước đã điều chỉnh biên độ tỷ giá từ 2% lên
5%, điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ liên ngân hàng 5,16%.
Ngày 26/11/2009, ngân hàng nhà nước hạ biên độ tỷ giá từ mức 5% xuống 3%,
đồng thời nâng tỷ giá liên ngân hàng thêm 5,44%, lên mức 17.961 VND/USD.

quốc tế đã làm cho thâm hụt thương mại tăng lên. Từ năm 2002 lại đây, cán cân
thương mại luôn bị thâm hụt. Năm 2002 cán cân thương mại thâm hụt 1,054 tỷ
USD, năm 2006 là 2,77tỷ USD, năm 2007 là 10,36 tỷ USD, năm 2008 là 12,28 tỷ
USD, năm 2009 là 7,04 tỷ USD (nguồn: Thống kê tài chính quốc tế của IMF, tính
trên cơ sở hàng xuất theo giá FOB, hàng nhập theo giá FOB). Nếu tính trên cơ sở
hàng nhập theo giá CIF, thâm hụt thương mại những năm gần đây còn lớn hơn.
Nguyên nhân thâm hụt thương mại của Việt nam gia tăng trong những năm gần
đây được nhóm chuyên gia quốc tế và Việt nam phản ảnh khá đầy đủ trong bản
báo cáo phân tích thâm hụt thương mại thuộc dự án hỗ trợ thương mại đa biên. Đó
là có sự bất cập mang tính chất cơ cấu dẫn đến sự mất cân đối thương mại của Việt
nam, làm hạn chế khả năng gia tăng xuất khẩu nhanh hơn so với nhập khẩu. Theo
tính toán tỷ lệ nhập khẩu trong xuất khẩu còn rất cao, chiếm khoảng 2/3 giá xuất
xưởng. Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức cao dẫn tới thực tế là
nếu muốn tăng xuất khẩu thì nhất thiết phải tăng nhập khẩu. Nguyên nhân là do
đầu tư quá ít vào các lĩnh vực hỗ trợ phát triển các ngành phụ trợ hoặc dây truyền
sản xuất trong nước.Thực tế cho thấy Việt nam chỉ là nơi thực hiện lắp ráp cho các
tập đoàn đa quốc gia, chưa trở thành cơ sở sản xuất với giá trị gia tăng cao. Ngoài
ra còn do chính sách giảm thuế nhập khẩu thực hiện theo các cam kết trong thỏa
thuận thương mại khu vực và quốc tế. Do khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy
thoái kinh tế làm thu hẹp nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt nam…
Trung quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt nam với tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu liên tục tăng cao trong nhiều năm qua. Tổng kim ngạch mậu dịch hai
chiều tăng nhanh, bình quân khoảng 40%/năm. Năm 2008 con số này đạt 21,659
tỷ USD, năm 2009 đạt 20,751 tỷ USD, hết quý I năm 2010 là 5,37 tỷ USD, tăng
37,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên nhập siêu của Việt nam từ thị trường
Trung quốc ngày càng lớn về giá trị, năm 2005 nhập siêu là 2,82 tỷ USD, năm
2007 là 9,15 tỷ USD, năm 2008 là 11,12 tỷ USD, năm 2009 11,53 tỷ USD, và quý
I năm 2010 là 2,55 tỷ USD. (Nguồn: Tổng cục thống kê). Mặt khác nhập siêu từ
Trung quốc chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt nam, theo số liệu của bộ công
thương công bố và báo cáo tổng hợp của tác giả Nguyễn Duy Nghĩa, nguyên Phó

thiện được cán cân thương mại, khắc phục được những điểm yếu về cơ cấu thương
mại, cơ cấu mặt hàng, cơ cấu sản xuất sản phẩm thay thế…thì các chính sách về tỷ
giá, tiền tệ mới có thể phát huy đầy đủ được tác dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status