Công nghệ xứ lý chất thải rắn y tế không đốt - Pdf 36

Công nghệ xứ lý chất thải rắn y tế không đốt - Xu thế mới thân thiện với môi trường
Chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế trong quá trình hoạt động chuyên môn chứa
nhiều yếu tố nguy hại. Theo nghiên cứu của tổ chức Y tế thế giới (WHO), thành phần
nguy hại trong chất thải rắn y tế chiếm từ 10 - 25%, bao gồm các chất thải lây nhiễm,
dược chất, chất hóa học, phóng xạ, kim loại nặng, chất dễ cháy, nổ... Còn lại 75 - 90%,
gồm các chất thải thông thường, tương tự như chất thải sinh hoạt, trong đó có nhiều thành
phần không chứa yếu tố nguy hại như nhựa, thủy tỉnh, kim loại, giấy... có thể tái chế.

Để xử lý và tiêu huy chất thải y tế, mỗi nhóm và loại chất thải có phương pháp riêng.
Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến công nghệ xử lý chất thải lây nhiễm, một thành
phần chủ yếu của chất thải rắn y tế nguy hại có trong chất thải y tế. Các chất thải thuộc
nhóm khác như hóa học, phóng xạ, kim loại nặng... được xử lý tương tự như các phương
pháp xử lý chất thải công nghiệp khác.
Từ trước đến nay, tại Việt Nam hầu như mới chỉ biết đến lò đốt chất thải rắn y tế nguy
hại, bao gồm lò đốt 2 buồng nhập khẩu từ các nước phát triển như từ Thụy Sĩ, Mỹ, Bỉ,
Pháp, Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Phi... và một số lò đốt sản xuất trong nước. Đến
nay, cả nước có khoảng trên 500 lò đốt xử lý cho khoảng hơn 70% chất thải lây nhiễm
phát sinh từ các bệnh viện và cơ sở y tế. Ngoài ra, một số bệnh viện còn sử dụng lò đốt


thủ công tự xây hoặc thiết kế đơn giản để xử lý chất thải lây nhiễm. Hiện nay, Việt Nam
chưa có lò quay để xử lý chất thải rắn y tế. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã ban hành
các tiêu chuẩn có liên quan đến lò đốt như: TCVN 6560 - 2005: "Khí thải lò đốt chất thải
rắn y tế - Giới hạn cho phép và một số tiêu chuẩn khác về các phương pháp xác định các
chất ô nhiễm trong khí thải, thay thế cho các tiêu chuẩn ban hành năm 2004". Tuy vậy,
việc kiểm soát khí thải lò đốt và nhiệt độ buồng đốt còn gặp nhiều khó khăn do có một số
chỉ tiêu hiện nay như đo nồng độ dioxin phải gửi mẫu ra nước ngoài với chi phí rất cao
(khoảng 2 nghìn USD/mẫu xét nghiệm dioxin). Lò đốt chất thải y tế là nguồn chính phát
sinh ra dioxin và thủy ngân trong các hoạt động dân sự hiện nay. Với mục tiêu bảo vệ
môi trường (BVMT) và bảo vệ sức khỏe, các nước đang phát triển như Mỹ và châu Âu
ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải lò đốt chất thải y tế. Trong tình hình như vậy,

1.000 - 15.000°F (540 - 8.300°C) hoặc cao hơn. Điện trở, cảm ứng điện, khí tự nhiên
hoặc năng lượng plasma cung cấp nhiệt cao. Nhiệt độ cao làm thay đổi tính chất lý hóa
của chất thải, từ chất hữu cơ thành chất vô cơ và tiêu hủy hoàn toàn chất thải đồng thời
làm thay đổi lớn về trọng lượng và thể tích chất thải.
Quy trình nhiệt thấp cần có thêm thiết bị cắt, xay để làm giảm thể tích và biến dạng chất
thải, thể tích chất thải có thể giảm từ 60 - 70%. Quy trình nhiệt cao có thể giảm thể tích
đến 90-95%.
Xu hướng chung và khả năng ứng dụng công nghệ không đốt ở Việt Nam
Việc áp dụng các công nghệ thay thế cho công nghệ đốt ở nước ta là rất cần thiết, phù
hợp với xu hướng chung hiện nay của thế giới, thực hiện các cam kết giảm phát thải các
chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, BVMT và sức khỏe con người. Tháng 8/2004, trong
tài liệu "Chính sách quản lý an toàn chất thải y tế", WHO đã đưa ra các chính sách nhằm
khuyến cáo các quốc gia quan tâm đến quản lý chất thải y tế. Cụ thể như: Quản lý chất
thải y tế không an toàn gây tử vong và tàn tật, gây rủi ro cho sức khỏe con người, đặc biệt


lo ngại về việc phơi nhiễm với dioxin và furan từ khí thải lò đốt chất thải rắn y tế; Cần
những quyết định đúng đắn trong quản lý chất thải y tế; Phù hợp vói Chiến lược của
WHO (Phát triển các ứng dụng tái chế chất thải ở nơi có thể tái chế được; Sử dụng các
thiết bị y tế không có chứa chất liệu PVC; Khuyến khích sử dụng các thiết bị nhỏ thay thế
cho phương pháp thiêu đốt; Phát triển và ứng dụng các công nghệ không đốt để xử lý
chất thải rắn y tế; Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, chính sách, luật pháp và
hướng dẫn quản lý chất thải y tế; Phân bổ nguồn nhân lực, tài chính cho quản lý an toàn
chất thải y tế).
Hiện nay, Mỹ và EU đang áp dụng chuẩn STAATT (Tiêu chuẩn của Hiệp hội liên bang
về các công nghệ xử lý thay thế) để đánh giá hiệu lực khử khuẩn, trong đó cấp độ III
được coi là chuẩn mực tối thiểu, mức giảm 6 Log 10 tương đương với xác suất sống sót
1/1 triệu của vi sinh vật hay giảm 99,9999% vi sinh vật do quá trình xử lý. Theo kinh
nghiệm của Mỹ và các nước châu Âu, các yếu tố phải được xem xét khi lựa chọn công
nghệ gồm: Công suất xử lý; Loại chất thải được xử lý; Hiệu lực khử khuẩn; Phát thải ra

3. Bệnh viện 199, Bộ Công An, Đà Nẵng. Năm 2009
4. Bệnh viện Phổi Trung ương, Bộ Y tế, Hà Nội. Năm 2009
5. Bệnh viện C Đà Nẵng, Bộ Y tế, Đà Nẵng. Năm 2009
6. Bệnh viện Y học Cổ truyền, Bộ Công An, Hà Nội. Năm 2010
7. Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bộ Y tế, Hà Nội. Năm 2010
8. Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí, Bộ Y tế, Quảng Ninh. Năm 2010
9. Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, Bộ Y tế, Quảng Bình. Năm 2010
10. Bệnh viện GTVT Huế, Bộ GTVT, Huế. Năm 201111. Bệnh viện Đa khoa số 1 Lào
Cai, Lào Cai. Năm 2010
II. Các bệnh viện áp dụng công nghệ vi sóng áp suất thường
1. Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, Bộ Y tế, Đắc Lắc. Năm 2010
2. Bệnh viện GTVT Yên Bái, Bộ GTVT, Yên Bái. Năm 2011
(Nguồn: Tổng cục Môi trường)



Các công nghệ không đốt áp dụng xử lý Chất thải rắn y tế lây nhiễm
Hiện nay, trên thế giới có nhiều loại công nghệ không đốt được áp dụng để xử lý
CTRYTLN và được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, nếu dựa trên các
quá trình cơ bản được sử dụng để khử trùng CTRYT thì các công nghệ không đốt được
phân ra làm 5 loại cơ ban như sau:
– Phương pháp nhiệt
– Phương pháp hóa học
– Phương pháp sinh học
– Phương pháp phóng xạ
– Phương pháp chôn lấp.
Phần lớn công nghệ không đốt áp dụng 2 phương pháp nhiệt và hóa học.
1. Phương pháp nhiệt độ thấp (sử dụng hơi ẩm)
1.1. Hấp ướt
Nguyên lý cấu tạo:

lẫn trong phần CTRYT cần xử lý
– Do hơi nước bị ngưng tụ trong túi đựng CTRYT nên sẽ có khối lượng cao hơn
so với CTRYT trước khi xử lý
– CTRYT cần xử lý có thể bị hạn chế trong việc tiếp xúc với hơi nước làm giảm
sự truyền nhiệt và làm ảnh hưởng tới hiệu quả khử khuẩn của công nghệ như CTRYT có
kích thước quá to hoặc cồng kềnh, hay đựng trong nhiều túi khác nhau.
1.2. Xử lý CTRYTLN bằng công nghệ vi sóng:
Nguyên lý cấu tạo:
Hệ thống khử khuẩn bằng vi sóng có cấu tạo bao gồm một buồng khử khuẩn, trong đó
năng lượng vi sóng được truyền trực tiếp từ bộ phát vi sóng (magnetron). Thường thì cần
sử dụng 2 đến 6 magnetron để tạo công suất thiết bị là 1,2 kW có thể thiết kế để xử lý
theo từng mẻ riêng biệt hoặc xử lý liên tục.


Loại CTRYT có thể xử lý được:
CTRYTLN sắc nhọn, CTRYTLN không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học và chất từ
buồng cách ly), chất thải giải phẫu.
Ưu điểm:
– Được chấp nhận như một công nghệ thay thế cho lò đốt tại nhiều quốc gia trong
hàng chục năm qua và đã chứng minh được hiệu quả hoạt động tốt
– Nếu làm tốt công tác phân loại CTRYT lượng khí thải từ thiết bị vi sóng được giảm
đáng kể
– Không làm phát sinh chất thải lỏng
– Máy cắt giúp giảm thể tích CTRYT tới 80%
– Công nghệ tự động dễ sử dụng.
Nhược điểm:
– Nếu phần CTRYT đem đi xử lý có lẫn hóa chất độc hại sẽ làm phát tán các chất gây
ô nhiễm vào không khí hoặc lưu trong phần CTRYT sau xử lý
– Có thể phát sinh một số mùi khó chịu xung quanh thiết bị
– Hoạt động của máy cắt có thể gây ồn

– Là công nghệ tương đối mới.
2.2. Phương pháp gia nhiệt khô
Nguyên lý cấu tạo chung
Là một hệ thống để xử lý những lượng nhỏ các vật dụng và chất thải mềm tại hoặc gần
điểm phát sinh. Nó được sử dụng tại các phòng khám bệnh, phòng vật lý trị liệu, phòng
nha khoa, và các cơ sở y tế khác.
Các loại CTRYT có thể xử lý được
Các chất thải sắc nhọn và mềm (gạc, băng, găng tay…). Một lượng nhỏ chất thải lỏng
như băng gạc thấm máu và dịch lỏng cơ thể, có thể cũng được xử lý, nhưng không phải
chất lỏng với lượng lớn.


Ưu điểm
– Thiết bị nhỏ, nặng 15 kg, có thể mang đi được mặc dù thiết kế để vận hành một
chỗ như một hệ thống để bàn, nó được sử dụng gần hoặc tại điểm phát sinh.
– Nó được chấp nhận hoặc xác nhận như một công nghệ thay thế
– Nếu các biện pháp phòng ngừa được thực hiện để loại ra các vật liệu nguy hại,
khí thải từ quá trình xử lý là không đáng kể và không có chất thải lỏng
– Công nghệ tự động, dễ sử dụng
– Mùi được loại bỏ bởi một hệ thống lọc kép, vận hành hầu như không ồn
– Các hộp chất thải có một dải đổi màu cảm ứng nhiệt để nhận biết các hộp đã xử
lý và chưa xử lý
– Chi phí đầu tư thấp và yêu cầu lắp đặt không nhiều.
Nhược điểm
– Nếu các chất hóa học nguy hại có trong chất thải, chúng có thể tập trung vào
thiết bị lọc, thoát ra không khí hoặc giữ lại trong chất thải rắn và nhiễm vào bãi chôn lấp.
– Hệ thống được thiết kế cho các nguồn phát sinh nhỏ, không thể xử lý chất thải
cho cả một bệnh viện hoặc các cơ sở chăm sóc sức khỏe lớn
– Việc sử dụng các vật liệu một lần có thể làm tăng thêm khối lượng chất thải đi
chôn lấp.

– Nhu cầu diện tích sử dụng cao hơn so với các công nghệ khác.
4.2. Nhiệt phân plasma
Các loại CTRYT có thể xử lý được
Phương pháp này có thể xử lý được tất cả các loại CTRYT mà lò đốt có thể xử lý được
bao gồm: CTRYTLN sắc nhọn, CTRYTLN không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây
nhiễm cao, chất thải giải phẫu.


Ngoài ra, có thể xử lý được nhựa thải, máu, dịch cơ thể, bệnh phẩm,chất thải động vật,
chất thải từ quá trình lọc máu. Một số công nghệ nhiệt phân plasma cho phép xử lý các
thành phần CTRYTNH, dung môi đã sử dụng và các chất khác (như formaldehyde,
xelene, isopropanol…), dược phẩm hết hạn sử dụng, chất thải phóng xạ nồng độ thấp.
Ưu điểm
– Lượng khí thải sinh ra trong quá trình xử lý thấp hơn so với phương pháp đốt
– Hệ thống nhiệt phân plasma có thể xử lý nhiều loại CTRYT, trừ thủy ngân
– Giảm đáng kể khối lượng và thể tích CTRYT sau xử lý
– Tro sau xử lý cơ bản là chất trơ và vô trùng. Một số thành phần kim loại có thể
thu hồi phục vụ cho mục đích tái chế khác
– Được thiết kế và điều kiển tự động thông qua máy tính
– Phù hợp với cơ sở y tế có quy mô lớn và hoạt động liên tục.
Nhược điểm
– Mặc dù lượng khí thải thấp hơn so với phương pháp đốt truyền thống, nhưng có
thể tạo ra đioxin
– Do tính không đồng nhất của CTRYT cần xử lý nên nếu không kiểm soát tốt
quá trình hoạt động của thiết bị sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định của hệ thống
– Chi phí đầu tư cao và có yêu cầu quan trọng đối với việc lắp đặt thiết bị
– Chi phí vận hành cao (do điện năng)
– Việc sử dụng đèn plasma hồ quang có thể ảnh hưởng tới chất lượng điện năng
tại cơ sở y tế, dẫn đến hiện tượng điện không ổn định
– Phù hợp với quy mô lớn, do đó không khả thi nếu áp dụng xử lý CTRYT ngay

Chất kết dính vô cơ thường dùng là xi măng, vôi, thạch cao, silicat.
Chất kết dính hữu cơ thường dùng là polyester, nhựa, polyolefin, ureformandehyt.
Thùng chứa chất thải làm bằng polyethylene (PE) hoặc thùng bằng kim loại
Chất thải được trộn lẫn với vật liệu kết dính đổ đầy ¾ thùng chứa, các thùng chứa được
đóng kín và đưa đi chôn lấp [9].
Trơ hóa CTRYT lây nhiễm


Chất thải đóng rắn cần được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ với
các chất phụ gia
Quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm bị cô lập. Khối rắn sẽ được
kiểm tra cường độ chịu nén, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp [5].
Tỷ lệ phối trộn hỗn hợp theo trong lượng từng thành phần:
– CTRYT lây nhiễm 65%
– Vôi 15%
– Xi măng 15%
– Nước 5%.
6. Phương pháp chôn lấp
Phương pháp này không được khuyến khích áp dụng trong xử lý CTRYTLN do những
ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người và môi trường. CTRYT có thể chôn tại các
bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc trong các hố bê tông được xây dựng trong khuôn viên bệnh
viện.
Các hố chôn lấp này nên được lót lớp vật liệu có độ thấm hút thấp, chẳng hạn như đất sét
để hạn chế sự thâm nhập của các chất gây ô nhiễm vào tầng nước ngầm. Để đảm bảo an
toàn cho môi trường và sức khỏe con người, nên phủ đất lên CTRYT ngay sau khi đưa
vào hố chôn và có rắc vôi bột lên trên.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status