BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
------------------------------
KS. BÙI NHẬT MINH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MÀNG LỌC SINH HỌC
ĐỂ XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
HÀ NỘI, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG
------------------------------
KS. BÙI NHẬT MINH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MÀNG LỌC SINH HỌC
ĐỂ XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Cấp Thoát Nước
Mã số: 60.58.70
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Cán bộ hướng dẫn: PGS. TS. TRẦN ĐỨC HẠ
MBR Bể lọc sinh học bằng màng
(Membrane BioRector)
i.MBR Màng lọc sinh học nhúng ngập
s.MBR Màng lọc sinh học đặt ngoài
CAS Bùn hoạt tính truyền thống
(Conventional Activated Sludge)
BOD Nhu cầu ôxy sinh hóa
COD Nhu cầu ôxy hóa học
SS Cặn rắn lơ lửng
MLSS Chất rắn lơ lửng dạng lỏng hỗn hợp
OTE Hiệu quả chuyển hoá oxy
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
KCN Khu công nghiệp
XLNT Xử lý nước thải.
$ Đô la Mỹ
€ Đồng Euro
WB Ngân hàng thế giới
ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
DWA Hiệp hội nước và nước thải Đức (trước đây là ATV)
(US) EPA Tổ chức bảo vệ môi trường Mỹ
WEF Liên đoàn môi trường nước thế giới
CWA Đạo luật về nước sạch
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
trang
6
1.230.000.000
97.2000
Khí quyển (hơi nước)
510.000.000
12.700
0,0010
1.200
0,0001
130.000.000
4.000.000
0,3100
855.000
123.000
0,0090
28.200.000
Ở các thành phố có nhiều nhà máy, khu công nghiệp, nước thải công nghiệp ảnh hưởng rất lớn
đến thành phần nước thải chung của thành phố, thị trấn vì nó chứa nhiều các chất gây ô nhiễm
ở nồng độ cao và tùy theo từng nhà máy thành phần chất gây ô nhiễm rất phức tạp. Do đó để
giảm thiểu chi phí cho việc quản lý và xử lý, mỗi nhà máy cần phải có các hệ thống xử lý
riêng để nước thải thải vào các nguồn nước công cộng phải đạt đến một tiêu chuẩn cho phép
nào đó.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, và đô thị hoá ở nước ta đang diễn ra với tốc độ
nhanh. Để đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người dân, trong những năm gần đây việc đầu tư cho thoát nước và vệ sinh đô thị đã được
quan tâm nhiều hơn, trước hết là ở các thành phố lớn và các đô thị du lịch. Trong vấn đề này,
muốn đầu tư có hiệu quả thì phải lựa chọn được giải pháp công nghệ xử lý nước thải phù hợp.
Lựa chọn công nghệ xử lý nước thải đô thị phù hợp trước hết phải bảo đảm về yêu cầu vệ
sinh, đảm bảo sự phát triển bền vững, cuối cùng là tính khả thi trong điều kiện kinh tế - xã hội
nước ta hiện nay.
Trong xử lý nước thải sinh hoạt, các phương pháp xử lý sinh học đã được nghiên cứu và ứng
dụng rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó phổ biến nhất là các bể
Aeroten, Biophil. Ở nước ta, cho đến gần đây vẫn chủ yếu ứng dụng bể Aeroten để xử lý nước
thải sinh hoạt. Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều các dự án đầu tư xây dựng các công trình
thoát nước và vệ sinh với nhiều nguồn vốn khác nhau và chủ yếu được thực hiện tại các đô thị
lớn như: dự án thoát nước Thành phố Hà Nội, dự án cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước
Thành phố Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, dự án cải thiện môi trường nước thành phố
Huế, dự án bảo vệ môi trường thành phố Hạ Long, dự án thoát nước và vệ sinh thành phố Đà
Nẵng… nên có rất nhiều công nghệ xử lý nước thải khác nhau đang được ứng dụng đồng thời
tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các công nghệ xử lý nước thải kiểu cổ điển (Aeroten, Biophil, hồ sinh học, ...) đã
có nhiều kết quả tốt, đạt được mức độ xử lý yêu cầu nếu áp dụng nhiều cấp độ (đến cấp III –
xử lý triệt để), nhưng các công nghệ này đòi hỏi một quỹ đất lớn, không còn phù hợp với
những đô thị đang ngày càng đông dân cư như hiện nay. Vì vậy, cần phải có một công nghệ
mới ưu việt hơn để thay thế là thực sự cần thiết, đảm bảo và nâng cao được chất lượng xử lý,
đồng thời hạn chế tỷ lệ chiếm đất, phù hợp với vốn đầu tư và trình độ vận hành của cán bộ
-
Thu thập các tài liệu phân tích về tình hình thoát nước và xử lý nước thải ở Việt Nam
hiện nay;
-
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết, nguyên tắc hoạt động của MBR;
-
Áp dụng thử để tính toán thiết kế trạm XLNT có sử dụng MBR cho khu đô thị;
-
Đánh giá khả năng ứng dụng MBR để xử lý nước thải và tái sử dụng nước thải đô thị
trong điều kiện Việt Nam.
1.3.2. Phương pháp nghiên cứu
trang 10
Phương pháp tổng hợp lý thuyết
-
Thu thập các thông tin, tài liệu đã nghiên cứu về hệ thống MBR trên Thế giới và ở
Việt Nam.
-
•
trang 11
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG MÀNG LỌC SINH HỌC ĐỂ XỬ LÝ
NƯỚC THẢI
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ MBR
MBR đã được giới thiệu vào cuối thập niên 1960, ngay trong khi siêu lọc (UF) và vi lọc (MF)
đang ở quy mô thương mại có sẵn. Ban đầu MBR được giới thiệu bởi Dorr-Olivie (1969) là
việc kết hợp màng lọc với bùn hoạt tính tuần hoàn. Các lớp màng được thiết kế bằng vật liệu
polymer, trên đó có đường kính lỗ rỗng đặc trưng từ 0,003 tới 0,01 μm. Trong giai đoạn phát
triển ban đầu nó đã gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng vì chi phí cao của cả hệ thống khi
nền kinh tế chưa đủ đáp ứng, ngoài ra hiệu suất đạt được còn thấp do màng bẩn nhanh chóng
mà chưa có biện pháp khắc phục. Để giải quyết vấn đề này cần thiết phải có bơm tạo áp lớn,
tuy nhiên lại gặp phải vấn đề năng lượng hao tốn đáng kể (ước tính 10 kWh/m 3 sản phẩm). Do
đó, MBR thế hệ trước chỉ ứng dụng trong các lĩnh vực thích hợp với nhu cầu đặc biệt như khu
trượt tuyết hay các khu cô lập,…
Hình 2.1. Màng sinh học bên ngoài (Side-Stream - sMBR)
Trong những năm 1980, công nghệ MBR được áp dụng khá phổ biến ở Nhật Bản trong các
công trình xử lý nước thải hoặc trong các nhà cao tầng có sử dụng lại nước thải. Trong giai
đoạn này, MBR thường là các modules xử lý ngoài (side-steam - hình 2.1), hiệu quả thấp và
hao tốn năng lượng nhiều.
MBR nhúng ngập (hình 2.2) được đề xuất vào cuối những năm 1980 đã giảm được đáng kể
mức sử dụng năng lượng, đó là ý tưởng của nhà nghiên cứu người Nhật Bản – Yamamoto
cùng các cộng sự (1989). Kể từ đây công nghệ MBR phát triển một cách nhanh chóng.
trang 12
hơn tất cả các lĩnh vực khác trong công nghiệp xử lí nước của nước này và các nhánh nhỏ của
ngành này như thị trường lọc, các loại hình công nghệ như màng lọc, bức xạ tia cực tím sẽ
tăng vượt mức 15% (Maxwell, 2005). Vùng Viễn Đông là một thị trường đầy tiềm năng. Năm
2005, có tới 1.400 hệ thống MBR được lắp đặt tại Hàn Quốc.
Tương lai của thị trường này nhìn chung là rất khả quan với triển vọng về sự tăng trưởng ổn
định. Mức độ lạc quan của vấn đề càng được củng cố dựa trên các ảnh hưởng quan trọng đã
giúp cho thị trường này phát triển như ngày hôm nay và thậm chí còn phát triển hơn nữa trong
tương lai. Các nhân tố thị trường quan trọng này bao gồm các yêu cầu về luật pháp trong việc
quản lí chất lượng nước, mức tài trợ tăng và các động cơ đi kèm như giảm giá thành và sự tin
tưởng vào công nghệ đang ngày càng được nâng cao.
2.2.2. Các rào cản trong việc triển khai công nghệ MBR
Nhiều sản phẩm màng lọc đã được phát triển nhưng các sản phẩm không được phát triển còn
nhiều hơn thế. Mặc dù khoa học công nghệ đã phát triển, nhưng vẫn còn có những định kiến
khiến cho những người đưa ra quyết định chính thức còn miễn cường khi triển khai MBR trên
toàn thế giới trong các công trình công nghiệp hoặc của đô thị.
Công nghệ MBR được nhìn nhận như là một nghệ thuật nhưng đôi khi nó cũng mang tính rủi
ro cao và giá thành cũng rất đắt khi đem so với các loại hình công nghệ khác như nhà máy xử
lý bằng bùn hoạt tính và các công nghệ khác bắt nguồn từ nó. Trong khi công nghệ bùn hoạt
tính được xem là hợp lí về măt giá thành/giá trị cao, và bộ lọc sinh học sục khí (BAFs) có giá
thành trung bình và thấp với chất lượng trung bình, nhiều đánh giá cho rằng MBR có giá
thành cao và giá trị cũng cao. Vì thế, mặc dù yêu cầu về chất lượng là cao, nhưng thông
thường các tổ chức không nhận thấy việc đầu tư một khoản tiền lớn cho MBR là cần thiết. Có
lẽ chỉ đến khi nào luật pháp yêu cầu chất lượng xử lý nước cao hơn chất lượng mà các công
nghệ cũ có thể làm được thì các tổ chức kia mới xem xét lại các ích lợi mà việc lắp đặt MBR
có thể đem lại cho họ.
trang 14
Hình 2.4. Đánh giá tương quan một số công nghệ xử lý nước thải (Reid, 2006)
thải công nghiệp.
•
Tình trạng khan hiếm nước tại địa phương.
•
Các chính sách ưu đãi của nhà nước để khuyến khích sự phát triển của công nghệ xử lí
nước thải và đặc biệt là tái chế.
•
Giảm giá thành đầu tư.
•
Tăng niềm tin và chấp nhận công nghệ MBR
Không nghi ngờ gì khi khẳng định hệ thống luật pháp hiện nay là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới thị trường này bởi vì luật pháp đang thực thi một chế độ nghiêm ngặt hơn về sản
phẩm chất lượng nước và việc đảm bảo nguồn nước trên toàn thế giới, thông thường là qua tái
chế, và vì thế luật pháp yêu cầu tất cả các tổ chức phải đánh giá lại công nghệ hiện tại của
mình theo các quy định mới. Rất nhiều sáng kiến về việc tái sử dụng và tái chế đã được đưa ra
và mang lại hiệu quả tương tự như nhau.
Trong Liên minh Châu Âu, hệ thống luật pháp được thể hiện ở một loạt các luật có liên quan
tới nước và nước thải, trong đó những vấn đề quan trọng nhất có liên quan tới MBR là:
Tiêu chuẩn về nước sinh hoạt EC (1976): tiêu chuẩn này nhằm nâng cao chất lượng nước sinh
hoạt về mức độ gây hại của vi sinh vật tại một số địa phương được lựa chọn trong quá trình
nghiên cứu. Tiêu chuẩn này hiện đang được xem xét lại nhằm làm đơn giản hóa và cập nhật
lượng, nguồn nước hay các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và bảo vệ nguồn nước thông
qua việc bảo tồn.
Đạo luật về vấn đề an toàn của nước uống (1974): đạo luật này tập trung vào tất cả các loại
nước trên mặt đất hoặc nước ngầm mà đang và có thể sẽ được sử dụng làm nước uống. Đạo
luật này trao quyền cho EPA xây dựng tiêu chuẩn an toàn về tính trong sạch của nước và yêu
cầu tất cả các hệ thống cung cấp nước tuân theo các tiêu chuẩn quan trọng (EPA, 2006b). Từ
năm 1974, rất nhiều quy tắc và thay đổi đã diễn ra, trong đó có nhiều thay đổi liên quan tới
việc quản lí việc tẩy uế các phế phẩm và các chất thải hữu cơ và vô cơ nhưng không có đạo
luật nào đề cập trực tiếp tới việc tái sử dụng nước thải.
Đạo luật về nước sạch (Clean Water Act – CWA, 1972): đạo luật này xây dựng khung cơ bản
cho việc điều hòa các chât gây ô nhiễm thải vào nguồn nước ở Mỹ và quy định tiêu chuẩn cho
nước thải công nghiệp. Đạo luật này được sửa đổi vào năm 1977, 1981 và 1987. Ban đầu, đạo
luật này nhằm mục đích đảm bảo nước sạch là nơi cá có thể sinh sống được, người có thể bơi
trang 17
được, mặc dù một nghiên cứu gần đây cho thấy đạo luật cần phải bổ sung thêm để đạt được
mục tiêu này (Benham et al., 2005).
Trong nỗ lực để đạt được mục tiêu trên, chương trình tải lượng tối đa hàng ngày (TMDL) đã
được triển khai. Phần 303(d) trong CWA yêu cầu chương trình này phải được áp dụng với tất
cả các nguồn nước có chất lượng kém. Một chương trình TMDL chỉ rõ khối lượng tối đa của
một chất gây ô nhiễm môi trường trong nguồn nước mà nguồn nước đó vẫn đáp ứng được tiêu
chuẩn về chất lượng. Chương trình này cũng chỉ rõ từng loại chất gây ô nhiễm. MBR mở ra
hướng mới cho việc giảm lượng thải nguồn điểm thông qua việc tái chế và cải thiện chất
lượng cho nước. Tại Mỹ, một số bang, đặc biệt là những nơi thiếu nước trầm trọng như
California và Florida, có thể thông qua một số quy định được bổ sung trong khuôn khổ của
luật pháp. Bang Georgia đã triển khai một sáng kiến trong việc sử dụng lại nguồn nước với
khẩu hiệu “Chính sách cho việc cải tạo nước và tái sử dụng nguồn nước tại các đô thị”. Chủ
trương này bao gồm các phương tiện cho việc xử lí nước thải, các tiêu chí để kiểm soát và xử
lí quá trình trên cũng như các yêu cầu về thiết kế, vận hành và quản lí hệ thống. California đã
lượng nước trong xử lý nước thải, ô nhiễm nguồn không có điểm kiểm soát, quản lý lưu vực
sông và cửa sông.
Theo trên, các ví dụ chỉ là những hình ảnh minh hoạ của những gì có sẵn trên toàn cầu, và
phạm vi của bài không thể thể hiện một cách đầy đủ. Tuy nhiên, rõ ràng là tổ chức chính phủ
đã và đang cung cấp, khuyến khích đầu tư vào các dự án tiên tiến, kết quả là, công nghệ MBR
trở nên dễ dàng hơn về khả năng chi trả. Có thể nói, lựa chọn công nghệ này là không bình
thường đối với nhà lập pháp, nhà quản lý, nhưng hãy đặt vấn đề ở công nghệ về các tiêu
chuẩn, hiệu suất, chất lượng đạt được. Những lợi ích của MBR theo quan điểm tái chế là (a)
khả năng đạt được chất lượng một cách hợp lý, (b) độ tin cậy tương đối và (c) đánh dấu bước
ngoặt công nghệ mới.
Các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc triển khai hệ thống MBR còn phải kể đến (1) Tổng mức
đầu tư; (2) Mức độ khan hiếm nước tại vùng và (3) Mức độ tin tưởng vào công nghệ. Trong
phạm vi luận văn chưa thể nghiên cứu đầy đủ, các vấn đề này sẽ được nghiên cứu tiếp trong
những đề tài sau.
2.2.4. Một số dự án nhà máy XLNT trên thế giới sử dụng công nghệ MBR
Chỉ tính trong 10 năm trở lại đây, trên thế giới đã có hàng loạt nhà máy xử lý nước thải và tái
sử dụng nước thải được hình thành với nhiều quy mô khác nhau. Chủ yếu các nhà máy xử lý
nước thải này dùng để xử lý nước thải khu đô thị và các khu công nghiệp, công trình đã đưa
vào hoạt động có hiệu quả, và đem lại lợi ích môi trường to lớn.
Có thể nêu ra đây một số những công trình tiêu biểu trên thế giới đã áp dụng thành công công
nghệ MBR trong xử lý nước thải:
trang 19
ST
T
Tên dự án
2
Brightwater Project
WA, USA
3
Zakher Waste Water
Treatment plant
Abu Dhabi
Nước thải sinh hoạt,
145.000 m3/day
2008
4
PS-1 Membrane Bio
reactor Plant
Abu Dhabi
Nước thải sinh hoạt,
5.000 m3/day
2008
Heta Waste Water
Treatment plant
Numaru, Japan
7
DS 150 Site labour
camp.
Dubai
Nước thải sinh hoạt,
180 m3/day
2003
8
BUCCA STP
Iraq
Nước thải sinh hoạt,
6.000 m3/day
2005
9
University of Applied
Sciences GiessenFriedberg
Nước thải sinh hoạt,
24.000 m3/day
2002
12
13
MP Medioambiente
Spain
Nước thải sinh hoạt,
2.300 m3/day
2005
14
SC Adiss
Romania
Nước thải sinh hoạt,
48 m3/day
Năm đưa
vào hoạt
động
400 m3/day
16
Luxury resort STP
Dubai
Nước thải sinh hoạt,
300 m3/day
2007
17
ACO Passavant –
Hospital
Germany
Nước thải bệnh viện,
300 m3/day
2003
United Kingdom
2006
Andalusia, Spain
Tham khảo thêm tại: />2.3. SỬ DỤNG MÀNG LỌC SINH HỌC ĐỂ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI VIỆT NAM
2.3.1. Tình hình xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam
Các đô thị của Việt Nam hiện nay, hệ thống thoát nước là hệ thống chung chủ yếu được xây
dựng từ thời Pháp thuộc. Ðường ống nước thải và đường ống nước mưa còn chung nhau, dẫn
đến việc khó khăn trong quá trình xử lý nước thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt. Do điều
kiện kinh tế nước ta còn khó khăn nên không thể một sớm một chiều mà phá hủy hệ thống cũ
để làm lại, cần tận dụng để tránh lãng phí. Có thể kết hợp việc xây dựng hệ thống cống bao để
dẫn nước thải vào khu vực xử lý chung không bị vỡ đoạn. Riêng ở các khu đô thị mới xây
dựng, nhất thiết phải có đường ống nước mưa và đường ống nước thải riêng để việc xử lý
được triệt để và có hệ thống.
Sức ép của tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế tại các đô thị Việt Nam đang đè nặng lên
môi trường khiến cho tình trạng ô nhiễm nước thải và chất thải rắn ngày càng trầm trọng.
Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên
nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng càng ngày càng xấu
đi.
Hệ thống xử lý nước thải vệ sinh tại hầu hết các thành phố của Việt Nam cũng rất kém. Nước
thải từ nhà vệ sinh chỉ được xử lý qua loa trong các hệ thống bể tự hoại của gia đình, rồi sau
trang 21
đó hòa chung với nước xám chưa qua xử lý trước khi chảy vào cống thoát nước chung, hoặc
chảy thẳng ra sông, hồ.
Hầu hết các hệ thống thoát nước này đều là hệ thống thoát nước chung có chức năng thoát
nước mưa và nước thải nhưng rất cũ và đã xuống cấp, được xây dựng với đường kính, độ dốc
nhỏ và có tốc độ dòng chảy thấp nên gây ra sự lắng đọng và tắc cống trong cả hệ thống vào
Trần Hưng Đạo, Hàm Nghi, Hồ Tùng Mậu, Trần Đình Xu ... song hành với nhà máy với tiến
độ đã đạt khoảng 80%.
Công nghệ được áp dụng trong các nhà máy xử lý nước thải sẽ không dùng quá nhiều hóa
chất gây hại cho môi trường mà chủ yếu dùng các vi sinh, kích thích quá trình phân hủy. Phần
nước, sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam sẽ được xả ra kênh, rạch, còn phần bùn, đất và
rác sẽ được chế biến thành phân vi sinh, phục vụ cho nhu cầu phát triển nông nghiệp của
thành phố.
Dự án cải thiện môi trường lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè đang được triển khai xây dựng
cũng đã có một kế hoạch xây dựng nhà máy xử lý nước thải ở Cát Lái vào phân kỳ đầu tư thứ
2. Hiện nay, ở phân kỳ đầu tư thứ 1, dự án mới chỉ xây dựng một trạm bơm để lắng, lọc bùn,
rác thu gom từ các khu dân cư trong lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè trước khi thải nước ra
sông Sài Gòn.
Dự án Nâng cấp đô thị lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm trong phân kỳ đầu tư giai đoạn 1 cũng vậy,
chưa có kế hoạch xây dựng nhà máy xử lý nước thải nhưng theo ông Nguyễn Hoàng Nhân,
Phó giám đốc Sở Xây dựng, Giám đốc dự án, điều này sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2.
TPHCM đang nỗ lực tìm nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà máy.
Dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - Rạch Nước Lên trong giai đoạn đầu thực hiện:
cải tạo kênh, rạch cũng chưa có kế hoạch xây dựng nhà máy xử lý nước thải như 2 dự án trên
nhưng hạng mục này cũng sẽ đưa vào giai đoạn đầu tư sau.
Cùng với các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt cho từng lưu vực, TPHCM cũng đang khẩn
trương, quyết liệt yêu cầu các bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp xử lý nước thải đạt chuẩn trước
khi thải ra môi trường. Và song hành đó là việc nạo vét và khơi thông dòng cho hệ thống
kênh, mương vốn đang đặc nghẹt vì rác của thành phố. Như vậy, hứa hẹn trong một tương lai
không xa, môi trường nước ở TPHCM sẽ được cải thiện.
Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đã quan tâm nhiều đến công tác thoát nước đô
thị. Một số luật và chỉ thị đã được ban hành như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên
nước..... Một số dự án và công trình thoát nước đã được triển khai và đầu tư xây dựng. Phần
lớn các dự án này có kinh phí từ các nguồn tài trợ không hoàn lại hoặc ODA. Tình hình thoát
nước đang dần được cải thiện ở một số thành phố lớn như: Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Huế… và các khu công nghiệp, khu chế xuất mới.
và khu vực hai tỉnh Long An và Tiền Giang.
Công nghệ xử lý nước thải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng đô thị để áp dụng công nghệ
hiện đại hoặc đơn giản, phù hợp với yêu cầu nguồn tiếp nhận và điều kiện kinh tế-xã hội.
“Định hướng Phát triển thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm
2050” do Bộ Xây dựng lập và Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt với nội dung của các quyết
định chủ yếu tập trung giải quyết cơ bản yêu cầu về thoát nước nhằm bảo vệ và nâng cấp môi
trang 24
trường đô thị, phục vụ tốt đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế một cách nhanh
chóng, bền vững, trong đó có các nội dung chính như sau:
•
Xóa bỏ tình trạng ngập úng thường xuyên trong mùa mưa tại các đô thị loại II trở lên;
từng đô thị có hệ thống thoát nước thải với công nghệ xử lý phù hợp bảo đảm vệ sinh
môi trường.
•
Mở rộng phạm vi phục vụ các hệ thống thoát nước đô thị từ 56 - 60% lên 80 - 90%;
đối với Thủ đô Hà Nội, thành phố Phố Hồ Chí Minh và các đô thị loại II ; các đô thị
nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế, phát triển du lịch, các khu công nghiệp,
khu chế xuất, đạt 90 - 100%.
•
Đến năm 2025, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng ngập úng thường xuyên tại các đô thị.
•
xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật có liên quan. Đơn vị thoát nước có
trang 25