Thực trạng bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh khánh hòa - Pdf 36

Họ

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
TÊN ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA

Họ và tên sinh viên: PHẠM THỊ THANH THỦY

1

1


THÀNH PHỐ HUẾ, 6/2016
Họ

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
KHÓA 37

TÊN ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA

khỏi những thiếu sót. Rất mong sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô để niên
luận được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn và kính chúc quý thầy cô nhiều
niềm vui, sức khỏe, niềm tin để tiếp tục truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai
sau.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Huế, tháng 6 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Thanh Thủy

3

3


4

4


MỤC LỤC

A.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tình cấp thiết của đề tài.

“Mọi thứ thay đổi chúng ta, nhưng chúng ta luôn bắt đầu và kết thúc mọi
thứ với sự quan tâm của gia đình” Gia đình không chỉ là nơi chúng ta được


Mục đích nghiên cứu

2.1.

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là hệ thống cơ sở khoa học về
BLGĐ, về bình đẳng giới, làm rõ thực trạng BLGĐ, và công tác phòng chống
BLGĐ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó
phân tích và làm rõ những nguyên nhân. đánh giá được hậu quả nghiêm trọng
của BLGĐ từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
tiến tới xóa bỏ tình trạng BLGĐ ở tỉnh Khánh Hòa nói riêng và ở Việt Nam
nói chung, góp phần vào công cuộc phòng chống BLGĐ trên cả nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.

Từ những mục tiêu trên đề tài hướng tới những nhiệm vụ sau:
-

Làm rõ khái nhiệm, đặc điểm của BLGĐ.

-

Chỉ ra và phân tích các hình thức BLGĐ.

-

Làm rõ các nguyên nhân và hậu quả của BLGĐ.

-



5. Kết cấu của niên luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các
từ viết tắt, nội dung đề tài gồm có 2 chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học về bạo lực gia đình.
Chương 2. Thực trạng bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
trong giai đoạn hiện nay,giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nâng cao
hiệu quả phòng chống bạo lực gia đình.

8


B.

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Cơ sở lý luận về BLGĐ

1.1.

1.1.1. Khái niệm về BLGĐ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về BLGĐ,
đứng ở những góc độ khác nhau thì sẽ có những nhận định những khái niệm
riêng về BLGĐ:
BLGĐ nhìn từ góc độ xã hội


sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình
dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có
những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự
tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư”.
BLGĐ nhìn từ góc độ pháp luật

1.1.1.2.

Thuật ngữ BLGĐ lần đầu tiên được sử dụng trong báo cáo của Hội nghị
Phụ nữ Quốc tế 1980 tại Copenhagen, báo cáo kêu gọi “Cần phải ban hành và
thực hiện luật pháp về ngăn ngừa BLGĐ và bạo lực đối với phụ nữ”. Mỗi
quốc gia thì có định nghĩa riêng về BLGĐ.
Bộ luật của bang Georgia (Mỹ) 19-13-1 đã định nghĩa BLGĐ là một
hành vi tội phạm thực hiện giữa những con người có quan hệ với nhau. Các
hình thức tội phạm bao gồm hành hung, dọa nạt, rình rập, phá hoại tài sản
mang tính tội phạm, câu thúc bất hợp pháp, xâm nhập mang tính tội phạm và
bất cứ tội hình sự nào khác. Các hành vi giữa những con người có liên hệ với
nhau như vợ chồng trong hiện tại hay quá khứ, là cha mẹ chung của một đứa
trẻ, cha mẹ và con cái, cha mẹ kế và con kế hoặc ngay cả những người ngoài
hiện đang hoặc đã sống chung trong một gia đình [32].
Luật phòng ngừa và điều chỉnh BLGĐ B.E của Thái Lan quy định:
“BLGĐ là bất kỳ hành vi nào được thực hiện một cách cố ý nhằm gây ra
những thương tích về thân thể, sức khỏe hoặc tinh thần hoặc các hành vi có
khả năng gây nguy hiểm cho thân thể, sức khỏe hoặc tinh thần của các thành
viên hộ gia đình hoặc cưỡng ép lạm dụng quyền lực để các thành viên hộ gia
đình phải thực hiện hoặc không thực hiện hoặc phải chấp nhận thực hiện
những hành vi sai trái, bỏ mặc [32].
Luật bảo vệ chống BLGĐ của Bun-ga-ri ngày 29/3/2005 BLGĐ là bất kỳ
hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần hay tình dục nào kể cả những hành vi
trên trong giai đoạn chưa đạt, cũng như việc áp đặt hạn chế tự do và sự riêng

1.1.2.1.

Bạo lực thân thể là hành vi bạo lực sử dụng vũ lực, tác động trực tiếp
đến sức khỏe nạn nhân bao gồm đá, đấm, tát, đánh đập.... gây ra thương tích
đau đớn về thân thể cho đối tượng và có thể dẫn đến tử vong. Những hành vi
như này thường xảy ra khi hai bên chênh lệch về sức mạnh thể chất như giữa
11


chồng và vợ, cha mẹ và con cái hoặc con cái và cha mẹ già. Từ bảng số liệu,
ta có thể nhận thấy rằng hình thức bạo lực thân thể diễn ra rất phổ biến chiếm
phần lớn các vụ BLGĐ hiện nay.
Hình thức
bạo lực
Thân thể
Thinh thần
Tình dục
Kinh tế

2009
40.727
7.442
1.062
3.721

2010
44.736
8.829
883
4.415

tình dục và các hình thức bạo lực tình dục khác trong hôn nhân mà đối tượng
gây ra là các thành viên trong gia đình.
Theo khảo sát của Trung tâm ứng dụng khoa học về giới gia đình, phụ
nữ và vị thành niên (CSAGA) năm 2012 hơn 37% phụ nữ được khảo sát cho
biết họ bị ép quan hệ tình dục trong giai đoạn từ 1 - 3 năm chung sống cùng
nhau; 60% phụ nữ cho biết buộc phải quan hệ tình dục ngay cả trong thời kỳ
kinh nguyệt hoặc lúc đang đau ốm. Tuy nhiên, 83% phụ nữ bị bạo lực chấp
nhận và cam chịu, chỉ 13% chị em phản ứng quyết liệt và cương quyết cự
tuyệt khi bị ép quan hệ [30].
Bạo lực tinh thần

1.1.2.3.

Bạo lực tinh thần hay còn gọi là bạo lực tâm lý, đây là loại bạo lực khá
phổ biến nhưng nó khó nhận dạng được so với bạo lực thể chất. Với bạo lực
thể chất nỗi đau đớn thể hiện rõ trên cơ thể còn đối với bạo lực về tinh thần
thì nỗi đau ấy thể hiện nông sâu nặng nhẹ thế nào thì không ai có thể đong
đếm được. Nạn nhân phải chịu các kiểu hành hạ như chửi mắng, hạ nhục, lăng
12


mạ với những lời lẽ thô thiển, nặng nề xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự.
Không những thế, bạo lực tinh thần nhiều khi còn tồn tại dưới nhiều dạng như
đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực
thường xuyên... gây nên sự phẫn uất, khủng hoảng ý thức và tâm sinh lý…
Nếu như các vết thương về thể chất theo năm tháng sẽ có thể lành lặn, phai
mờ dần thì đối với những tổn thương về tinh thần lại là những tổn thương khó
lành, thậm chí theo thời gian nó cằng hằn sâu từng ngày từng giờ ngặm nhấm
ý chí, suy nghĩ, tư tưởng của nạn nhân khiến họ luôn trong tình trạng căng
thẳng, buồn tủi, có những suy nghĩ tiêu cực, nhiều người quá bế tắc phải tìm

của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.
1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến BLGĐ

Gia đình là nơi trú ngụ của hạnh phúc, cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
thơ, nơi trở về sau mỗi lần vấp ngã đối với mỗi con người. Nhưng trong nhiều
trường hợp, bạo lực đang trở thành một trong những nguy cơ biến gia đình
thành “địa ngục trần gian”. Dù ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào,
BLGĐ không chỉ để lại hậu quả về thể chất, tinh thần mà còn về mặt kinh tế xã hội. Tìm ra nguyên nhân của BLGĐ sẽ giúp chúng ta đưa ra các giải pháp
thiết thực để ngăn chặn, phòng chống vấn nạn này. BLGĐ xảy ra do nhiều
nguyên nhân khác nhau. Các nghiên cứu khác nhau tuy có đưa ra những điểm
khác nhau về nguyên nhân dẫn đến BLGĐ, nhưng nhìn chung các nghiên cứu
này đều thống nhất chỉ ra một số nhóm nguyên nhân cơ bản như sau:
Nhóm nguyên nhân về tâm lý và nhận thức

1.1.3.1.

Nhóm nguyên nhân về tâm lý và nhận thức bao gồm các nguyên nhân:
bất bình đẳng giới; quan niệm trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng; tâm
lý che dấu, cam chịu; học vấn thấp, nhận thức kém, không biết quyền, thiếu
hiểu biết luật pháp, không biết cách ứng xử phù hợp... Đây được xem là nhóm
nguyên nhân chính gây nên sự gia tăng và nghiêm trọng của tình trạng BLGĐ
hiện nay.
Nguyên nhân sâu xa của BLGĐ là do tư tưởng bất bình đẳng giới, lối xử
sự gia trưởng từng tồn tại ở nước ta. Từ lâu nay, chế độ phụ hệ, tư tưởng
“trọng nam, khinh nữ” kéo theo sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.
Trước đây, người phụ nữ bị hành hạ do sống phụ thuộc chủ yếu vào chồng.
Khi nền kinh tế thị trường, vai trò của phụ nữ có nhiều thay đổi và thành đạt
hơn chồng thế nhưng họ vẫn bị chồng ngược đãi. Bạo lực đối với phụ nữ
thường bị coi nhẹ như thể nó là điều hết sức bình thường trong xã hội, ngay
cả đối với chính những nạn nhân BLGĐ. Một điều tra khảo sát của Viện

bất đồng về quan điểm, lối sống.Thống kê cho thấy 60% nạn bạo hành gia
đình xảy ra sau khi người chồng uống rượu. Rượu hay các chất kích thích
khác sẽ làm giảm sự kiềm chế cũng như nhận thức của bản thân để phán đoán
đâu là đúng sai từ đó dẫn đến trạng thái dễ nóng nảy, cau có khó chịu, và có
những hành vi bạo lực.

15


Bên cạnh đó, những bất đồng về kinh tế, nuôi dạy con cái, tình dục quan
hệ hôn nhân... cũng là nguyên nhân dẫn đến bạo lực. Điều kiện kinh tế khó
khăn nói chung làm cho con người không còn bình tĩnh để ứng xử một cách
khôn ngoan, tình trạng bắt nạt thường xảy ra, khó khăn về kinh tế thường tạo
ra các áp lực, căng thẳng, bế tắc đối với thành viên gia đình và do đó dễ dẫn
tới các mâu thuẫn, tranh chấp nếu không biết cách xử lý phù hợp có thể gây
nên BLGĐ.
Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại cho thấy trong một số trường hợp thì
đây không phải là những nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân chính dẫn đến
BLGĐ. Nếu chúng ta đọc truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn
Minh Châu thì ta sẽ nhận thấy rằng nhhân vật chính của chuyện ngắn là một
người đàn bà làng chài có số phận bất hạnh, bà ta cũng phải hằng ngày sống
trong nghịch cảnh BLGĐ, hằng ngày, bà thường xuyên bị chồng đánh bằng
dây thắt lưng to. Nhiều lúc người đàn bà chỉ ước “giá mà lão uống rượu… thì
tôi đỡ khổ” bởi lẽ uống rượu thì sẽ không đánh vợ. Thực tế thấy rằng nhiều
người đàn ông không uống rượu nhưng vẫn đánh vợ, đánh con . Có người chỉ
uống rượu và đánh vợ con, đập phá đồ đạc chứ không đánh bất kỳ người nào
khác (một người bất kỳ, bạn bè hoặc sếp của anh ta). Điều đó có nghĩa là anh
ta xác định việc sử dụng bạo lực chỉ đối với người vợ con anh ta. Rượu chỉ là
cái lý do ngụy biện cho cái hành vi bạo lực của người chồng khiến họ mất tự
chủ và gây ra bạo lực.

phương chỉ mang tính chất nhất thời, mờ nhạt. Các quy định của pháp luật
không được tuân thủ một cách nghiêm túc và toàn diện. Một số cơ quan, cá
nhân có thẩm quyền không nhận thức được vai trò và trách nhiệm của họ
trong việc phòng, chống BLGĐ.Chính vì vậy, phản ứng của cộng đồng đối
với các hành vi BLGĐ còn thờ ơ, chưa mạnh mẽ. Việc phòng ngừa, phát hiện,
ngăn chặn và xử lý hành vi BLGĐ còn chưa kịp thời, nghiêm minh, vì thế bạo
lực vẫn tiếp tục xảy ra mà không bị ngăn chặn.
1.1.4. Ảnh hưởng của BLGĐ

Đối với nạn nhân

1.1.4.1.

Về sức khỏe thể chất: Sức khỏe bị hủy hoại, bị gây thương tích đau đớn,
có thể bị tàn tật suốt đời, có thể dẫn đến tử vong.
Đối với phụ nữ, hơn 60% phụ nữ đã từng bị chồng bạo lực cho rằng họ
đã bị ảnh hưởng tới sức khỏe ví dụ như: Bị những vết cào cấu, trầy da, bầm
tím (chiếm 88,9%), bị rách màng nhĩ, tổn thương ở mắt (chiếm 12,9%) và 7,3
% bị thương tích do các vết cắt sâu hoặc các vết thương dài và sâu. Những
17


hình thức bạo lực thô bạo như: kéo tóc, bóp cổ... tuy không để lại những vết
thương sâu như những hành vi khác nhưng gây ảnh hưởng mạnh tới sức khỏe
tâm thần của người bị bạo lực gây mắc các bệnh như tim mạch, mất hoặc suy
giảm trí nhớ, giảm khả năng tập trung [29].
Đối với trẻ em, cơ thể trẻ đang phát triển mọi hành vi bạo lực đối với trẻ
đều ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự phát triển thể chất của trẻ. Bên cạnh đó
hành vi bạo lực làm cho tinh thần trẻ sa sút cũng là nguyên nhân làm cản trở
sự phát triển thể chất ở trẻ. Bạo hành cũng làm trẻ không thể phát triển về thể

viên gia đình còn phải chịu trác nhiệm trước pháp luật. Những trường hợp nhẹ
thì họ có thể bị xử phạt hành chính, còn những trường hợp nặng hơn, hành vi
của họ tàn độc và gây hậu quả nghiêm trọng thì họ có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự. Lúc đó một loạt các hệ lụy tiếp theo sẽ xảy ra.
Đối với gia đình và xã hội

1.1.4.3.

BLGĐ làm xói mòn đạo đức, mất tính dân chủ xã hội và ảnh hưởng đến
thế hệ tương lai. Ở nhiều gia đình, thế hệ con đã lặp lại hành vi BLGĐ mà khi
còn nhỏ, chúng được chứng kiến. BLGĐ đang là nguy cơ gây tan vỡ và suy
giảm sự bền vững của gia đình Việt Nam.
Theo thống kê của Tòa án Nhân dân tối cao, trung bình một năm trên cả
nước có khoảng 8.000 vụ ly hôn có nguyên nhân từ BLGĐ. Số liệu khảo sát
điều tra xã hội học cho biết: BLGĐ ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách
của trẻ chiếm 91,0%, gây tổn hại về sức khỏe, thể chất: 87,5%, gây tổn
thương về tâm lý, tinh thần: 89,4%, gây tan vỡ gia đình: 89,7% và làm rối
loạn trật tự, an toàn xã hội: 89% [31].
BLGĐ ở Việt Nam cũng làm gia tăng số trẻ em vi phạm pháp luật. Số
liệu thống kê của Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao 2008 cho thấy 71% trẻ vị
thành niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đúng mức.
Nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ
phạm tội có bố mẹ ly hôn, 49% phàn nàn về cách đối xử của bố mẹ. Vụ án bé
Hào Anh là một minh chứng rõ nhất cho điều này.
Theo số liệu điều tra 2.209 học viên các trường giáo dưỡng, có tới
49,81% trong số này sống trong cảnh bị đối xử hà khắc, thô bạo, độc ác của
bố mẹ. Số em bị bố đánh chiếm 23% (gấp 6 lần mẹ đánh); bị dì ghẻ, bố dượng
đánh chiếm 20,3%. BLGĐ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng tới xã hội và gia
đình [35].Từ đó những hậu quả này chất thêm gánh nặng cho hệ thống y tế
quốc gia, hệ thống giáo dục, và cả cơ quan tư pháp.

rõ nghĩa vụ của Nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, bảo
đảm cho trẻ em phát triển bình thường, toàn diện.
Hiến Pháp 1992 hoàn thiện hơn điều 64 của Hiến pháp 1980 với việc bổ
sung nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình đối với nhau “Cha mẹ có
trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận
kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”.
20


Với việc Hiến Pháp 1992 được thông qua và có hiệu lực là một cơ sở
pháp lý cho sự ra đời hàng loạt các văn bản pháp luật có ý nghĩa pháp lý to
lớn trong việc, đảm bảo chế độ hôn nhân gia đình, phòng chống BLGĐ. Có
thể kể đến như là Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, Bộ Luật Hình sự 1999,
Luật về Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004, Luật Bình đẳng giới
2006, Luật Phòng, chống BLGĐ 2007, Luật Người Cao tuổi 2009…
Và mới đây nhất chính là Hiến pháp 2013 được thông qua tạo cơ sở cho
một loạt văn bản pháp luật mới ra đời như: Luật Hôn nhân và Gia đình 2014,
Luật Hình sự 2015,…
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát thì các quy định trong các văn bản
này còn tản mạn sơ sài, thiếu tính cụ thể chi tiết. Để khắc phục những hạn chế
của hệ thống pháp luật phòng, chống BLGĐ, tạo ra một cuộc tiên phong trong
việc đẩy lùi các hành vi bạo hành sử dụng vũ lực gia đình, ngày 21 tháng 11
năm 2007 tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam khoá XII đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực trong gia gồm 6
chương với 46 điều có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể chế hóa chủ trương của
Đảng, Nhà nước về phòng, chống BLGĐ, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ
của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về
Quyền con người mà nước ta là thành viên, thực hiên CEDAW, Công ước
Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em …
Luật định nghĩa cụ thể hành vi BLGĐ, đó là: “hành vi cố ý của thành

Như vậy, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống BLGĐ có
thể bị xử lý bằng các biện pháp khác nhau, bao gồm:
Xử lý kỷ luật

1.2.2.1.

Hình thức xử lý kỷ luật được áp dụng với những người là cán bộ, công
chức theo quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, đã có hành
vi vi phạm Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các
hình thức kỷ luật đối với cán bộ bao gồm: Khiển trách; Cảnh cáo; Cách chức;
Bãi nhiệm. Các hình thức kỷ luật đối với công chức bao gồm: Khiển trách;
Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc.
Cán bộ, công chức không chỉ chiếm số lượng lớn mà còn là đối tượng có
khả năng gây ảnh hưởng tới đời sống xã hội. Việc pháp luật quy định về việc
kỷ luật cán bộ, công chức có hành vi BLGĐ là cơ sở để thực thi công tác
phòng, chống BLGĐ một cách có hiệu quả.
22


Xử lý hành chính

1.2.2.2.

Những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
phòng, chống BLGĐ đã được ghi nhận tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP
ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,
trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy;
phòng, chống BLGĐ. Nghị định này thay thế Nghị định số 110/2009/NĐ-CP
ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng,
chống BLGĐ, theo đó quy định rất chi tiết về phạm vi điều chỉnh, đối tượng


Căn cứ theo các quy định trong Bộ luật Hình sự 1999, các biểu hiện của
hành vi khách quan và sự phân nhóm tội phạm mang tính chất BLGĐ như
trên, thì có thể sắp xếp những quy định trong BLHS hiện hành theo bảng sau:
Các tội danh danh được quy định
trong BLHS 1999
Điều 104. Tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
Vũ lực
người khác.
Điều 110. Tội hành hạ người khác.
Điều 111. Tội hiếp dâm.
Điều 112. Tội hiếp dâm trẻ em.
Nhóm 1: Tội phạm
Điều 113. Tội cưỡng dâm.
Giao cấu
mang tính chất BLGĐ
Điều 114. Tội cưỡng dâm trẻ em.
sử dụng hành động.
Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em.
Điều 116. Tội dâm ô đối với trẻ em.
Điều 146. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc
cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Hành
Điều 151. Tội ngược đãi hoặc hành hạ
động khác
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu,
người có công nuôi dưỡng mình.
Nhóm 2: Tội phạm
Điều 121. Tội làm nhục người khác.

kịp thời xử lý những hành vi sai trái. Theo số liệu thống kê, từ năm 2008 đến
cuối năm 2015 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa xảy ra 1.795 vụ BLGĐ. Trong
đó: bạo lực thân thể 1.125 vụ, bạo lực tinh thần 488 vụ, bạo lực tình dục 06
vụ, bạo lực kinh tế 176 vụ. Nạn nhân bị BLGĐ chủ yếu là đối tượng yếu thế
như: phụ nữ và trẻ em 1.736 vụ. BLGĐ xảy ra nhiều nhất ở khu vực nông
thôn, miền núi mà đối tượng chủ yếu là phụ nữ [3].
Nội dung
thống kê
Tổng số vụ
BLGĐ
Hình thức
BLGĐ
Tinh thần
Thân thể
Tình dục
Kinh tế

Năm thống kê
Năm 2014
Nôn
Tổng Thành Nông Tổng Thành
g
số
thị
thôn
số
thị
thôn

Tổng Thành Nông

85
0
07

99
154
1
28

11
21
0
8

88
133
1
20

53
223
1
32

24
41
0
13

29

Nam

Nữ

Dưới 16
tuổi

8

201

5

Từ 1659 tuổi
142

Từ 60
tuổi trở
lên
5



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status