Đánh giá hiệu quả chăn nuôi hươu sao ở xã sơn giang, hương sơn, hà tĩnh - Pdf 36

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
------------------

KHÓA LUẬN
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI HƯƠU SAO Ở
XÃ SƠN GIANG, HƯƠNG SƠN, HÀ TĨNH

Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS Trần Văn Hòa
SVTH: Nguyễn Thị Loan
Lớp: K46B - KTNN
Huế, 04/2014
1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC BẢNG

3


4


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ



Nai, Phú Yên, Hà Giang…Đến nay, trên địa bàn huyện hươu sao là loại vật nuôi cho
thu nhập ổn định và cao hơn so với các loài gia súc khác, là đối tượng được chú trọng
đầu tư phát triển. Xã Sơn Giang là một trong những xã đi đầu về chăn nuôi hươu sao
của huyện, hằng năm đưa về nguồn thu nhập cao cho bà con, góp phần nâng cao thu
nhập và ổn định đời sống cho người dân nơi đây. Tuy nhiên, do hươu được xem là đối
tượng bán thuần dưỡng nên việc nuôi còn gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật chăn nuôi
cũng như các yếu tố về tổ chức sản xuất. Vấn đề đặt ra hiện nay ở xã Sơn Giang nói
riêng và toàn huyện Hương Sơn nói chung là cần làm gì để đẩy mạnh và phát triển
chăn nuôi hươu đạt hiệu quả cao, đúng với vai trò và tầm quan trọng của nó trong cơ
cấu kinh tế của huyện. Xuất phát từ vấn đề này, tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiệu
quả chăn nuôi hươu sao ở xã Sơn Giang, Hương Sơn, Hà Tĩnh” để nghiên cứu và
hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng chăn nuôi hươu sao trên địa bàn xã, đánh giá hiệu quả, xác
định những thuận lợi cũng như khó khăn trong chăn nuôi hươu sao. Đề ra những giải
pháp, định hướng phát triển để hoạt động chăn nuôi có hiệu quả hơn.
1.2.2.Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiệu quả chăn nuôi hươu trên địa bàn xã Sơn Giang.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi hươu sao.
- Đề xuất giải pháp và định hướng phát triển trong tương lai.
1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1.Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề về kinh tế - xã hội liên quan đến chăn nuôi và phát triển
hươu sao ở các nông hộ tại xã Sơn Giang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
1.3.2.Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: xã Sơn Giang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Về nội dung:

Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để phân chia
tổng thể thành các tổ có tính chất khác nhau. Phân tổ thống kê được chia theo các tiêu
thức gọi là tiêu thức thống kê, được lựa chọn làm căn cứ phân tổ, tiêu thức phân tổ
được chia làm hai loại là thiêu thức số lượng và tiêu thức thuộc tính.
Ở đề tài này tôi tiến hành phân tổ theo tiêu thức số lượng đó là quy mô chăn nuôi:

-

Quy mô nhỏ: 1-5 con
Quy mô vừa 6-10 con
Quy mô lớn >10 con
1.4.3.Phương pháp so sánh
Là phương pháp dùng để đánh giá các mặt phát triển hay kém phát riển, sự tăng
giảm, hiệu quả hay không hiệu quả. Từ đó tìm ra các định hướng và giả pháp tối ưu
trong mỗi trường hợp cụ thể

7


PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNGI: CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ
CHĂN NUÔI HƯƠU SAO
1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1.Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1.Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế
sản xuất hàng hóa. Hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá, lựa chọn các
phương án hành động. Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác
nhau: Hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp,
hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối…Ngày nay, khi đánh giá

phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất
đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm.
HQ phân phối (hiệu quả giá) là chỉ tiêu HQ trong đó các yếu tố giá sản phẩm và
giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí
thêm về đầu vào. Khi nắm được giá các yếu tố đầu vào, đầu ra, người ta sẽ sử dụng
các yếu tố đầu vào theo một tỉ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa. Thực chất của
HQ phân phối chính là HQ kỹ thuật có tính đến giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra,
hay chính là HQ về giá.
Theo TS Nguyễn Tiến Mạnh: “HQKT là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh
trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định”. Mục tiêu ở đây có
thể tùy vào từng lĩnh vực sản xuất, tùy vào từng doanh nghiệp. Tuy nhiên mục tiêu cao
nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Để làm được điều này doanh nghiệp cần
phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiêt
bị, nguyên vật liệu, vốn…)
Như vậy, mặc dù còn có rất nhiều những quan điểm khác nhau về HQKT nhưng
chung quy lại chúng ta có thể hiểu: HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm
đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.
1.1.1.2.Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách lấy kết quả thu được chia
cho chi phí bỏ ra (dạng thuận) hoặc lấy chi phí bỏ ra chia cho kết quả thu được (dạng
nghịch).
9




Dạng thuận: Hiệu quả kinh tế được xác đinh bằng tỉ số giữa kết quả thu được và chi
phí bỏ ra H = Q/C
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế (lần)

10


vị kết quả tăng thêm. Hay nói cách khác để tăng thêm một đơn vị đầu ra cần bổ sung
thêm bao nhiêu đơn vị đầu vào.
Có nhiều phương pháp xác định Hiệu quả kinh tế, mỗi cách đều phản ánh một
khía cạnh nhất định về hiệu quả. Vì vậy, tùy vào mục đích nghiên cứu, phân tích và
thực tế mà lựa chọn phương pháp nào sao cho phù hợp.
1.1.1.3.Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả
a. Chỉ tiêu đánh giá kết quả


Tổng giá trị sản xuất (GO): Là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm của
một đơn vị san xuất, trong một thời gian xác định (thường là 1 năm).
GO= Σ(Qi*Pi)
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm i
Pi là giá loại sản phẩm i
Trong điều kiện sản xuất có sản phẩm phụ thì công thức tính là:
GO = Σ QiPi + qipi
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm i
Pi là đơn giá sản phẩm loại i
qi là khối lượng sản phẩm phụ loại i
pi là đơn giá sản phẩm phụ loại i

-

Chi phí sản xuất chi trả trực tiếp bằng tiền (C bt): là toàn bộ chi phí bằng tiền của hộ
dùng để tiến hành sản xuất kinh doanh, bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp (C tt), lãi tiền

-

các khoản chi phí tự có của hộ (C h), hay chính là bằng tổng giá trị sản xuất (GO) trừ đi
tổng chi phí sản xuất của hộ (TC):
NB = MI - Ch
NB = GO - TC
b. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
+ GO/Cbt: Cứ một đồng chi phí sản xuất bỏ ra thu được bao nhiêu đồng giá trị sản
xuất.
+ GO/TC: Cứ một đồng tổng chi phí bỏ ra (bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp chi
trả bằng tiền và chi phí tự có của gia đình) thì thu được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất.
+ MI/Cbt: Cứ một đồng chi phí sản xuất bỏ ra thu được bao nhiêu đồng thu nhập
hỗn hợp.
+ MI/TC: hiệu quả sử dụng vốn, cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì tạo ra bao
nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp.
+ NB/TC: Cứ một đồng tổng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận
kinh tế ròng.
1.1.2.Vai trò, đặc điểm của chăn nuôi hươu sao
1.1.2.1.Vai trò của chăn nuôi hươu sao

 Giới thiệu về hươu sao

Hươu sao có tên khoa học là Cervus nippon Temminck, lớp thú, bộ ngón chẵn,
họ hươu nai. Là loài thú quý hiếm, trong tự nhiên hầu như không còn nhưng đã được
thuần dưỡng phục hồi số lượng. Ở Việt Nam, hươu đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam
năm 2000.
 Đặc điểm sinh học của hươu

+ Hình thái: Hươu sao nhỏ hơn nai và lớn hơn hoẵng. Thể chất nhẹ nhàng, cân
đối, dài và mảnh. Đầu nhỏ, cổ dài, tai thường dài hơn đuôi, lông có màu vàng đậm,
màu con cái thường nhạt hơn con đực. Trên nền vàng có rải rác những đốn trắng gọi là
“sao”, độ lớn của những chấm này nhỏ dần về phía sau lưng và lớn hơn về phía bụng.


+ Cung cấp dược liệu quý để làm thuốc: Hầu như tất cả các bộ phận của hươu
đều dược sử dụng để làm thuốc mà quý nhất thì phải kể đến nhung hươu. Các nhà
khoa học đã nghiên cứu thành phần hóa học của nhung, đã xếp nhung hươu là một vị

13


thuốc quý. Nhung đã được chính phủ cho phép sản xuất thành các vị thống bán rộng
rãi trên toàn quốc.
Nhung hươu có tác dụng tốt đối với toàn thân: nâng cao thể lực, giúp ăn ngủ tốt
hơn,bớt mệt mỏi, những vết thương nhanh chóng lành hơn, lợi tiểu…Thầy thuốc Việt
Nam còn dùng nhung hươu kết hợp với một số vị thuốc khác để chữa bệnh liệt dương,
miệng khô, đau lưng
Các sản phẩm khác như gạc hươu, xương hươu và các bộ phận khác đều có thể
sử dụng để làm thuốc rất hữu hiệu.
+ Cung cấp thịt cho tiêu dùng: Dinh dưỡng của hươu khá cao tương ứng với giá
trị dinh dưỡng của nhiều loài vật nuôi khác. Thịt của nó ngon, bổ dưỡng, ăn vào có tác
dụng bổ trung ít khí, mạnh gân cốt.
+ Cung cấp các sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp và dịch vụ.
Da có thể cung cấp cho các ngành công nghiệp thuộc da, là nguồn nguyên liệu
cung cấp cho các ngành dân dụng như cặp da, móng gạc hươu làm các đồ mỹ nghệ,
hươu nuôi ở các vườn bách thú phục vụ du lịch tham quan, sinh thái.
+ Mang lại nguồn thu nhập cho các hộ gia đình, tạo công ăn việc làm cho nhiều
lao động nhàn rỗi.
1.1.2.2.Đặc điểm về chăn nuôi hươu sao ở Việt Nam


Hình thức chăn nuôi
+ Hình thức nuôi nhốt hoàn toàn

măng chắc chắn. Hươu được thả tự do trong mỗi ô, được tự do đi lại, trong mỗi ô như
vậy có hệ thống máng ăn, nước uống, chổ nghỉ ngơi cho hươu. Hàng ngày, theo giờ
quy định người nuôi đem thức ăn, nước uống và kiểm tra tình hình sức khỏe, mức độ
đi lại và vệ sinh chuồng trại cho hươu. Hình thức nuôi này rất phù hợp với đặc tính
hoang dã của hươu sao, làm môi trường sinh thái của vật nuôi được mở rộng, bên cạnh
đó thì cũng dễ cho việc chăm sóc và kiểm tra hàng ngày.


Kỹ thuật chăn nuôi hươu của hộ nông dân
+ Chuồng trại
Như chúng ta đã biết, hươu sao là một loài động vật hiền lành, tuy nhiên yêu cầu
đối với chuồng trại lại đòi hỏi sự chắc chắn, nhất là đối với chăn nuôi hươu đực. Tùy
theo quy mô nuôi nhỏ hay lớn để chuẩn bị chuồng trại. Nếu chỉ nuôi với quy mô nhỏ
với một vài con hươu giống thì việc làm chuồng cho chúng không mấy khó khăn
nhưng nếu nuôi với quy mô lớn từ vài chục con trở lên thì việc làm chuồng trại phải
15


hết súc kĩ lưỡng và cẩn thận. Nếu làm cẩu thả, sơ sài và không tính toán khoa học thì
việc chăn nuôi sẽ gặp nhiều khó khăn sau này.
+ Giống
Giống là yếu tố quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại của hộ nông
dân trong chăn nuôi hươu sao. Chính vì vậy, việc lựa chọn hươu giống là vấn đề rất
đáng chú ý. Khi chọn hươu giống cần chú ý các điểm sau:
- Chọn hươu đực giống: hươu đực giống tốt cần đảm bảo các tiêu chuẩn như có
sức khỏe tốt, có năng suất sản xuất nhung cao (từ 0,8 – 1,5 kg/năm trở lên). Con giống
phải tốt, đẹp, khi sơ sinh phải đạt từ 6kg trở lên. Lông mượt, măt rộng, vừng trán nhô
cao, hai xoáy trán cao và cách xa nhau. Chân ngắn vừa phải và mập mạp, luôn đi bằng
bốn ngón chân.
- Chọn con giống cái: Vì có chức năng cơ bản là sinh sản nên khi chọn con cái


Thức ăn tinh
(kg)

Muối ăn (g)


Hươu từ 3 – 12 tháng
tuổi
Hươu đực, cái (không
mang thai), hươu hậu bị
(trên 12 tháng), hươu
cái mang thai thời kì
đầu
Hươu cái mang thai thời
kì 3 -4 tháng
Hươu cái nuôi con
Hươu đực mọc nhung

(kg)
5- 8

1,0

0,10

5 – 10

8 -12


Tuy hươu là loài động vật ăn tạp nhưng thức ăn chế biến phải sạch và không bị
mốc thối. Tùy theo từng giai đoạn phát triển của hươu mà xác định khẩu phần, liều
lượng thức ăn cho phù hợp, đảm bảo cho hươu phát triển tốt và khỏe mạnh.
+ Quy trình cắt nhung hươu
Cắt nhung qua 3 thời kì: trái mơ, yên ngựa, gác vào. Người ta thường cắt nhung
vào thời kì yên ngựa là thích hợp nhất, thường là từ 45 – 60 ngày. Quá trình cắt nhung
phải nhanh gọn và phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ từ trước. Cắt nhung hươu bao
gồm các khâu: chuẩn bị dụng cụ cắt, bắt hươu để cắt nhung, cắt nhung và cầm máu

-

cho hươu.
+ Các phương pháp bảo quả và chế biến nhung
Phương pháp sấy nhung từ tươi sang nhung nhánh khô
Nhung chứa rất nhiều máu vì thế nên sau khi cắt nếu không được bảo quản hay
chế biến ngay thì nhung sẽ bị thối, kém chất lượng hoặc là hư hỏng. Sau khi cắt nhung
tươi từ hươu ra người ta đưa vào sấy ngay hoặc chậm nhất là 2 giờ. Khi sấy, nhung bị
mất nước nên phải sấy làm sao cho hình dạng của nhung bên ngoài thay đổi nhưng vẫn
giữ nguyên được lớp lông trên nhung. Nhung sẽ bảo quản được lâu và không bị hư
hỏng nếu như sấy tốt và đúng cách. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp chế biến và
bảo quản nhung nhưng tùy vào từng địa phương, từng điều kiện cụ thể mà có những

-

phương pháp phù hợp.
Phương pháp sấy bằng than
17


Dùng loại cỏ lá dài, sắc (hươu thường ăn) quấn chặt nhung rồi treo giữa 2 liếp than

cơ hội phát triển chăn nuôi hươu hơn, tăng sản lượng nhung, hươu con, nâng cao hiệu
quả cho nông hộ.
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi hươu, nhất là
nguồn nước và thức ăn. Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì đàn hươu có thể phát
triển tốt, cho sản lượng nhung cao, hươu con tốt, mang lại hiệu quả cao và ngược lại.
 Nhóm yếu tố về kinh tế và tổ chức quản lí xã hội

18


+ Vốn
Vốn là cơ sở để đảm bảo cho hộ nông dân có tư liệu sản xuất và vật tư, nguyên
liệu để sản xuất kinh doanh. Chăn nuôi hươu cần có một lượng vốn tương đối lớn vì
phải có chi phí làm chuồng trại, chi phí mua con giống, …Để chăn nuôi hươu đạt hiệu
quả cao thì quy mô của hộ phải đủ lớn nên vốn là yếu tố quyết định quan trọng.
+ Thiết bị, công cụ sản xuất
Công cụ lao động là cần thiết đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật chăn
nuôi hươu của hộ. Muốn nuôi hươu có hiệu quả cao thì cần phải có một hệ thống công
cụ sản xuất phù hợp và khoa học.
+ Trình độ học vấn và kinh nghiệm
Để tiếp thu được các tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm chăn nuôi hươu
tiên tiến thì người nuôi cần phải có trình độ và các kỹ năng cơ bản. Trong chăn nuôi
hươu, người nuôi phải giỏi về kỹ thuật, chuyên môn và có kinh nghiệm để mạnh dạn
áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào chăn nuôi để mang lại hiệu quả cao.
+ Thị trường tiêu thụ
Nhu cầu thị trường quyết định đến hộ nuôi với số lượng sản phẩm bao nhiêu?
Chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường như hiện nay các hộ nông dân có thể
hoàn toàn lựa chọn các loại hàng hóa mà thị trường cần mà họ có thể đáp ứng được.
Các hộ phải căn cứ vào nhu cầu thị trường để đưa ra những phương án, kế hoạch phát
triển chăn nuôi để đạt hiệu quả cao.

Vườn quốc gia Cúc Phương. Năm 1967 – 1969, một số hươu sao ở Cúc Phương đã
được chuyển đến Ninh Bình, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Quảng Ninh để góp phần giữ
giống và nhân giống. Hươu nuôi ở các địa phương này cũng phát triển mạnh, tăng
nhanh về số lượng và chất lượng. Số lượng hươu đến cuối năm 2007 trên địa bàn
huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) khoảng 8.000 con, Hương Sơn (Hà Tĩnh) khoảng 16.000
con. Hươu chủ yếu nuôi trong nông hộ. Có 2 trại nuôi tập trung là trại hươu xã Quỳnh
Vinh (Quỳnh Lưu) có 80 – 100 con và Xí nghiệp giống hươu Hương Sơn 200 con. Sản
phẩm của hươu sao chủ yếu sử dụng để làm “thuốc”.
Tuy nhiên ở các nước phương Tây, New Zeland, Australia người ta xem trọng
thịt hươu. Lý do vì thịt hươu nhiều nạc, ít mỡ và được cho là thịt “an toàn” đối với sức
khoẻ con người. Nước Đức mỗi năm tiêu thụ 40 – 50 tấn. Các nước khác cũng ăn thịt
hươu như Thụy Sỹ, Mỹ, các nước Liên minh châu Âu. Ngay người Canada bấy lâu vẫn
xem hươu như là một động vật giải trí (dùng cho săn bắn) thì nay đã có xu hướng nuôi

20


hươu lấy thịt. Ở nước ta thịt hươu cũng được khen là ngon “vị ngọt, tính ấm, bổ trung,
ích khí, mạnh gân cốt”.
1.4.2.Lịch sử hình thành và phát triển ngành chăn nuôi hươu sao ở huyện
Hương Sơn
So với việc phát triển chăn nuôi các loài gia súc truyền thống, thì hươu sao trở
thành vật nuôi muộn hơn so với các vật nuôi khác. Ở Hương Sơn, hươu sao được chăn
nuôi từ thập niên 60 – 70 của thế kỷ 18. Trong một thời gian dài với số lượng ít, quy
mô chăn nuôi nhỏ nên hươu sao đã trở thành vật nuôi “quý tộc” của người dân Hương
Sơn. Từ năm 1985 hươu sao mới được người dân chú ý đầu tư, phát triển tại các hộ gia
đình có điều kiện kinh tế khá giả, từ đó đàn hươu dần được tăng lên. Năm 1986, xí
nghiệp hươu giống Hương Sơn được thành lập (nay là công ty cổ phần hươu giống
Hương Sơn), đưa tổng số đàn hươu trên địa bàn huyện lên tới 5.000 con. Từ năm 1986
đến 1993 đàn hươu tăng trưởng bình quân mỗi năm từ 5 – 7%.


CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1.Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Sơn Giang
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Sơn Giang là một xã miền núi nằm ở phía Tây của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh, phía Bắc giáp xã Sơn Lâm, phía Nam giáp thị trấn Phố Châu, phía Đông giáp xã
Sơn Trung, phía Tây giáp xã Sơn Quang.
Địa bàn xã nằm dọc theo con song Ngàn Phố, vì vậy mà xã có lợi thế về sản xuất
lúa nước và tưới tiêu cho hoa màu. Mặt khác xã gần kề với trung tâm huyện cho nên
rất thuận tiên cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá nông sản.
2.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Nằm ở khu vực trung bộ nên xã Sơn Giang chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu
gió mùa đông bắc, gió tây nam. Hàng năm thường xẫy ra hạn hán và giá rét, đặc biệt
những năm gân đây lũ lụt thường xuyên xẫy ra do nằm kề con sông Ngàn Phố.
Giữa các mùa trong năm có sự biến thiên lớn về nhiệt độ, những tháng có nhiệt
độ cao nhất trong năm là tháng 6, tháng 7 và tháng 8, tháng có nhiệt độ thấp nhất trong
năm là tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 - 28 0C. Sự
chênh lệch về nhiệt độ đã làm ảnh hướng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của
cây trồng, vật nuôi.
Mùa nắng được bắt đầu vào tháng 4 đến cuối tháng 9, trong thời gian này kết hợp
với gió tây nam làm cho nhiệt độ có lúc lên đến 39 - 40 0C, đồng thời gây hạn hán, cây
trồng bị héo và chết ảnh hướng lớn đến năng suất cây trồng.
Lượng mưa hàng năm khá lớn (3.000 - 4.500 mm/năm) và thường xuyên kèm
theo lũ lụt gây ra úng. Độ ẩm trung bình 75 - 80%/năm. Vào mùa đông nhiệt độ xuống
thấp gây ra rét giá, thường xẫy ra hiện tượng sương muối làm cho cây trồng và hoa
màu bị ảnh hưởng đến chu kỳ sinh trưởng và phát triển.
2.1.1.3 Địa hình và đất đai
Xã Sơn Giang là vùng bán sơn địa, địa hình không được bằng phẳng, đất đai còn
manh mún, không liền vùng liền thửa, nhưng ở Sơn Giang còn nhiều diện tích đồi núi

* Giao thông
Với hơn 25 km đường thôn xóm, trong đó có 19,7 km đường đã được bê tông
hoá, đường thôn xóm ngày càng được mở rộng và nâng cấp. Đường liên xã từ thị trấn
Phố Châu đến xã Sơn Giang và xã Sơn Lâm dài 4,5 km đã được nhựa hoá, từ xã Sơn
24


Quang đến xã Sơn Giang và xã Sơn Trung nối với đường Hồ Chí Minh dài 2,8 km
cũng đã và đang được nhựa hoá. Là xã có nhiều khe suối, hồ đập nên việc xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ cho giao thông và tưới tiêu là cần thiết.
* Thuỷ lợi
Xã đã được nhà nước đầu tư xây dựng một đập tự chảy (Đập Cao Thắng) với lưu
lượng nước đảm bảo với hơn 150 ha thuộc địa bàn xã Sơn Giang và xã Sơn Trung, hệ
thống kênh mương với hơn 8 Km mương cứng.
Là xã thường xuyên bị thiên tai lũ lụt, do đó hàng năm phải đầu tư vốn lớn để tu
sữa và cải tạo hệ thống kênh mương nội đồng.
* Đường điện
Xã đã xây dựng được 3 trạm biến áp với công suất 320KVA và đã xây dựng
22km đường điện hạ thế bằng cột bê tông, 100% dân cư đã có điện thắp sáng. Do vậy
mà nhu cầu về mặt tinh thần, vui chơi giải trí, thông tin kinh tế xã hội được tiếp cận
với người dân một cách đầy đủ, làm cho sự hiểu biết về khoa học kỷ thuật, về cách
làm ăn mới đang được người dân tiếp cận. Ngành nghề dịch vụ cho sản xuất và chế
biến cũng được mở rộng, các loại hình sản xuất đa dạng và phong phú hơn.
* Thông tin liên lạc
Xã đã xây dựng được một điểm Bưu điện văn hoá phục vụ nhu cầu dân cư về
thông tin liện lạc, sách báo, tạp chí, đặc biệt là các loại sách hướng dẫn kỷ thuật trồng
trọt, chăn nuôi, nâng cao kiến thức được người dân đặc biệt chú ý. Toàn xã có 130 máy
điện thoại bàn và hơn 1.400 máy điện thoại di động, hệ thống mạng Internet đã được
kéo đến tận nhà dân đáp ứng nhu cầu thôn tin liên lạc của người dân.
* Giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status