LỜI NÓI ĐẦU
Động cơ đốt trong ngày nay đang phát triển rất mạnh mẽ cả về số lượng
lẫn chất lượng, nó đóng một vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh tế, xã
hội, khoa học công nghệ... Là nguồn động lực cho các phương tiện vận tải như
ôtô, máy kéo, tàu thuỷ, máy bay và các máy động cơ cở nhỏ v.v..
Đối với một sinh viên kỹ thuật, đồ án tốt nghiệp đóng một vai trò rất quan
trọng. Đề tài tốt nghiệp được thầy giao cho em là khảo sát hệ thống phân phối
khí trên động cơ Uaz. Tuy là một đề tài quen thuộc đối với sinh viên nhưng mục
đích của đề tài rất thiết thực, nó không những giúp cho em có điều kiện để
chuẩn lại các kiến thức đã học ở trường mà còn có thể hiểu biết kiến thức nhiều
hơn khi tiếp xúc với thực tế. Hệ thống phân phối khí của động cơ Uazcó nhiều
đặc điểm mới lạ. Do đó việc khảo sát động cơ này thật sự đã đem đến cho em
nhiều điều hay và bổ ích.
Được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của thầy Bùi Việt Đức, các thầy
cô trong khoa cùng với việc tìm hiểu, tham khảo các tài liệu liên quan và vận
dụng các kiến thức được học, em đã cố gắng hoàn thành đề tài này. Mặc dù vậy,
do kiến thức của em có hạn lại thiếu kinh nghiệm thực tế nên đồ án sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót. Em mong các thầy cô góp ý, chỉ bảo thêm để kiến
thức của em ngày càng hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn "Bùi
Việt Đức” cùng các thầy cô trong khoa và các bạn đã nhiệt tình giúp đỡ để em
có thể hoàn thành đồ án này.
Sinh viên thực hiện
A.Cấu tạo và nguyên lý làm việc của cơ cấu phân phối khí:
1.Cấu tạo :
Hình 3 : Cơ cấu phối khí của động cơ UAZ
của xupap bị
tróc rỗ, ăn mòn
hoá học.
Do va đập với ổ đặt, làm
việc ở nhiệt độ cao, tiếp
xúc với dòng khí thải có
tốc độ lớn và chứa nhiều
chất ôxy hoá.
Làm cho xupap đóng
không kín công suất của
đông cơ bị giảm, suất tiêu
hao nhiên liệu tăng.
2.
Xupap bị cháy
xám.
Do tiếp xúc trực tiếp với
khí cháy ở nhịệt đô, áp
suất cao.
Làm hư hỏng nhanh
xupap.
3.
Nấm xupap bị
bị kẹt, treo. Nừu gãy làm
nấm rơI vào buồng đốt
ảnh hưởng nghiêm trọng
tới động cơ.
5.
Đuôi xupap bị
mòn, tòe.
Do va đập với đầu cò
Thay đổi góc pha phối
mổ, con đội, làm việc lâu khí, ảnh hưởng trực tiếp
ngày.
đến góc mở sớm đóng
muộn, tới quá trình nạp
đầy thảI sạch của động
cơ.
b.Kiểm tra
- Làm sạch nấm xupáp dùng dao cạo hết muội than và dùng bàn chải sắt
làm sạch (Hình2.1).Đo bề dày của nấm xupáp: bề dày tối thiểu yêu cầu, độ cong
của thân xupáp, độ mòn bề mặt tiếp xúc của nấm xupáp bằng đồng hồ so, đo khe
hở của nấm xupáp là 1 (mm) để có thể mài lại bề mặt làm việc của nó. Nếu như
bề dày nhỏ hơn 1(mm) cần phải thay xupáp mới (Hình 2.2).
Nấm xả
102,25 (mm)
Tối thiểu
: Nấm hút 101,50 (mm
Nấm xả101,75 (mm)
Góc vát tán nấm 45
0
c.Sửa chữa
- Thân xupáp bị mòn rà lại, mài lại.
- Dùng mắt quan sát bề mặt tiếp xúc của xupáp với ổ đặt mà bị rỗ ít thì
dùng bột rà để rà lại.
- Thấy rỗ nhiều ta đưa lên máy mài chuyên dùng để mài. Sau đó rà lại bằng bột
rà, chỉ mài vừa đủ để xoá các vết rỗ, muội than trên bề mặt làm việc của xupáp.
- Các thiết bị mài chuyên dùng cho mài xupáp có thể có những kết cấu khác
nhau nhưng về mặt nguyên lý thì tương tự nhau. Xupáp cần mài được kẹp trên
đầu kẹp và dẫn động từ một động cơ điện độc lập, đá mài được lắp ở vị trí cố
định trên bàn máy(Hình2.8).
Kiểm tra sao cho mài đúng góc nghiêng bề mặt làm việc của xupáp (Hình 2.6).
Đuôi bị mòn ta mạ crôm: Đưa lên máy mài phẳng để mài (Hình2.7).
Thân xupáp: Nếu bị cong nắn lại bằng máy ép loại nhỏ.
- Bị mòn mài theo kích thước sửa chữa và thay ống dẫn hướng. Nếu mòn
÷
Nấm xả: 7.965 7.980 (mm)
- Chiều dài gờ tán nấm:
+ Tối thiểu:
Nấm hút: 0.5(mm)
Nấm xả:0.8(mm)
2.Ổ đặt
a.Các dạng hư hỏng, nguyên nhân, hậu quả
STT
Hư hỏng
1.
Bề mặt làm việc của
ổ đặt bị mòn thành
gờ, rạn nứt tróc rỗ.
2.
Bề mặt làm việc bị
sói mòn và ăn mòn
hoá học.
3.
b.Kiểm tra
- Sau khi tháo động cơ ta tiến hành kiểm tra sơ bộ để kịp thời phát hiện
những hư hỏng của ổ đặt.
- Trước tiên ta lau sạch bề mặt làm việc của ổ đặt và quan sát xem bề mặt
làm việc của nó có bị mòn thành gờ, tróc rỗ bề mặt, sói mòn, ăn mòn.. hay
không.
- Kiểm tra vết tiếp xúc của ổ đặt và xupap bằng cách: Bôi một lớp bột màu
mỏng lên bề mặt làm việc của ổ đặt sau đó đưa xupap vào, ấn nhẹ ( không
xoay ) sau đó lấy xupap ra và quan sát vết bột màu bị mờ trên ổ đặt. Vết tiếp
xúc phải nằm ở khoảng giữa bề mặt làm việc của ổ đặt và có bề rộng vào khoảng
1.4 đến 2 mm.
c.Sửa chữa
- Nếu ổ đặt bị mòn ít ta sử dụng phương pháp rà lại ổ đặt cùng với xupap
của nó.
- Nếu ổ đặt bị mòn tương đối nhiều ta sử dụng phương pháp mài để gia công
lại ổ đặt. ( Hình 2.9 )
a. Đá mài và ti dẫn hướng.
b. Đá mài và ti dẫn hướng trong ổ đặt khi mài.
c. Mài ổ đặt bằng máy mài tay.
d. Mài ổ đặt bằng máy khoan đứng.
+ Quy trình mài ổ đặt:
- Gá lắp nắp máy chắc chắn vào bệ máy khoan đứng hoặc là vào nơi dễ sử
dụng máymài tay.
- Lắp đá mài vào máy mài hoặc máy khoan và định tâm cho tâm đá mài
trùng với tâm của ổ đặt.
- Đưa đá mài vào ổ đặt một cách từ từ, với một lượng gia công nhỏ vừa đủ
đến khi nào được thì thôi.
tránh làm hỏng ổ đặt.
- Nếu ổ đặt bị nứt vỡ thì phải thay mới.
+ Quy trình thay mới ổ đặt:
- Ổ đặt được thay theo 2 phương pháp: ép nóng và ép nguội.
* Ép nguội: Được áp dụng cho loại ổ đặt yêu cầu độ găng lắp ghép không quá
0.07 mm, có thể dùng búa thép nguội hoặc dùng máy ép để ép.
* Ép nóng: Được áp dụng cho loại ổ đặt yêu cầu độ găng lắp ghép lớn hơn 0.07
mm. Có thể dùng đèn xì để nung nóng nắp máy tới 400 đến 5000 C. Hoặc là luộc
nắp máy trong dầu , ủ trong cát hoặc vôi bột nóng tới 160 đến 1700 C. Sau đó
đưa lên máy ép thuỷ lực để ép.
+ Chú ý khi thay ổ đặt: Sau khi ép ta phải để nắp máy ( thân máy ) nguội từ từ
tránh hiện tượng cong, vênh nắp máy.
- ổ đặt sau khi thay thế cũng phải được doa, mài, rà theo đúng quy trình và
yêu cầu kỹ thuật đã nêu trên.
d.Kiểm nghiệm
Sau khi sửa chữa phải đảm bảo các thông số về mặt kích thước, đảm bảo độ kín
khít với xupap: ta lắp xupap vào ổ đặt sau đó đổ một ít xăng hay dầu hỏa vào
xung quanh nấm xupap rồi sau đó quan sát sau 2-5 phút mà không thấy xăng
hoặc dầu hỏa thấm qua là được.
3.Rà nấm xupáp
a.Các bước tiến hành
TT
1.
2
3
Chú ý.
Tránh bụi
làm xước
thân và bề
mặt nấm.
Chú ý bôi
bột đều khắp
bề mặt làm
việc của
xupáp.
-Không để
bột rà bắn
vào thân
xupáp
-Đặt nhẹ
nhàng.
- Tránh thả
tay.
TT
4
Các bước.
Ấn và xoay
khi xupáp
tiếp xúc với ổ
đặt.
Tay.
6
Rửa xupáp
sau khi rà thô
bằng xăng
sạch, sau đó
lau bằng dẻ
sạch.
- Rẻ sạch.
-Xăng sạch.
- Tay.
Nhấc xupáp
nhẹ nhàng
đều tay
TT
7
Các bước.
Hình vẽ.
Dụng cụ.
Chú ý.
thô.
-Chụp cao
- Xoay và ấn
phải đều tay
- Trong khi rà
thỉnh thoảng
xoay xupáp
đi một góc
90o
-Bôi bột rà
đều khắp bề
mặt làm việc
của xupáp
- Tránh bột
rà bắn vào
thân xupáp.
xu,Tuôcnơvi
t
- Dùng
tuôcnơvit
- Lực ấn và
phải có lò
xoaynhẹ
xo.
hơnrà bằng
thấy vượt quá 0,1(mm) thì phải thay ống dẫn hướng.
- Một số đông cơ khi chế tạo có thể lỗ dẫn hướng được khoan trực tiếp trên
nắp xilanh hoặc thân máy. Trong trường hợp này nếu ống dẫn hướng bị mòn
nhiều thì cho phép người ta khoan lỗ rộng ra và lắp ống lót hoặc ống dẫn hướng
mới.
c.Sửa chữa
- Dùng chổi làm sạch ống dẫn hướng và các chất dung môi có trong tất cả
các ống dẫn hướng.
- Nếu ống dẫn hướng bị mòn nứt vỡ thay ống mới.
- Nếu bề mặt bị mòn ít, vết rỗ nông, độ thụt sâu của xupáp còn nằm trong
giới hạn cho phép thì rà ổ đặt cùng với xupáp bằng bột rà theo 3 bước sau:
+ Rà bằng bột rà thô.
+ Rà bằng bột rà tinh.
+ Rà bóng bằng dầu bôi trơn.
- Nếu bề mặt bị mòn nhiều, vết rỗ sâu thì tiến hành doa hoặc mài trên máy
mài chuyên dùng rồi rà lại (Hình 2.12).
- Nếu mòn quá kích thước cho phép phải thay ổ đặt mới, khi ép ổ đặt dùng
dụng cụ chuyên dùng, có thể ép nóng hoặc ép nguội.
- Tháo ống dẫn hướng xupáp cũ ra khỏi nắp xilanh ở phía lắp lò xo để khi
lắp ống mới cũng để như vậy. Tiếp theo đối với các ống dẫn hướng bằng thép
hoặc bằng gang, có thể dùng máy ép hoặc dùng búa và dụng cụ để đóng, đẩy
ống ra theo hướng từ phía đế xupáp về phía nắp lò xo nếu ống dẫn hướng có vai.
Nếu ống dẫn hướng không có vai có thể tháo theo chiều ngược lại cũng được.
* Chú ý: Không ép hoặc đánh búa trực tiếp vào đầu ống dẫn hướng mà phải
thông qua một dụng cụ trung gian (Hình 2.13) để tránh làm chùn đầu ống dẫn
hướng không tháo ra được.
- Đối với các ống dẫn hướng bằng đồng, nếu không có máy ép thì không
được dùng búa đóng vào đầu ống để tháo ra vì sẽ làm chùn đầu ống, do đó
3
Lò xo bị nghiêng.
b.Kiểm tra:
- Rửa sạch và xì khô.
- Dùng lực kế để kiểm tra sức căng của lò xo.
- Dùng thước cặp kiểm tra chiều dài tự do của lò xo, yêu cầu lò xo phải có
chiều dài nằm trong giới hạn của động cơ (Hình 2.14; 2.15).
- Chiều dài tự do của động cơ: 47,31(mm).
- Chiều dài lắp đặt của động cơ : 40,30(mm)
- Lực nén lò xo khi lắp đặt
Tiêu chuẩn
27,0 kg
Tối thiểu
24,2 kg
c.Sửa chữa
- Lò xo bị gẫy thay lò xo mới. Chiều dài của lò xo phải bằng nhau, nếu lò
xo nào thấp hơn ta lắp thêm vòng đệm, quá thấp thay lò xo mới.
- Trường hợp mất đàn tính nhiều ta đưa đi phục hồi như sau:
Cho lò xo vào hộp thép có chứa mạt gang tránh oxy hoá, nung đến nhiệt độ
0
Bề mặt đáy của con đội bị mòn.
2
Thân con đội bị mòn.
3
Đỉnh con đội bị mòn.
b.Kiểm tra
* Thao tác kiểm tra:
- Phần Thực hiện rửa sạch các chi tiết trong dầu diezel hoặc xăng và lau
khô
- Quan sát bằng mắt để kiểm tra vết cào xước ở phần thân con đội.
- Quan sát bằng mắt để kiểm tra độ mòn ( xước) đầu con đội chỗ tiếp xúc
với vấu cam
-Quan sát kểm tra độ mòn côn và ôvan của thân con đội nếu lớn.
- Nếu độ mòn côn và ôvan của thân con đội nhỏ ta dùng banme để đo như
hình trên.
- Trong sửa chữa cần phải kiểm tra để điều chỉnh vị trí của con đội trong
các trường hợp sau đây:
+ Mài mặt nắp xilanh hoặc mặt thân máy.
+ Mài lại cam hoặc xupap.
+Thay chi tiết của cơ cấu phân phối khí.
c.Sửa chữa
- Nếu con đội mà mòn quá tiêu chuẩn cho phép thì thay mới.
- Nếu con đội mòn chỗ tiếp xúc với vấu cam thì hàn đắp rồi mài lại và điều
Móng hãm bị mòn gãy.
b.Kiểm tra
Trước khi tiến hành kiểm tra ta tiến hành làm sạch các chi tiết.
Dùng mắt quan sát các viết sứt mẻ mòn thành gờ ở đĩa chặn và mòn gẫy của
móng hãm.
Dùng dụng cụ chuyên dùng kiểm tra độ mòn.
c.Sửa chữa
Đĩa chặn và móng hãm không bị biến dạng, sứt mẻ mòn thành gờ thì có thể
dùng lại.
Đĩa chặn và móng hãm bị gãy biến dạng thì thay mới.
Độ mòn của đĩa chặn nhỏ thì có thể cho thêm đĩa đện dưới lo xo. Nếu mòn
nhiều thi thay mới.
Chú ý: khi thay mới phải chọn đĩa chặn và móng hãm tương ứng với móng
hãm và đĩa chặn đã dùng.
d.Kiểm nghiệm
Sau khi sửa chữa phải đảm bảo các thông số kĩ thuât và phả hoạt động tốt.
8.Trục cam và bạc lót
a.Các dạng hư hỏng nguyên nhân hậu quả
TT
Hư hỏng
Nguyên nhân
Hậu quả
kém.
Làm thay đổi pha
phối khí dẫn đến
năng xuất của bơm
xăng, công xuất
động cơ bị giảm.
4
Bạc bị mòn.
Do ma sát khi làm việc.
Làm tăng khe hở
giữa bạc và cổ trục
gây va đập khi động
cơ làm việc.
5
Bánh răng cam bị
mòn, sứt mẻ.
Do va đập trong quá
trình làm việc và bôi
trơn kém.
Gây tiếng kêu khi
làm việc và ảnh
Bánh răng và trục
lắp không chặt với
nhau khi hoạt động
bánh răng quay
không đều.
Do vật liệu chế tạo
Gây tiếng kêu khi
không đảm bảo. Tháo
hoạt động. Lắp
nắp không đúng kĩ thuật. không chặt.
Do làm việc lâu ngày,
ma sát với rãnh then của
bánh răng.
b.Kiểm tra
- Quan sát để phát hiện những hư hỏng thấy rõ như hỏng rãnh then, tróc
xước, rỗ hoặc sứt mẻ các bề mặt cổ trục và bề mặt cam. Nếu trục cam có những
hư hỏng này thì phải thay mới.
-Nếu trục cam không có những hư hỏng lớn thì:
Kiểm tra độ cong của trục, độ mòn các ổ trục, vấu cam để sửa chữa. Bằng cách
đặt lên hai khối chữ V bằng hai cổ trục ở hai đầu và dùng đồng hồ so để kiểm
tra(Hình 2.20 ). Quay trục cam đi một vòng và quan sát dao động của kim đồng
hồ để xác định độ cong của trục. Độ cong bằng nửa khoảng dao động của kim
đồng hồ. Độ cong cho phép thường là 0,05(mm)/100(mm) chiều dài
- Độ mòn và độ ô van của cổ trục cam được kiểm tra như kiểm tra chi tiết
bình thường và không vượt quá 0,025(mm).
- Kiểm tra độ mòn cam ở cả bề mặt cơ sở và bề mặt vấu cam bằng thước