MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trầm cảm là một d ng rối lo n cảm xúc phổ biến xuất hiện ngày càng nhiều
trên thế giới (Ranga Krishnan, 2010). Những nghiên cứu về trầm cảm trên người
trưởng thành ở 10 quốc gia (Brazil, Canada, Chile, Cộng h a Czech, Đức, Nhật,
Mexico, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ) cho thấy tỉ lệ trầm cảm chủ yếu (major
depression) tính theo đời người dao động từ 3% (ở Nhật Bản) cho đến 17% (ở Mỹ),
với tỉ lệ phổ biến nhất là từ 8 đến 12% [49]. Xét về giới tính, các nghiên cứu đều
cho thấy rằng trầm cảm xuất hiện ở nữ nhiều hơn nam giới. Nghiên cứu của
Kessler, Chiu, WT, Demler, O và cộng sự cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ nữ giới bị trầm
cảm là 8% đến 10% trong khi đó tỷ lệ ở nam giới là 3% đến 5%. Xét về thời gian,
trầm cảm có thể xuất hiện vào bất kỳ giai đo n nào trong cuộc đời, tuy nhiên ở nữ
giới, trầm cảm xuất hiện sau khi sinh là khá phổ biến [50], [55].
Đối với người phụ nữ, mang thai, sinh con và làm mẹ được coi là sự kiện lớn
trong cuộc đời, làm thay đổi cả về thể chất và tinh thần. Chính sự kiện sinh đẻ cũng
được coi là một sang chấn đối với người phụ nữ. Những thay đổi trong đời sống tâm
lý của phụ nữ sau sinh đã được khảo sát t i nhiều quốc gia trên thế giới và những
cuộc khảo cứu này chỉ ra rằng khoảng 80% số phụ nữ xuất hiện các dấu hiệu của
hội chứng buồn chán sau sinh (baby blues) vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5 và đa số tự
thuyên giảm vào ngày thứ 10 sau sinh mà không cần phải can thiệp [11]. Tuy vậy
một số ít trường hợp không thể tự thuyên giảm và phát triển thành trầm cảm sau
sinh. Theo khảo sát của bệnh viện Tâm thần Trung ương 2, có khoảng 10 -15% số
phụ nữ bị TCSS và 0,1% đến 0,2% bị chứng lo n thần sau sinh [4]. So với hội
chứng buồn chán sau sinh, mức độ trầm buồn của những trường hợp phụ nữ bị trầm
cảm sau sinh cũng nặng hơn và thời gian xuất hiện các biểu hiện của trầm cảm cũng
kéo dài hơn. Khi đó, người phụ nữ cần đến sự hỗ trợ của nhà tâm lý và can thiệp từ
bác sĩ tâm thần. Những cảm xúc và hành vi tiêu cực ở người phụ nữ bị trầm cảm sau
sinh không chỉ gây ảnh hưởng đáng kể tới bản thân người phụ nữ mà còn ảnh
1
chúng tôi thực hiện đề tài “Những yếu tố tâm lý -xã hội liên quan đến trầm cảm ở
phụ nữ sau sinh”.
2
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHI N CỨU CỦA UẬN ÁN
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những biểu hiện và mức độ liên quan của một số yếu tố tâm lý xã hội với trầm cảm (TC) ở PNSS (phụ nữ sau sinh). Trên cơ sở đó đề xuất một số
biện pháp tâm lý - xã hội góp phần giúp PNSS ph ng ngừa và ứng phó tốt với
TCSS.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
a. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa lý luận về những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở
PNSS, cụ thể là mối liên quan giữa kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm
mối quan hệ của người PNSS với trầm cảm.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu thực ti n
Phân tích được biểu hiện và mức độ liên quan giữa TC ở PNSS với những yếu
tố tâm lý – xã hội, cụ thể là kiểu nhận thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan
hệ của người phụ nữ.
Mô tả trường hợp người PNSS bị TC có những yếu tố tâm lý – xã hội liên
quan, từ đó đề xuất một số biện pháp tham vấn cá nhân nhằm giúp người phụ nữ sau
sinh giảm thiểu, phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với TCSS.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHI N CỨU CỦA UẬN ÁN
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ liên quan của các yếu tố tâm lý – xã hội (kiểu nhận
thức, đặc điểm nhân cách, đặc điểm mối quan hệ và một số đặc điểm xã hội khác
của người phụ nữ) với TC ở PNSS.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Luận án không đi sâu điều tra, phân tích các biểu hiện của TCSS ở khía c nh
trong các mối quan hệ, trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
- Nguyên tắc liên ngành: Trầm cảm ở PNSS có những biểu hiện trên các bình
diện tâm lý, thần kinh, sinh lý và tâm thần. Để giải quyết triệt để vấn đề trầm cảm,
các ngành như sinh lý học thần kinh, tâm thần học, tâm lý học, dược lý học, công
tác xã hội… cũng đều quan tâm, nghiên cứu, do vậy nghiên cứu tiếp cận theo hướng
liên ngành là điều cần thiết.
4
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích văn bản và tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu h i
- Phương pháp ph ng vấn sâu
- Phương pháp trắc nghiệm: Trắc nghiệm đánh giá mức độ TC, kiểu nhận
thức, đặc điểm nhân cách.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê phân tích số liệu spss
- Phương pháp tác động thực nghiệm: Tham vấn cá nhân
5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA UẬN ÁN
5.1. Đóng góp về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp vào hệ thống lý luận về TC và TC ở
PNSS, những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở PNSS. Sự đóng góp về mặt
lý luận của luận án được biểu hiện cụ thể ở một số nội dung sau:
Luận án nêu lên được những xu hướng nghiên cứu chính liên quan đến vấn
đề TCSS và các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TCSS trên thế giới và ở Việt
Nam. Các nghiên cứu tổng quan về TC ở PNSS tập trung vào các khía c nh như
dịch tễ, yếu tố ảnh hưởng, cách thức can thiệp, từ đó cho người đọc có cái nhìn toàn
diện hơn về vấn đề.
Luận án xác định được các khái niệm cơ bản gồm: yếu tố tâm lý – xã hội,
liên quan, TC ở phụ nữ sau sinh, những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến TC ở
7. CƠ CẤU CỦA UẬN ÁN
Luận án gồm những phần sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về những yếu tố tâm lý – xã hội liên quan
đến TC ở PNSS
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về một số yếu tố tâm lý – xã hội liên
quan đến trầm cảm ở phụ nữ sau sinh
Kết luận và kiến nghị
Danh mục công trình đã công bố của tác giả
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÂM Ý –
XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở PHỤ NỮ SAU SINH
Trầm cảm (TC) ở phụ nữ sau sinh (PNSS) là một trong những rối lo n tâm
thần phổ biến, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người phụ nữ, tình tr ng hôn
nhân và sự phát triển cảm xúc, xã hội, nhận thức và liên nhân cách của đứa trẻ
[27],[30], [19], [24], [36], [43], 30], [46]. Nếu bệnh TC ở PNSS không được điều trị
dứt điểm có thể sẽ tái diễn và phát triển thành mãn tính, để l i hậu quả lâu dài
(Cooper & Murray,1995; Henshaw, Foreman & Cox, 2004; Philipps & O’Hara,
1991) [75]. Hiện nay vấn đề trầm cảm ở PNSS được nghiên cứu dưới góc độ khảo
sát thực tr ng (mức độ phổ biến), các yếu tố nguy cơ và ph ng ngừa, can thiệp.
Dưới đây chúng tôi sẽ khái quát các công trình được nghiên cứu trên thế giới và ở
Việt Nam về lĩnh vực này.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về những yếu tố tâm lý - xã
được cho là nguy cơ dẫn đến trầm cảm, đó là: Yếu tố sinh học (gen, tăng/giảm hooc
môn sinh sản, tăng/giảm lượng progesterone và estrogen, sự thay đổi của tuyến
giáp, v.v), yếu tố thuộc sản khoa (sức kh e và tình tr ng bệnh thực thể khi mang
thai, các tai biến sản khoa, hình thức sinh đẻ); yếu tố lâm sàng (bản thân người phụ
nữ hoặc người thân trong gia đình đã có tiền sử rối lo n tâm thần, rối lo n tâm thần
trong thời kỳ mang thai) và yếu tố tâm lý - xã hội như nhận thức tiêu cực của bà mẹ,
tình tr ng bà mẹ đơn thân, mối quan hệ không tốt với chồng, tình tr ng kinh tế xã hội
thấp (Gado, Kraemer,.2003; Kendler, Gardner, Prescott.,2006; Green, McLaughlin,
Berglund và cs.,2010; Rosenquist, Fowler, Christakis,2010) [dẫn theo 36].
Những nguy cơ dẫn đến trầm cảm ở PNSS được các tác giả nghiên cứu phân
lo i theo 3 cách sau [49]:
Cách 1: Nhóm yếu tố nguy cơ bên trong, nhóm yếu tố bên ngoài và các sự
kiện gây bất lợi.
Cách 2: Nhóm yếu tố sinh học, nhóm yếu tố tâm lý, nhóm yếu tố xã hội
Cách 3: Nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan
Mặc dù được phân thành các nhóm khác nhau nhưng các yếu tố nguy cơ dẫn
đến trầm cảm ở PNSS về cơ bản vẫn thuộc yếu tố sinh học và tâm lý - xã hội. Trong
ph m vi của luận án này, chúng tôi sẽ trình bày theo cách phân lo i thứ nhất, tuy
nhiên, chúng tôi chỉ tổng quan một cách ngắn gọn về yếu tố sinh học và tập trung
8
nhiều hơn vào các công trình nghiên cứu về những yếu tố tâm lý- xã hội liên quan
đến TC ở PNSS.
1.1.2.1. Yếu tố sinh học
Từ góc độ sinh học, những nghiên cứu trên các cặp sinh đôi chỉ ra vai tr của
yếu tố di truyền trong sự xuất hiện của vấn đề TC. Kết quả nghiên cứu của Nancy
cho thấy bố mẹ, anh chị em ruột và con cái của những bệnh nhân TC nặng có
nguy cơ bị rối lo n này lên đến 10-15% so với nguy cơ trong dân số không có
Khi nghiên cứu về yếu tố nguy cơ gây TC ở PNSS, một số yếu tố tâm lý xã
hội như kiểu nhận thức, tính không ổn định của hệ thần kinh, khí chất hướng nội và
hướng ngo i (thuộc đặc điểm nhân cách), đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ
với chồng và người thân, khí sắc của bà mẹ trong quá trình mang thai, tiền sử bệnh
TC, đặc điểm kinh tế gia đình được chỉ ra có tính tương quan với mức độ TC.
a. Kiểu nhận thức
Trong những năm cuối của thế kỷ 20, lĩnh vực tâm lý học nói chung và
nghiên cứu về TC nói riêng bị chi phối m nh bởi những lý thuyết tập trung vào
nhận thức hơn là hành vi bên ngoài. Những quan điểm của các tác giả thuộc trường
phái Tâm lý học nhận thức đều xem xét các yếu tố nhận thức như là nguyên nhân
của tình tr ng đau khổ và các triệu chứng TC.
Lý thuyết nhận thức của Aron Beck và Clark khi nghiên cứu về TC được
chấp nhận khá rộng rãi. Theo Beck và Clark thì các sự kiện tiêu cực chưa hẳn đã
dẫn tới TC mà cần thông qua một “bộ lọc” và đó là những suy nghĩ méo mó, sai
lệch [12], [33].
Kiểu quy kết nhận thức được xem là yếu tố dự đoán TC ở PNSS. Đây là nội
dung được phản ánh trong lý thuyết tuyệt vọng (hopelessness theory) và lý
thuyết cách thức phản ứng (response styles theory). Theo lý thuyết tuyệt vọng,
cách suy nghĩ tiêu cực là những chỉ báo tin cậy dự đoán trầm cảm bởi sự quy kết
trầm buồn thường diễn ra cùng với khí sắc trầm (Barnett và Gotlib,1988) [dẫn
theo 69]. Kết quả nghiên cứu của O’Hara và Swan (1996) phân tích trên 13
nghiên cứu với hơn 1300 phụ nữ đã cho thấy cách suy nghĩ tiêu cực có liên quan
với các triệu chứng của trầm cảm sau sinh ở mức độ cao [49]. Luận điểm này
tiếp tục được khẳng định và cập nhật vào năm 1989 trong nghiên cứu của
Abramson và cộng sự [28].
10
Theo lý thuyết sự tuyệt vọng của Seligman (1975), cá nhân có xu hướng TC
khiển trách bản thân, trải nghiệm cảm giác tội lỗi và xấu hổ, khó bộc lộ sự giận
dữ, kỹ năng ứng phó nghèo nàn. Những nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa
nhân cách và TC đã cho thấy những tính cách nêu trên thường phổ biến ở người
bệnh TC [94]
Tính không ổn định của hệ thần kinh/ Nhiễu tâm (neuroticism) có thể được
hiểu như một lo i rối lo n tâm lý của cá nhân, thường biểu hiện bằng sự buồn phiền,
tự đánh giá thấp về bản thân, rối lo n lo âu sớm nhưng vẫn có suy nghĩ hợp lý và
duy trì tốt các chức năng xã hội. Nhiễu tâm đã được xem xét trong 5 nghiên cứu với
550 phụ nữ trước sinh và cho thấy đây cũng là yếu tố dự báo cho trầm cảm ở PNSS,
tuy điểm chỉ đ t mức trung bình (O’Hara & Swain, 1996) [49]. Kết quả này được
khẳng định l i trong các nghiên cứu tiếp theo khi phát hiện thấy các điểm đánh giá
nhiễu tâm có mối quan hệ ý nghĩa với trầm cảm ở PNSS (Lee và cs. 2000).
Johnstone và cs (2001) đã chỉ ra rằng những người phụ nữ hay bồn chồn, xấu hổ
hoặc lo lắng thái quá thường có xu hướng dẫn đến trầm cảm. [52].
c. Đặc điểm mối quan hệ
Lý thuyết liên cá nhân khẳng định rằng sự đổ v / xung đột trong một mối
quan hệ nào đó, đặc biệt là mối quan hệ với chồng hoặc các thành viên khác trong
gia đình, các mối quan hệ trong công việc; mất đi một người thân trong quá trình
mang thai đã được xác định là có liên quan đến TC ở người PNSS [84]. Một số tác
giả lớn đ i diện cho thuyết liên cá nhân như Weissman, Cramer, Klerman,
Rounsaville và Chevron đều nhấn m nh đến vai tr của các mối quan hệ trong quá
trình khởi phát và tiến triển của bệnh TC. Những tác giả này cho rằng, sự tương tác
của cá nhân với môi trường xã hội xung quanh họ có thể quyết định tới việc gia tăng
các triệu chứng TC. Một cá nhân bị TC là do mối quan hệ của họ bị rối lo n. Lý
thuyết này tập trung vào 2 điểm chính là: Tìm kiếm sự đảm bảo quá mức và nhận
thức thấp về địa vị/ giá trị của bản thân [96].
Đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với chồng
Đối với người phụ nữ, cảm nhận về sự thay đổi trong mối quan hệ vợ chồng
chăm sóc con cái, mối quan hệ giữa người phụ nữ và chồng có thể nặng nề hơn và
cũng ít có thời gian cho xã hội hơn..
1
DYAS là thang đo tự thuật nhằm đo sự hài l ng về chất lượng mối quan hệ hôn nhân, đã được chứng minh
về độ tin cậy và hiệu lực trong đo đ c,
13
Trong thời điểm sau sinh, sự hỗ trợ của người chồng trong việc chăm sóc con
cái và chia sẻ cảm xúc với vợ là yếu tố quan trọng giúp người phụ nữ ph ng ngừa
hoặc “thoát” kh i vấn đề TC. Nghiên cứu của Robinson và Stewart (2001) cho thấy
một số cặp vợ chồng chấp nhận vai tr truyền thống của vợ hoặc chồng nhưng một
số cặp khác đã phải tổ chức l i hệ thống gia đình [38]. O’Hara, Rehm và Campbell
(1983) nghiên cứu nhận thức về hỗ trợ xã hội chỉ ra rằng những phụ nữ sau sinh bị
trầm cảm thường thiếu sự hỗ trợ của người chồng trong việc thực hiện các nhiệm vụ
và nâng đ về cảm xúc sau sinh.
Đặc điểm mối quan hệ của người phụ nữ với người thân
Những sang chấn xảy ra trong mối quan hệ như tổn thương kéo dài trong
thời kỳ thơ ấu hoặc khi trưởng thành, mức độ gắn bó với cha mẹ thấp, bố mẹ hoặc
bản thân ly dị, trình độ giáo dục thấp cùng với những sự kiện bên ngoài như cha mẹ
l m dụng chất hoặc ph m tội có thể liên quan đến bệnh TC ở PNSS [42].
Sự hỗ trợ của gia đình, người thân cũng đóng góp vào những nguyên nhân
gây nên bệnh TC ở người PNSS. Trong quá trình nuôi con nh , người mẹ thường có
xu hướng thực hiện phần lớn các nhiệm vụ (của cả cha và mẹ) và khi phải quyết
định, thực hiện các vai tr mới có thể sẽ ảnh hưởng đến công việc và thích nghi với
những thay đổi cần thiết. Một số nghiên cứu đánh giá vai tr của hỗ trợ xã hội trong
việc giảm trầm cảm sau sinh cho thấy rằng PNSS nhận được sự hỗ trợ xã hội qua
viện [37], [39].
Vai tr của yếu tố kinh tế xã hội trong các nguyên nhân gây ra rối lo n tâm
thần nói chung và trầm cảm nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Các
chỉ số cho thấy sự thiếu thốn về kinh tế xã hội như thất nghiệp, thu nhập thấp, học
vấn thấp được coi là những yếu tố nguy cơ trong rối lo n tâm thần (Bartley,1994;
Jenkins, 1985; Patel và cs., 1999; Weich và cs., 1997; World Health Organization,
2001) [dẫn theo 26]. Thiếu thốn về kinh tế xã hội cũng đã được nghiên cứu như là
một trong các nguyên nhân của trầm cảm sau sinh. O’Hara và Swain (1996) đã phân
tích 14 nghiên cứu, thực hiện trên 1650 khách thể cho thấy có mối liên hệ giữa tình
tr ng kinh tế xã hội và TCSS. Nghiên cứu kết luận rằng những chỉ số như thu nhập
thấp, tình tr ng việc làm và địa vị của phụ nữ trong xã hội là yếu tố dự báo có mối
quan hệ tuy nh nhưng có ý nghĩa với TCSS. Beck (2001) đã phân tích 8 nghiên
cứu trên 1732 khách thể và tìm thấy rằng có mối liên quan (tuy không lớn) giữa tình
tr ng kinh tế xã hội và trầm cảm sau sinh. Những kết luận từ các nghiên cứu này
15
trùng với kết quả nghiên cứu của Lee (2000); Patel và cs (2002); Seguin và cs
(1999), Warner và cs (1996) khi thực hiện nghiên cứu trên phụ nữ có thu nhập thấp
t i Ấn Độ, Trung Quốc và Canada [38],[51]. Vẫn trong nghiên cứu của Edward H.
Hagen năm 1999, kết quả cho thấy nếu người phụ nữ không đủ khả năng tài chính
để nuôi đứa con mới sinh hoặc môi trường nguy hiểm thì họ phải tính toán chi ly,
tiết kiệm đầu tư cho con cái ở hiện t i và tương lai hoặc cho sức kh e và phúc lợi
của chính họ. Do vậy mức nguồn tài chính thấp có thể là yếu tố dự báo của TCSS
bởi nó ảnh hưởng tiêu cực đến người phụ nữ [51].
Tác giả Warner và cs (1996) chỉ ra trong kết quả nghiên cứu rằng các bà mẹ
thất nghiệp hoặc gia đình có chồng thất nghiệp có nguy cơ bị TCSS cao hơn những
bà mẹ khác. Cùng trong năm này, Cooper và cộng sự đã cho biết trong báo cáo
nghiên cứu của họ là có 7% bà mẹ bị TCSS không hài l ng với khu vực họ sinh
sống (ở thời điểm trước sinh) so với chỉ có 3% những bà mẹ không bị TC. Liên
riêng lẻ. Từ khoảng trống nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu sự kết hợp của đa
biến nhằm chỉ ra mức độ liên quan của TCSS và các yếu tố khi các yếu tố này kết
hợp với nhau.
1.1.3. Hƣớng nghiên cứu về liệu pháp tâm lý hỗ trợ cho phụ nữ bị trầm cảm
sau sinh
Những nghiên cứu đã công bố về hiệu quả của các hình thức trợ giúp đối với
trầm cảm ở PNSS hiện có là: cách điều trị bằng thuốc (thuốc chống trầm cảm), trị
liệu tâm lý, hỗ trợ tâm lý xã hội, trị liệu bằng hoocmôn, liệu pháp thư giãn, can
thiệp giấc ngủ của bà mẹ - trẻ em và trị liệu bằng xung điện (Electroconvulsive
Therapy).
Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án, trong phần này chúng tôi
chỉ tập trung tổng quan những nghiên cứu về các biện pháp hỗ trợ tâm lý xã hội cho
phụ nữ bị trầm cảm sau sinh
1.1.3.1. Hỗ trợ trầm cảm cho phụ nữ sau sinh bằng liệu pháp trị liệu liên cá
nhân (Interpersonal Psychotherapy - IPT)
Liệu pháp liên cá nhân (hay c n gọi là mối quan hệ) tập trung vào đặc điểm
của những mối quan hệ và trên những vấn đề như khó khăn trong giao tiếp hoặc đối
mặt với những mất mát trong mối quan hệ. Có một vài nghiên cứu cho thấy liệu
pháp mối quan hệ mang l i hiệu quả tương tự như thuốc hoặc CBT (liệu pháp nhận
thức hành vi). Nghiên cứu về hiệu quả của liệu pháp liên cá nhân trong điều trị
17
TCSS, tổng quan nghiên cứu của Spinelli (1997) cho thấy có 3 nghiên cứu đã thực
hiện đánh giá hiệu quả của liệu pháp IPT cho cả TC trước sinh và sau sinh. Một
trong ba nghiên cứu thí điểm được thực hiện trong 16 tuần trên 13 phụ nữ Mỹ mang
thai đáp ứng các tiêu chu n trầm cảm chủ yếu của DSM – III-R. Những người phụ
nữ thực hiện thang đo trầm cảm của Hamilton (HRSD), thang đo TC của Beck
(BDI) và EPDS. Hàng tuần, những người phụ nữ này tham gia vào các buổi trị liệu
liên cá nhân trong khoảng 50 phút. Quá trình trị liệu kéo dài 12 tháng, sau đó những
Mặc dù các nghiên cứu này không đưa ra tiêu chí để so sánh hiệu quả trị liệu
như chủng tộc, thời gian kết hôn hay trình độ học vấn, hơn nữa số khách thể tham
gia nghiên cứu không lớn, tuy nhiên những phát hiện này cho thấy IPT được xem là
một liệu pháp hiệu quả khi điều trị TCSS.
1.1.3.2. Hỗ trợ trầm cảm cho phụ nữ sau sinh bằng liệu pháp trị liệu nhận thức
hành vi Cognitive Behavioural Therapy
Nước Anh là nơi có những thử nghiệm đầu tiên về ứng dụng liệu pháp trị
liệu nhận thức hành vi (CBT) cho trầm cảm ở PNSS. Một nghiên cứu thử nghiệm
CBT đối với trầm cảm ở PNSS đã được tiến hành t i c (phụ nữ bị TCSS chỉ được
can thiệp bằng CBT). Mục đích của nghiên cứu này là: (1) các y tá chăm sóc trẻ sơ
sinh được đào t o có thể sử dụng CBT cho điều trị trầm cảm ở PNSS hay không và
(2) so sánh kết quả đầu ra ở những phụ nữ được trị liệu bằng CBT với những phụ
nữ không được trị liệu bằng CBT mà chỉ có những chăm sóc tiêu chu n khác. Năm
y tá đã được đào t o CBT và được giám sát hàng tuần. Những phụ nữ bị trầm cảm
sau sinh được 5 y tá đề nghị thực hiện EPDS (mức điểm trên 12) và ch n đoán qua
ph ng vấn lâm sàng. Có 37 phụ nữ được xác định là trầm cảm chủ yếu bằng thang
EPDS và DSM IV. Nhóm nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 20 trường hợp vào nhóm
chăm sóc lý tưởng và 17 người c n l i vào nhóm can thiệp bằng CBT. Các y tá thực
hiện CBT trong 6 tuần (1 giờ/ buổi/ tuần) t i nhà của sản phụ. Sau điều trị, khách
thể được thực hiện ngay một bảng ph ng vấn và sau 24 tuần khách thể tiếp tục thực
hiện một bảng h i được gửi qua đường bưu điện nhằm đánh giá hiệu quả trị liệu.
Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy các sản phụ ở nhóm được can thiệp bằng CBT và
nhóm không can thiệp bằng CBT có điểm EPDS chênh lệch có ý nghĩa (Nhóm được
can thiệp bằng CBT đ t 15.9, nhóm không được can thiệp bằng CBT đ t 13.7) [48].
Nghiên cứu thử nghiệm này cho thấy sử dụng CBT có thể có hiệu quả đối với trầm
19
cảm ở PNSS, tuy nhiên h n chế của nghiên cứu này là các mẫu khách thể thường ở
thiệp trầm cảm ở phụ nữ sau sinh và về các yếu tố tâm lý – xã hội liên quan đến
trầm cảm ở phụ nữ sau sinh.
1.2.1. Hƣớng nghiên cứu về mức độ phổ biến của trầm cảm sau sinh
Năm 1994, tác giả Vũ Thị Chín cùng với cộng sự đã thực hiện nghiên cứu
Tìm hiểu tâm lý sản phụ và quan hệ sớm mẹ con. Trên cơ sở của nghiên cứu này,
cuốn sách “Tâm lý sản phụ và quan hệ sớ mẹ con” đã được xuất bản. Đây là một
trong những tác ph m hiếm hoi mô tả tâm lý của sản phụ trong thời kỳ mang thai và
sinh con. Trong đó, tâm lý của sản phụ gắn liền với cuộc sinh đẻ được mô tả là sự
mất chủ động và lo hãi. Sự thay đổi về sinh lý khi chuyển d (ở đây là sự co bóp cổ
tử cung), trong môi trường xa l và cô qu nh bởi có một mình, tiếng kêu rên của
những sản phụ khác có thể khiến sản phụ bị ngập tràn trong đau đớn. Từ đây tác giả
khẳng định việc chu n bị tâm lý cho sản phụ từ lúc mang thai, nhất là khi chuyển d
và đẻ là cần thiết. Sự nâng đ xã hội trong thời điểm phụ nữ sinh đẻ vô cùng quan
trọng đối với bản thân người phụ nữ. Trong thời gian sau đẻ sản phụ sẽ trải qua một
thời kỳ trầm nhược nhẹ, một tr ng thái u buồn, chán nản, mệt nhọc, lờ đờ ảm đ m.
Tình tr ng này có thể là hậu quả của sự mệt m i sau đẻ, được sản phụ mô tả một
cách mơ hồ và mọi chuyện sẽ qua đi [2].
Từ tháng 6 năm 2002 đến tháng 12 năm 2002, nhóm tác giả Lâm Xuân Điền,
Lê Quốc Nam thực hiện nghiên cứu “Rối lo n TCSS ở các sản phụ đến sinh t i
bệnh viện Từ Dũ” (TP. Hồ Chí Minh). Đây là nghiên cứu cắt ngang với mục tiêu
nhằm xác định tỷ lệ phụ nữ bị TCSS trong thời gian sinh đẻ t i bệnh viện Từ Dũ và
khảo sát những yếu tố nguy cơ liên quan. Nhóm tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 321
phụ nữ (độ tuổi từ 19 đến 45, trong đó 95.7% sản phụ có độ tuổi từ 20 đến 39) đến
khám t i bệnh viên Từ Dũ vào tuần thứ 4 sau sinh. Một số tiêu chí được đặt ra khi
lựa chọn khách thể bao gồm: Độ tuổi, trình độ học vấn, tính chất ổn định của nghề
nghiệp, hoàn cảnh kinh tế của gia đình, tình tr ng hôn nhân và số lần sinh. Sản phụ
tham gia vào nghiên cứu sẽ được đánh giá bằng trắc nghiệm Edinburg. Những sản
phụ đ t mức từ 13 điểm trở lên của thang đo Edinburg sẽ được bác sĩ tâm thần đánh
nghiên cứu là những phụ nữ mới sinh con sau 6 tuần. Các khách thể đủ tiêu chu n
lựa chọn được đưa vào ph ng khám dành riêng cho phụ nữ bị TCSS, họ được mời
tham gia vào nghiên cứu từ buổi đầu thăm khám. Các khách thể trả lời ph ng vấn
có cấu trúc về sức kh e và hoàn cảnh xã hội, thực hiện thang đo Edinburg ngay t i
phòng khám. Kết quả cho thấy trong 506 phụ nữ tham gia nghiên cứu, có 166 người
22
(33%) có điểm EPDS trên 12 và 99 người (19%) đã từng có ý định tự tử. Trong
tổng số 33% phụ nữ có điểm EPDS từ 12 trở lên, có 77% trường hợp là mang thai
không như mong muốn, không có việc làm ổn định, thời gian nghỉ sau khi sinh dưới
30 ngày, tình tr ng sức kh e của đứa trẻ không tốt, không được chăm sóc đầy đủ về
mặt dinh dư ng, kiêng cữ quá nhiều và khó khăn khi chia sẻ với chồng [41].
Như vậy, tỷ lệ TCSS được nhóm tác giả chỉ ra trong nghiên cứu là khá cao,
tuy nhiên các kết quả so sánh l i cho thấy bệnh nội khoa và sản khoa l i không có
mối tương quan với TCSS. Các kết luận này có khác biệt so với kết quả nghiên cứu
của một số bác sĩ như Vũ Thị Chín và Bùi Bích Nhung, Lâm Xuân Điền và Đinh
Thị Tố Trinh. Một trong những giả thiết mà nhóm tác giả cho rằng có thể ảnh
hưởng đến kết quả nghiên cứu là sản phụ đã được tư vấn về bệnh lý và chu n bị về
tâm lý trước khi sinh. Do vậy việc chưa tìm hiểu mức độ sản phụ được tư vấn và
không có nhóm đối chứng khi nghiên cứu có thể là h n chế của đề tài [9].
Năm 2009, trên t p chí Tâm lý học số 4 xuất hiện bài báo của tác giả Nguyễn
Linh Trang với tựa đề “Một số biến đổi tâm lý sau khi sinh con”. Từ những tổng
quan tài liệu, tác giả khái quát l i các vấn đề tâm lý ở PNSS gồm 3 mức độ chính là
mức độ nhẹ (hội chứng baby blues), mức độ vừa (TCSS) và mức độ nặng (TC có
lo n thần). Bằng cuộc khảo sát nh , chủ yếu dựa trên việc thu thập ý kiến của 30
PNSS tham gia vào diễn đàn webtretho.com, tác giả đã chỉ ra một con số đáng lưu ý
là có đến 18 bà mẹ (chiếm 60%) đã từng trải qua cơn buồn thoáng qua sau sinh, 5
bà mẹ (chiếm 15,6%) đã từng mắc TCSS và 1 bà mẹ mắc chứng lo n thần sau sinh.
Cũng giống như phần lớn các nghiên cứu khác, tác giả đã chỉ ra các dấu hiệu cho
quá trình sinh khó là một sang chấn tâm lý nặng vì diễn tiến thường kéo dài và sản
phụ thường đau đớn nhiều hơn. 17% sản phụ gặp khó khăn khi cho con bú bị TCSS
so với 3,3% trong nhóm sản phụ cho con bú bình thường. Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p < 0,01). 60% sản phụ có mối quan hệ “xấu” với chồng trong lần
sinh này bị TCSS so với 4,5% trong nhóm sản phụ có mối quan hệ với chồng “tốt
và trung bình”. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 001). 11,1% sản phụ phải
tự chăm sóc bản thân bị TCSS so với 4,1% trong nhóm sản phụ có chồng hay người
khác trợ giúp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 10,5% sản phụ phải
tự chăm sóc bé về đêm bị TCSS so với 3,7% trong nhóm sản phụ có chồng hay
24
người khác giúp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). 22,2% sản phụ
không có ai để tâm sự bị TCSS so với 4,3% trong nhóm có chồng hay người khác
để tâm sự. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 005) [4].
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hiệp và Lê Minh Nguyệt (Đ i học Y Ph m
Ngọc Th ch) đã thực hiện đề tài “Khảo sát tình tr ng TCSS ở những phụ nữ có thai
kỳ nguy cơ cao đến khám t i bệnh viện Từ Dũ từ tháng 6/2007 đến tháng 12/2008.
Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ TCSS ở những phụ nữ có thai kỳ nguy cơ cao.
Khách thể nghiên cứu là 259 sản phụ, trong đó có 132 sản phụ có thai kỳ nguy cơ
về bệnh lý nội khoa như tim m ch, bệnh phổi như hen suyễn, lao, cường giáp, đái
tháo đường, bệnh thận. Có 127 sản phụ có các yếu tố nguy cơ về bệnh lý sản khoa
như sinh non, vết mổ cũ, ngôi thai bất thường, ối v non, song thai, khung chậu giới
h n, thai suy dinh dư ng và các bệnh lý khác, tuy nhiên cuối cùng chỉ c n 305 sản
phụ tiếp tục tham gia nghiên cứu cho đến khi kết thúc. Những sản phụ tham gia
nghiên cứu sẽ được thực hiện bảng h i để ghi nhận những biến số nghiên cứu (do
nhóm nghiên cứu thiết kế), sau đó được đánh giá TCSS bằng trắc nghiệm EPDS,
điểm số ≥ 13 được ch n đoán ban đầu là có TCSS. Kết quả cho thấy có 21.6% (66
trường hợp) sản phụ bị TCSS. So sánh mối tương quan giữa bệnh lý nội khoa của
sản phụ và TC trước sinh với TCSS cho thấy bệnh nội khoa không phải là yếu tố