Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phát hành cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp - Pdf 29

A. TỔNG QUAN VỀ CỔ PHIẾU.
I. Khái niệm.
- Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng
chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần.
- Bản chất kinh tế: Quan hệ góp vốn- sở hữu
- Thời hạn thanh toán: vô hạn.
- Khi mua cổ phiếu, các nhà đầu tư trở thành cổ đông của công ty cổ
phần. Cổ đông có thể mua bán chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường thứ cấp theo
qui định của pháp luật.
II. Phân loại cổ phiếu.
1. Phân biệt một số khái niệm:
- Cổ phiếu được phép phát hành: là số lượng cổ phiếu tối đa của một
công ty được bán ra công chúng từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá
trình hoạt động. Bao gồm:
- Cổ phiếu phát hành: là số cổ phiếu được phép phát hành đã bán ra cho
công chúng
- Cổ phiếu chưa phát hành: là số cổ phiếu được phép phát hành nhưng
chưa từng được bán.
- Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu đã phát hành và được công ty mua lại
2. Phân loại cổ phiếu theo quyền lợi của cổ đông nắm giữ
- Cổ phiếu phổ thông: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông
đối với và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng cá quyền lợi thông thường trong
công ty. Là loại cổ phiếu bắt buộc của công ty cổ phần.
o Người nắm giữ có phiếu phổ thông là cổ đông thường và là đồng sở
hữu của công ty cổ phần và có các quyền tham dự hội đồng cổ đông, đề cử, biểu
quyết, nhận cổ tức, ưu tiên mua cổ phiếu mới.
o Cổ phiếu phổ thông có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh
của công ty.
o Tự do mua bán chuyển nhượng theo qui định của pháp luật.
o Được niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán.

II. Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phát hành cổ phiếu ra
công chúng của doanh nghiệp.
1. Nhu cầu về vốn.
Đây là lý do quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định phát hành cổ phiếu ra
công chúng của doanh nghiệp. Công ty càng phát triển thì nhu cầu về vốn để phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng lớn. Khi nhu cầu về vốn trở thành vấn đề
bức xúc mà các nguồn huy động vốn khác không thể giải quyết được thì công ty sẽ
lựa chọn hình thức phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn trên thị
trường. Doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi ích khi phát hành cổ phiếu ra công
chúng, tuy nhiên, hầu hết các tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng trước hết
nhằm mục đích tăng vốn.
2. Đặc điểm của tổ chức phát hành.
Đây là nhân tố để quyết định có nên thực hiện phát hành ra công chúng không.
Một số tiêu chí sau sẽ biểu hiện trạng thái của tổ chức phát hành:
- Mức độ phát triển cả công ty ảnh hưởng quyết định đến việc công ty có
nên trở thành công ty đại chúng không. Nói chung, một công ty có mức độ tăng
trưởng vượt quá mức trung bình ngành hứa hẹn sẽ hấp dẫn và thu hút được sự chú ý
của công chúng đầu tư.
- Sự ổn định về mặt tăng trưởng là yếu tố quan trọng khi quyết định phát
hành. Kinh nghiệm cho thấy những công ty thành công khi phát hành ra công chúng
là những công ty đã chứng minh được khả năng ổn định về sự phát triển ở cả khía
cạnh lợi nhuận qua vài năm trước đó. Điều kiện này càng quan trọng khi tổ chức phát
hành muốn thu hút những tổ chức đầu tư.
- Sản phẩm hay dịch vụ của công ty có thu hút được người sử dụng và
nhà đầu tư không. Vì vậy, trước khi quyết định phát hành cần xem xét doanh số bán
hàng trong vài năm gần nhất.
- Trình độ quản lý của bộ máy lãnh đạo phải tốt đảm bảo tiến độ và chất
lượng chuẩn bị hồ sơ, thủ tục phát hành; tiến hành gặp gỡ các khách hàng tiềm năng,
các nhà phân tích…Những hoạt động này góp phần thu hút sự tin tưởng của nhà đầu
tư.

giao dịch tăng cao. Ngược lại, chứng khoán của các công ty đại chúng được giao dịch
trên thị trường tập trung và có tổ chức nên chi phí giao dịch thấp hơn. Lợi ích này đặc
biệt quan trọng đối với những cổ đông nhỏ. Điều này làm cho giá chứng khoán của
các công ty đại chúng thường cao hơn so giá cổ phiếu của công ty không phát hành
cổ phiếu ra công chúng.
d. Đa dạng hóa các danh mục đầu tư.
Thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng cho phép công ty và nhà đầu
tư của công ty có thể đa dạng hóa các khoản mục đầu từ nhằm tránh rủi ro hoặc để
tìm kiếm tiền mặt phục vụ những chi tiêu cần thiết khác. Điều này có thể thực hiện
gián tiếp bằng cách giảm tỷ lệ cổ phiếu nắn giữ của công ty để đầu tư vào loại tài sản
khác hoặc thực hiện trực tiếp bằng cách công ty sau khi tăng vốn mới sau quá trình
phát hành có thể đầu tư vào việc nắm giữ cổ phiếu của các công ty khác.
e. Thay đổi quyền kiểm soát công ty.
Trở thành công ty đại chúng có thể làm giảm những vấn đề bất đồng thường
nảy sinh trong mối quan hệ giữa cổ đông và người điều hành. Những qui định của thị
trường chứng khoán sẽ điều chỉnh chặt chẽ mối quan hệ này. Nhiều nghiên cứu cho
thấy rằng cổ đông của các công ty đại chúng có thể nhận thức được những thông tin
qua sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường từ đó quyết định về chế độ đãi ngộ hay
xử lý với người quản lý điều hành công ty.
f. Nâng cao uy tín và xây dựng thương hiệu.
Các tổ chức phát hành cổ phiếu ra công chúng thường được đánh giá cao hơn
so với các công ty khác. Điều này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là đối với các công
ty muốn thu hút và tạo sự tin tưởng với khách hàng hay những nhà cung cấp dựa trên
uy tín mà công ty đã xây dựng. Theo một nghiên cứu thì nhờ sự chú ý của công
chúng mà giá trị cổ phiếu các công ty này thường tăng 5% so với thời gian trước.
Ngoài ra, điều này còn giúp các công ty thu hút được sư chú ý của các công ty khác
và tăng thêm giá trị của công ty khi muốn thực hiện sáp nhập hay thôn tính.
g. Được hưởng các ưu đãi khác.
Để khuyến khích các công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng, chính phủ
mỗi nước đều có các biện pháp cụ thể như miện giảm thuế thu nhập cho công ty

2. Hạn chế.
- Phát hành cổ phiếu ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể
làm mất quyền kiểm soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín
công ty. Bên cạnh đó, cơ cấu về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do
chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ phiếu hàng ngày. Chi phí phát hành chứng
khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy động, bao gồm các
chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí
niêm yết… Ngoài ra, hàng năm công ty cũng phảI chịu thêm các khoản chi phí phụ
như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp
cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.
- Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế
độ công bố thông tin rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với
các công ty khác. Hơn nữa, việc công bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí
cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị
rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnh tranh bất lợi.
- Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước
công chúng. Ngoài ra, do qui định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần
của họ thường bị hạn chế.
IV. Thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng.
- Bước 1: chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành. Hồ sơ đăng kí chào bán cổ
phiếu ra công chúng được qui định tại Thông tư 17/2007/TT-BTC. Hồ sơ này bao
gồm:
o Giấy đăng kí chào bán cổ phiếu ra công chúng.
o Bản cáo bạch theo qui định cả Bộ Tài chính.
o Điều lệ của công ty.
o Quyết định của Đại hội cổ đông thông qua phương án phát hành và sử
dụng vốn huy động được.
o Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)
o Quyết định của Hội đồng quản trị thông qua hồ sơ.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì có một số yêu cầu

điều lệ
Lãi Số cổ phần
nhỏ
Tỷ lệ ra công
chúng
Ba Lan 3
năm
20% và 1.2
triệu USD
Hungari (có
ngoại tệ)
2 triệu
USD
3
năm
50 20% và 5
triệu USD
Thái Lan 2.4
triệu USD
3
năm
600 15-30%
Trung Quốc 640000
USD
3
năm
Mỗi cổ
đông không quá
0.05% số cổ phiếu
Thường là

kế toán.
2. Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí chào bán phải
có lãi đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán.
3. Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ
phiếu được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
4. Tối thiểu 20% vốn cổ phần của tổ chức phát hành phải được bán cho
trên 100 người đầu tư ngoài tổ chức phát hành, trường hợp vốn cổ phần của tổ chức
phát hành từ 100 tỷ đồng trở lên thì tỷ lệ tối thiểu này là 15% vốn cổ phần của tổ
chức phát hành.
5. Cổ đông sáng lập phải nắm giữ ít nhất 205 vốn cổ phần của tổ chức
phát hành và phải nắm giữ mức này tổi thiểu 3 năm kể từ ngày kết thúc việc phát
hành.
6. Trường hợp cổ phiếu phát hành có tổng giá trị theo mệnh giá vượt 10 tỷ
đồng thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.
Ngoài ra, đối với từng ngành, lĩnh vực, từng loại hình doanh nghiệp, Nhà nước
có các qui định cụ thể riêng ở Điều 4 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007.
3. Quy trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.
- Xác định loại, số lượng và giá trị cổ phiếu phát hành: Công ty tổ chức
đại hội cổ đông để xin ý kiến chấp thuận về việc phát hành cổ phiếu ra công chúng;
thống nhất mục đích huy động vốn, số lượng vốn huy động, chủng loại và số lượng
cổ phiếu các loại, cơ cấu vốn phát hành dự kiến phân phối cho các đối tượng…
- Lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành và tổ chức tư vấn.
- Chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành. Công ty cùng với công ty kiểm
toán và tổ chức tư vấn xác nhận báo cáo tài chính, xây dựng phương án phát hành,
tiến hành định giá cổ phiếu phát hành và dự thảo bản cáo bạch để cung cấp cho nhà
đầu tư. Công ty kiểm toán xác nhận các báo cáo tài chính trong hồ sơ xin phép phát
hành.
- Nộp hồ sơ lên Ủy ban chứng khoán Nhà nước.
- Sau khi được cấp phép phát hành, tổ chức phát hành phải ra thông báo
phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng, tiến hành công bố ra công chúng

biến là các dạng sau:
- Đấu giá kiểu Hà Lan.
Trong một sàn đấu giá kiểu Hà Lan truyền thống, người điều khiển ban đầu sẽ
hô giá cao, rồi thấp dần cho tới khi có người mua chấp nhận mức giá đó hoặc chạm
đến mức giá sàn dự định bán ra. Người mua đó sẽ mua món hàng với mức giá đưa ra
cuối cùng. Hình thức này đặc biệt hiệu quả khi cần đấu giá nhanh món hàng nào đó,
vì có những cuộc mua bán không cần đến lần trả giá thứ hai, một ví dụ tiêu biểu là
việc bán hoa tulip . Kiểu đấu giá này còn được sử dụng để mô tả đấu giá trực tuyến
khi một số món hàng đồng nhất được bán đồng thời cho một số người cùng ra giá cao
nhất.
- Bảo lãnh cam kết.
- Dịch vụ với trách nhiệm cao nhất.
- Mua buôn để chào bán lại.
- Tự phát hành.
VI. PHÁT HÀNH SƠ CẤP.
1. Khái niệm.
Phát hành sơ cấp là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty cho rộng rãi
các công chúng đầu tư.
2. Phân loại phát hành sơ cấp.
Việc phát hành thêm cổ phiếu có thể chia thành hai loại
a. Phát hành thêm cổ phiếu không đi kèm với việc tăng nguồn tài chính.
Đây là trường hợp công ty không thu tiền thêm từ cổ đông mà phát hành cổ
phiếu từ lợi nhuận giữ lại hoặc từ thặng dư vốn. Điều này đồng nghĩa với việc chuyển
một phần hoặc toàn bộ số dư từ tài khoản thặng dư vốn hoặc tài khoản vốn điều lệ
sang tài khoản vốn điều lệ. Nói cách khác, giá trị của vốn cổ đông không thay đổi, tỷ
lệ sở hữu của cổ đông trong doanh nghiệp của cổ đông không thay đổi, giá trị của
doanh nghiệp cũng không thay đổi.
b. Phát hành cổ phiểu đi kèm với việc tăng nguồn tài chính cho công ty.
Trong trường hợp này công ty thu tiền mua cổ phần từ cổ đông để đầu tư vào
các dự án, mở rộng hoạt động kinh doanh. Nếu vốn tăng thêm được sử dụng để mang

1. Lần phát hành thêm phải cách 1 năm sau lần phát hành trước.
2. Giá trị cổ phiếu phát hành thêm không lớn hơn tổng giá trị cổ phiếu
đang lưu hành.
C. PHÁT HÀNH RIÊNG LẺ.
I. Khái niệm.
Phát hành chứng khoán riêng lẻ hay còn gọi là phát hành chứng khoán chào
bán trên phạm vi hẹp, là hình thức phát hành chứng khoán dành bán cho một số
lượng hạn chế các nhà đầu tư và tổng số tiền phát hành ở một mức nhất định.
II. Lợi ích phát hành.
1. Xét từ góc độ tổ chức phát hành:
- Trong dài hạn: Việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ giúp doanh nghiệp tìm
được sự hỗ trợ về mặt công nghệ, tài chính, quản trị nếu họ chọn được những cổ
đông chiến lược theo đúng nghĩa.
- Trong ngắn hạn:
o Tăng vốn ngay lập tức làm cho vốn điều lệ của doanh nghiệp tăng lên
o Thay đổi cơ cấu sở hữu
o Tìm kiếm khoản thặng dư xuất hiện sau các đợt phát hành, thặng dư
vốn không hạch toán vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp nên không tính thuế
thu nhập và thuế giá trị gia tăng với khoản này.
Thặng dư vốn cổ phần chính là chênh lệch mệnh giá cổ phiếu và giá bán ra thị
trường khi phát hành thêm cổ phiếu.
Các hoạt động phát hành cổ phiếu riêng lẻ nhằm huy động vốn không được
coi là doanh thu hoạt động tài chính của công ty cổ phần.Thặng dư vốn không hạch
toán vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp nên không tính thuế thu nhập và thuế
giá trị gia tăng với khoản này.
Một số công ty cổ phần các cổ đông đòi chia số thặng dư vốn này bởi vào thời
điểm đó doanh nghiệp chưa có phương án kinh doanh và sử dụng nguồn vốn đó một
cách thuyết phục hoặc những dự án mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực mới chưa thực
sự thuyết phục khiến cổ đông không yên tâm thêm vào đó ban lãnh đạo chưa giải
thích và có những cam kết rõ rang với cổ đông. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp lại sử

thấp hoặc chưa có lãi trong giai đoạn đầu mới phát hành chứng khoán.
- Những tổ chức phát hành chứng khoán riêng lẻ phải lập được dự án đầu
tư và phương án sản xuất kinh doanh khả thi và việc sử dụng nguồn vốn thu được từ
đợt phát hành. Có quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và
phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông và
Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông cho
Hội đồng quản trị ( đối với công ty cổ phần); hoặc hội đồng thành viên, chủ sở hữu
công ty (đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ phần);
hoặc chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên
doanh( đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển thành công ty cổ
phần).
o Phương án chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư
được chào bán dưới 100 nhà đầu tư và hạn chế chuyền nhượng cổ phần tối thiểu
trong vòng 1 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán.
o Trường hợp chào bán cho các đối tác chiến lược tổ chức chào bán phải
xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược.
o Những người có quyền lợi liên quan đến đợt chào bán riêng lẻ không
được tham gia biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về việc này.
o Có hồ sơ đăng kí chào bán cổ phần riêng lẻ đầy đủ và hợp lệ gửi tới cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến việc chào bán,
trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
o Các đợt phát hành riêng lẻ phải cách nhau ít nhất 6 tháng.
o Đảm báo tuân thủ các quy định về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư trong
trường hợp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.
3. Ưu điểm của phát hành cổ phiếu riêng lẻ.
- Công ty không đủ điều kiện để phát hành ra công chúng có thể áp dụng
phương thức phát hành riêng lẻ.
- Số lượng vốn cần huy động nhỏ, mục đích chọn phát hành riêng lẻ để
giảm chi phí.
- Công ty phát hành riêng lẻ nhằm duy trì các mối quan hệ trong kinh

ụng chin lc ca doanh nghip taoh ra nhiu li th hn cho doanh nghip khi
mun m rng quy mụ cng nh lnh vc sn xut. Thờm na iu ny cng giỳp
doanh nghip tp trung c quyn kim soỏt cụng ty v chia s li ớch cho mt s ớt
ngi.
o Khụng mun cụng b rng rói vic phỏt hnh thng khi khụng
mun cụng b thụng tin phỏt hnh rng rói thỡ ch cú rt ớt nh u t ln cú th mua
c c phiu trong t phỏt hnh.iu ny giỳp doanh nghip qun lớ tt hn s c
phn ó phỏt hnh v gim bt chi phớ phỏt hnh.
V. THU TUC PHAT HANH.
Thủ tục phát hành và chào bán chứng khoán riêng lẻ thờng đợc pháp luật các
nớc quy định đơn giản hơn nhiều so với hình thức chào bán chứng khoán ra công
chúng. Đó là, khi công ty cần phát hành chứng khoán để huy động vốn không phải
xin cấp giấy phép nhng phải đăng ký và nộp lệ phí cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc,
không cần phải quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại chúng, trừ hội nghị hẹp
với các nhà đầu t tiềm tàng.
Cụ thể bao gồm các bớc:
a). Đăng ký phát hành.
Sau khi chuẩn bị chu đáo cho việc phát hành, tổ chức phát hành phải nộp bản
đăng ký phát hành cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc. Trong đăng ký thờng bắt buộc
phải có những tài liệu chủ yếu:
- Báo cáo tình hình kinh doanh của công ty.
- Tiểu sử ban giám đốc và cán bộ quản lý công ty.
- Phơng pháp phát hành chứng khoán để huy động vốn mà công ty sẽ sử dụng
cho đợt phát hành.
- Phơng án sử dụng vốn huy động đợc.
- Các báo cáo tài chính đã đợc xác nhận của cơ quan kiểm toán hoặc là cơ
quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Uỷ ban chứng khoán của Nhà nớc sẽ xem xét bản đăng ký trong một thời gian
nhất định (ở nhiều nớc quy định là 20 ngày). Khi xem xét trong bản đăng ký còn
thiếu dữ liệu hoặc có điểm không chính xác, Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc sẽ yêu cầu

yờt trờn HNX (s giao dich chng khoan Ha Nụi) cua cụng ty chng khoan Sai Gon
Ha Nụi vi ma SHS. Cac cụ phiờu nay thng co mc gia rõt cao nh VCB (ma
giao dich cua cụ phiờu Ngõn hang thng mai cụ phõn ngoai thng Viờt Nam
Vietcombank - HOSE) 60000 VND/cp, CTB 50000 VND/cp (ma cụ phiờu cua cụng
ty cụ phõn chờ tao bm Hai Dng HNX), BVS 39500 VND/cp (ma cụ phiờu cua
Cụng ty cụ phõn chng khoan Bao Viờt - HNX) . Mc du do tac ụng cua xu thờ thi
trng trong thi gian o, cac cụ phiờu nay cung khụng tranh khoi viờc i xuụng
nhng thụng qua viờc tiờn hanh IPO, danh tiờng cua cac cụng ty a c quang ba.
Qua thi gian, gia cua cac cụ phiờu blue chip nay se khụng ngng tng cao tao ra tinh
thanh khoan ln cho thi trng.
- IPO nm 2008:
T u nm 2008 n u quý III, ngoi hai phiờn u giỏ c phn ln u
(IPO) ca Tng Cụng ty Ru bia Nc gii khỏt Si Gũn (Sabeco) v H Ni
(Habeco) thỡ cha cú thờm mt phiờn IPO ln no, ti sn HOSE cú khong 20 DN
IPO v a s ch bỏn c 20-30% s c phn em ra u giỏ, ngay c i gia
Sabeco cũng chỉ bán được 78/128 triệu cổ phần. Hàng loạt DN thiếu vốn và dù có kế
hoạch IPO từ 2007 nhưng đều ngán ngại, đành phải gác lại kế hoạch cổ phần hóa.
Nhiều DN lớn như Mobifone, Vietinbank, VinaPhone, một số DN thuộc Tập
đoàn điện lực Việt Nam (EVN), Vinatex dự kiến IPO trong năm 2008 nhưng vẫn
“chần chừ”, một phần do chuẩn bị chưa xong, phần khác chờ thị trường chứng khoán
nóng trở lại.
Tuy nhiên các DN đều thừa nhận IPO là tất yếu và việc EVN đang trông chờ
các đợt IPO sắp tới của DN thành viên như là nguồn cung vốn chủ yếu. Nhiều
chuyên gia tài chính cũng cho rằng cần đảm bảo tiến độ, lộ trình IPO, nhất là đối với
các DN nhà nước, vì IPO còn đem lại nhiều lợi ích khác.
- IPO năm 2009:
Năm 2009, trái ngược với sự sôi động của thị trường chứng khoán, hoạt động
chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) lại lâm vào cảnh "chợ chiều". Theo
Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
(HNX), từ đầu năm đến nay, hai đơn vị này tiến hành IPO cho 27 doanh nghiệp ,

chỉnh giảm sâu. Ngân hàng Nhà nước ra chỉ thị 03 yêu cầu các ngân hàng thương mại
đưa tỷ lệ dư nợ cho vay chứng khoán về mức từ 3% trở xuống. Như môt chiếc xe
đang bon bon bỗng phanh khự, mọi người và tài sản trên xe nháo nhào cả, Vn-Index
tiếp tục trượt dốc nhà đầu tư lỗ nhiều hơn lãi, các ngân hàng thương mại bị buộc phải
điều chỉnh chiến lược kinh doanh, nguồn vốn hạn hẹp dẫn tới IPO nhiều doanh
nghiệp không có người mua, thất bại.
- Cơ quan thuế không đứng ngoài cuộc vì chỉ tiêu sức ép: năm sau thu
luôn phải cao hơn năm trước. Năm 2007 là năm đầu gia nhập WTO, thuế nhập khẩu
nhiều mặt hàng giảm do đã có lộ trình giảm thuế theo cam kết với WTO, thuế nhập
khẩu giảm thì đương nhiên phải có nguồn thu khác thế vào. Năm 2006 là năm khá
thành công của thị trường chứng khoán vậy đây chính là đối tượng phải thu chứ còn
tìm đâu nữa. Ngay lập tức, một dự thảo Luật được ra đời với mức thuế đánh vào
những người đầu tư chứng khoán là 25%, tỷ lệ này sau nhiều lần gây tranh cãi được
rút xuống 20% và được Quốc hội thông qua. Chỉ thị 03 và Luật thuế thu nhập cá
nhân trực tiếp hay gián tiếp đã ảnh hưởng tới thị trường, tâm lý nhà đầu tư lo ngại bị
thu thuế, phải bán cổ phiếu cầm cố để trả nợ ngân hàng, khiến thị trường liên tục
giảm điểm mà vẫn không có người mua.
Nói chung, các chính sách vĩ mô của nhà nước còn thiếu đồng bộ giữa các cơ
quan nhà nước gây khó khăn cho doanh nghiệp và cho thị trường.
b. Các doanh nghiệp IPO và tính minh bạch về thông tin.
Những điểm đáng chú ý trong quá trình IPO các doanh nghiệp lớn như Bảo
Việt, VCB, Sabeco đó là định giá doanh nghiệp, thông tin không rõ ràng về kết quả
kinh doanh, việc sử dụng nguồn vốn thặng dư sau khi IPO.
- Định giá doanh nghiệp: không chuyên nghiệp và thiếu chính xác.
Các doanh nghiệp này có một đặc điểm khá trùng lặp là có số vốn điều lệ rất
thấp trước khi IPO , cụ thể Bảo Việt 1800 tỷ sau khi IPO là 6.800 tỷ, VCB là 4.300 tỷ
sau khi IPO là 15.000 tỷ, Sabeco 2.200 tỷ sau khi IPO là 6.400 tỷ. Với số vốn điều lệ
bỗng nhiên lớn như vậy, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đương nhiên giảm, tỷ số P/E
(Giá/Thu nhập mỗi cổ phần) sẽ rất cao nếu so sánh với tỷ số P/E của các cổ phiếu
Bluechip tốt đang giao dịch trên sàn HOSE và HASTC. Giá đấu bình quân của Bảo

các khoản đầu tư tài chính thông tin chưa cụ thể, báo cáo tài chính tự nhiên xấu đi so

Trích đoạn Minh bạch húa thụng tin và nõng cao uy tớn và tăng giỏ trị cho cụng ty.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status