Phát triển kế hoạch kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cổ phần sách và thiết bị giáo dục trí tuệ trong môi trường hội nhập - Pdf 37

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
MỤC LỤC

Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
DANH MỤC VIẾT TẮT
• CTPT: Công ty cổ phần
• DT: Doanh thu
• LNKT: Lợi nhuận kế toán
• LNTT: Lợi nhuận trước thuế
• LNST: Lợi nhuận sau thế
• TBGD: Thiết bị giáo dục
• TDT: Tổng doanh thu
• THCS: Trung học cơ sở
• THPT: Trung học phổ thông
• VNĐ: Việt Nam đồng

Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sinh viên: Lê Hải Long

trách nhiệm hữu hạn kinh doanh xuất bản phẩm. Số lượng lớn các nhà sách hình
thành góp phần đem lại một thị trường cung cấp sách và xuất bản phẩm sôi động,
đem lại sự thoải mái, kịp thời trong hoạt động tiếp thu với tri thức, giải trí với sách
thường ngày đối với người tiêu dùng.
Kể từ sau năm 2011 cho tới hiện nay, đây là khoảng thời gian mà ngành in ấn
và xuất bản cũng phải chứng kiến giai đoạn giảm tốc nhanh chóng. Tính đến ngày
25/12/2014, tổng doanh thu toàn ngành ước đạt trên 2000 tỷ đồng 1, tới từ nhiều
thành phần, trong đó bao gồm: doanh thu của 63 nhà xuất bản trên phạm vị cả nước;
khoảng 1.500 cơ sở in công nghiệp; cùng hơn 13.700 cơ sở phát hành xuất bản
phẩm, trong đó có 117 công ty, đơn vị phát hành sách tỉnh, thành phố, 80 công ty
1

http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2015-12-24/tong-doanh-thu-cua-nganh-xuat-bandat-hon-2000-ty-dong-trong-nam-2015-27320.aspx

Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

5

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
thuộc thành phần kinh tế khác. Đặc biệt trong đó, số lượng các doanh nghiệp kinh
doanh sách và xuất bản phẩm đã biến động đáng kể, với 13.500 trung tâm, siêu thị
sách, nhà sách, hộ kinh doanh, các điểm bán sách trên toàn quốc, giảm mạnh so với
trước năm 2011. Những doanh nghiệp yếu kém và chậm thay đổi đã buộc phải tái
cấu trúc, hoặc đã bị loại bỏ khỏi cuộc chơi khốc liệt của thị trường này.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của mạng Internet mà quá trình toàn cầu hóa lần
thứ ba đem lại, số lượng người dân được tiếp xúc với internet đã gia tăng vượt trội, và

Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

6

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
Thông qua việc tiến hành nghiên cứu, đánh giá và phân tích các quan điểm về
kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp cùng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
tác giả tập trung đi sâu vào 2 khía cạnh chính là nội dung kế hoạch kinh doanh và
các thành tố cấu tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó hướng tới
nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vì vậy, chuyên đề thực tập sẽ tập
trung vào các mục tiêu chính như sau:
- Làm rõ các khái niệm về kế hoạch kinh doanh và các yếu tố hình thành nên
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Phân tích và làm rõ các ảnh hưởng lí thuyết
của kế hoạch kinh doanh tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Trên cơ sở lí thuyết trên, có thể làm rõ những ưu và nhược điểm thực tế tồn
tại trong các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như xác định được tổng
quát về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp này.
- Dựa vào những khoảng trống từ các bản kế hoạch kết hợp với đánh giá tình
hình kinh doanh của doanh nghiệp để đưa ra những đề xuất và giải pháp phát triển
kế hoạch kinh doanh phù hợp, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên
thị trường trong hiện tại và tương lai.
3/ Nội dung
3.1/ Đối tượng nghiên cứu
- Kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3.2/ Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung

Dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp (20102015) cùng các nguồn liên quan nếu cần.
5/ Kết cấu đề tài
Đề tài "Phát triển kế hoạch kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Doanh nghiệp Cổ phần Sách và Thiết bị Giáo dục Trí Tuệ trong môi
trường hội nhập" được chia làm 3 chương chính:
• CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ HOẠCH KINH DOANH VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP
• CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KẾ HOẠCH KINH DOANH
TRONG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH
VÀ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TRÍ TUỆ
• CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN KẾ HOẠCH
KINH DOANH HƯỚNG TỚI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TRÍ TUỆ

Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

8

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ HOẠCH KINH DOANH VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1/ Nội hàm của kế hoạch kinh doanh tại doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường
1.1.1/ Kinh doanh và doanh nghiệp kinh doanh

Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

9

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Tuy nhiên, có một số ý kiến xem xét về tổng thể vai trò của doanh nghiệp:
"Doanh nghiệp là một trong số các chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội" và
"Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập để thực hiện các hoạt động
kinh doanh nhằm mục đích sinh lời"
Từ các quan điểm về kinh doanh và về doanh nghiệp, theo quan điểm cá nhân,
tôi xin đưa ra ý hiểu của mình về doanh nghiệp kinh doanh như sau: "Doanh nghiệp
kinh doanh là tổ chức theo luật định, là một trong các chủ thể của nền kinh tế, thực
hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời"
1.1.2/ Nội dung của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm có nhiều hình thức khác
nhau, điển hình như: Sản xuất hàng hóa tiêu dùng hữu hình; Cung cấp các dịch vụ
đem lại giá trị gia tăng cho những hàng hóa trung gian trước khi cung cấp tới khách
hàng cuối cùng; Chế biến hoặc là hoạt động đầu tư vào các loại hình tài sản nhất
định. Bên cạnh đó còn xuất hiện các hoạt động thương mại được gắn chặt với sản
phẩm là hàng hóa, dịch vụ...
Nhiệm vụ của hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh có nhiệm vụ chính là tạo ra của cải vật chất cho xã hội,
và đem lại lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cho các chủ thể tham gia.
Bản chất của hoạt động kinh doanh là tạo ra giá trị cho những loại dịch vụ và

điểm cá nhân của tôi, mỗi cách thức phân loại đều đem tới cho chủ thể sử dụng kế
hoạch những ưu điểm nhất định. Phân loại theo thời gian có thể giúp chủ thể kinh
doanh định hướng và theo dõi kế hoạch thuận lợi để đáp ứng các yêu cầu về thời
gian của bản kế hoạch. Còn đối với hình thức phân loại theo nội dung, đây là kiểu
phân loại phù hợp cho doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hướng tới đơn giản hóa, tập
trung mạnh vào quá trình sản xuất và tận dụng tốt các mối quan hệ giữa những
phòng ban chức năng trong bộ máy của mình. Điển hình như trong kế hoạch tác
nghiệp của một doanh nghiệp, các kế hoạch cụ thể ở những bộ phận riêng biệt trong
tổng thể hoạt động kinh doanh đều được đề cập tới: Kế hoạch sản xuất, kế hoạch
Marketing, kế hoạch tài chính, kế hoạch nhân sự. Chính vì vậy, hoạt động giữa các
bộ phận có thể trở nên tốt hơn, có tính tương tác và thích nghi cao hơn, phù hợp với
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

12

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
điều kiện cơ cấu doanh nghiệp đơn giản hóa.
Những kế hoạch kinh doanh thường có nội dung theo sát với loại hình và đối
tượng mà nó hướng tới. Các kế hoạch theo thời gian thường được xây dựng để
hướng tới nhiều mục tiêu nằm trong khoảng thời gian nào đó ở tương lai. Tuy
nhiên, hệ thống kế hoạch này thường được áp dụng cho các cơ quan, tổ chức thuộc
khu vực nhà nước.
Trong hệ thống còn lại, kế hoạch kinh doanh theo nội dung gồm kế hoạch
chiến lược và kế hoạch tác nghiệp. Loại hình này hay được gặp trong các doanh
nghiệp tư nhân, gắn liền tới các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nội dung
cơ bản của chúng yêu cầu cần có hai phần chính: Mục tiêu cần đạt được và phương

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

13

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
trong doanh nghiệp, đưa các hoạt đó theo một trình tự, với những phương pháp xác
định để thực hiện. Cuối cùng, kế hoạch hóa sẽ hướng cho các hoạt động của doanh
nghiệp đi tới được những mục tiêu đã định.
Tiếp tục phân tích vào "kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp", ta nhận thấy rằng kế hoạch hóa doanh nghiệp ở đây được xác định
trở thành một phương thức quản lý doanh nghiệp theo mục tiêu. Cụ thể hơn, sự
quản lý này bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ đích của các
nhà lãnh đạo và quản lý, hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh...của doanh
nghiệp mình, từ đó đạt được những mục tiêu đã đề ra. Đến đây, kế hoạch hóa dường
như là một phương pháp cho phép xây dựng những bức tranh tương lai đáng mong
đợi mà doanh nghiệp muốn vươn tới được, kèm theo là quá trình tổ chức, triển khai
thực hiện mục tiêu đó.
1.1.3.4/ Vai trò của kế hoạch kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Đất nước càng tiến sâu trên con đường hội nhập, nền kinh tế thị trường càng
trở nên rõ rệt, các doanh nghiệp thường xuyên đối mặt và ứng phó với những quy
luật thị trường hiện hữu mạnh mẽ hơn. Lúc này, doanh nghiệp thực hiện sản xuất
hay kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn luôn biến động. Các yếu tố liên
quan tới chi phí, sở thích của khách hàng, các yếu tố tài chính hay đối thủ cạnh
tranh luôn dễ bị thay đổi theo nhiều hướng khác nhau. Khi áp dụng quan điểm hoạt
dộng kinh doanh theo thị trường, doanh nghiệp cần có sự linh hoạt rất lớn trong hệ
thống quản lý và ra quyết định của mình. Các giá trị về tài chính sẽ được tập trung
ưu tiên theo đường lối này, nhưng những giá trị có tính vững bền và lâu dài mà một
doanh nghiệp cần xây dựng sẽ rất khó để thích ứng đối với những biến đổi quá
nhanh chóng trên thị trường đầy cạnh tranh. Những giá trị khác ngoài tài chính ấy
có thể kể tới như vị thế mà doanh nghiệp mong muốn xác lập trên thị thường, danh

trình hình thành thực hiện các chính sách, hoạt động của doanh nghiệp ở hiện tại và
tương lai. Có rất nhiều vai trò mà kế hoạch hóa cũng nhưng kế hoạch kinh doanh có
thể tạo ra, nhưng trong phạm vi chuyên đề, tôi xin hướng tới ba vai trò chính. Đây
là những vai trò lớn nhất, rõ ràng và thể hiện sâu sắc nhất ở nhiều loại kế hoạch
kinh doanh cùng kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường ngày nay.
- Công tác kế hoạch hóa với việc ứng phó với những bất định và đổi thay của
thị trường. Do đó, kế hoạch kinh doanh cũng thể hiện nguyên vẹn vai trò này đối
với doanh nghiệp. Kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế luôn luôn ẩn chứa
nhiềm biến động. Trong đó, các mối quan hệ và quy luật trong đó liên tục bổ sung
cho nhau, tương tác nhau cả xuôi chiều và nghịch chiều, đem tới ảnh hưởng cho các
chủ thể hoạt động kinh doanh trong môi trường đó. Kế hoạch hóa nhắm tới các mục
tiêu tương lai, nên khả năng chính xác sẽ bị phụ thuộc rất lớn vào mức độ ổn định
của thị trường. Để tránh mắc phải những sai lầm của kế hoạch hóa trong nền kinh tế
tập trung, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường cần phải giúp doanh nghiệp
thích ứng và đối phó tốt hơn với thị trường trong tương lai, ổn định hoạt động của
doanh nghiệp. Vì thế, kế hoạch hóa cũng cần được linh hoạt và thay đổi để phù hợp
với tình hình, góp phần điều chỉnh các hoạt động cần thiết để đảm bảo thực thi các
mục tiêu đề ra.
- Kế hoạch hóa cũng gắn với chức năng tạo ra khả năng tác nghiệp kinh tế
trong doanh nghiệp. Khi có kế hoạch hóa, doanh nghiệp đã xác định rằng nó đang
hướng tới mục tiêu gì trong tương lai, định hình được nó phải làm gì để đạt được
những mục tiêu ấy. Từ ấy, kế hoạch hóa góp phần loại bỏ đi sự manh mún và thiếu
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

15


vấn đề họ quản lý.
Thứ hai, chu kì của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới các kế hoạch kinh
doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn trong vòng
đời của nó, từ khi hình thành, tiến tới tăng trưởng, sau đó phát triển ổn định và cuối
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

16

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
cùng là suy thoái. Ứng với mỗi giai đoạn, các kế hoạch kinh doanh sẽ có độ dài thời
gian và tính chi tiết khác nhau. Vì vậy, các nhà quản lý sẽ cần lập những bản kế
hoạch sao cho phù hợp với nhân tố này, đảm bảo hoạt động hiệu quả, tránh được
những thay đổi tiêu cực ảnh hưởng tới doanh nghiệp của mình.
Nhân tố thứ ba được đề cập là tính không chắc chắn của môi trường kinh
doanh. Những yếu tố xung quanh một doanh nghiệp luôn có sự biến động và đổi
mới không ngừng. Vì vậy, các kế hoạch được lập ra phải có khả năng giúp cho các
nhà quản lý chèo lái doanh nghiệp vượt qua được những tác động của môi trường
bên ngoài tới doanh nghiệp. Đối với môi trường kinh doanh nhiều biến động, các kế
hoạch cần ngắn hơn, chi tiết hơn và dễ dàng chỉnh lý và cập nhật kịp thời để đảm
bảo khả năng theo sát diễn biến thị trường. Những doanh nghiệp hoạt động trong
môi trường tương đối ổn định thì sẽ cần yêu cầu các kế hoạch kinh doanh có thời
gian dài, tầm nhìn tương lai xa hơn và không cần quá cụ thể. Qua đó, kế hoạch kinh
doanh sẽ hướng tới xử lí ba hình thức không chắc chắn: Tình trạng không chắc chắn
của thị trường; Hậu quả từ không chắc chắn; Sự phản ứng không chắc chắn.
Sự hạn chế của các nguồn lực cũng góp phần ảnh hưởng tới nội dung của kế
hoạch kinh doanh. Trên thực tế, rất ít doanh nghiệp có nguồn lực vô hạn trong vòng

cầu thay đổi quan niệm năng lực cạnh tranh sao cho phù hợp với thời kì mới.
Thứ hai là năng lực cạnh tranh không chỉ đơn thuần là khả năng tranh đua và
giành thị phần hay tập trung vào yếu tố sản xuất, mà con tăng khả năng sáng tạo và
mở rộng thị trường cho sản phẩm.
Cuối cùng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần tùy thuộc vào phương
thức cạnh tranh phù hợp tại quốc gia sở tại, không tập trung tuyệt đối vào lợi thế so
sánh mà còn dựa vào quy chế và lợi thế cạnh tranh.
Qua những quan điểm trong và ngoài nước, cũng như từ những yêu cầu cần có
để xây dựng một khái niệm sao cho phù hợp với thực tế hơn, theo tôi, khái niệm
năng lực cạnh tranh có thể được biểu diễn như sau:
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

19

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng và tiềm lực
mà doanh nghiệp có, được sử dụng để duy trì vị trí của nó trên thị trường, nâng cao
lợi thế cạnh tranh trong nhiều mặt như: Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; Mở rộng hệ
thống phân phối cùng mạng lưới tiêu dùng; Sử dụng hiệu quả nguồn lực nội tại
nhằm đạt được các giá trị kinh tế và phi kinh tế dài lâu.
1.2.2/ Vai trò của năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là khái niệm được sử dụng trong quá trình nghiên cứu về
cạnh tranh. Nó được xem xét ở nhiều cấp độ như: Năng lực cạnh tranh quốc gia,
ngành, doanh nghiệp, cụ thể nhất là năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.
Hiểu cụ thể hơn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện được khả năng và
lợi thế thực tế của doanh nghiệp khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác trong


GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
- Thị phần tương đối: Dùng để so sánh về doanh số của doanh nghiệp và đối
thủ cạnh tranh mạnh nhất có mặt trên thị trường lúc bấy giờ. Qua việc so sánh này,
có thể theo dõi được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Sử dụng các chỉ tiêu thị phần giúp doanh nghiệp có thể nhìn nhận đúng đắn vị
trí và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường, từ đó đưa ra các chiến lược hợp lý
để tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lấy thị phần của đối thủ.
1.2.3.2/ Giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của hàng hóa mà doanh nghiệp thực hiện trao đổi
trên thị trường. Người tiêu dùng muốn sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ phải chi
trả cho khoản tiền bằng với giá cả của chúng. Vì vậy, giá cả quyết định tính cạnh
tranh giữa các nhà sản xuất với nhau, quyết định tình hình biến động của thị trường.
Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua hoạt động so sánh giá bán của các hàng
hóa cùng loại giữa những doanh nghiệp đối thủ với nhau. Nếu xuất hiện sự khác
biệt chất lượng thì giá cả được xem như quá trình so sánh lợi ích mà sản phẩm và
dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng.
Chất lượng cũng là một chỉ tiêu để quyết định sự phát triển bền vững của
doanh nghiệp. Có thể xem xét thông qua chỉ tiêu thành phần, chỉ tiêu kĩ thuật, chỉ
tiêu về thẩm mỹ, chỉ tiêu tiện dụng...
1.2.3.3/ Thương hiệu
Uy tín mà thương hiệu mang lại là yếu tố tác động mạnh tới quyết định tiêu
dùng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Muốn
xây dựng được lòng tin nơi khách hàng, với nhà cung ứng và với các đối tác kinh
doanh, doanh nghiệp cần có vị thế vững chắc trên thị trường, thương hiệu được biết
đến rộng rãi, khả năng trả nợ đúng hạn và có thể chăm sóc khách hàng kịp
thời...Nhưng không chỉ đánh giá ở số lượng, một thương hiệu mạnh khi nó có khả
năng phát triển trong tương lai. Doanh nghiệp có khả năng phát triển càng cao, độ
tin cậy càng lớn, càng giữ được lòng tin của các bên đối với mình.
1.2.4/ Những yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

so với đối thủ cạnh tranh, đem lại năng lực cạnh tranh riêng cho họ.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Bên cạnh nguồn nhân lực, khả năng tài chính cũng quyết định năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Yếu tố này sẽ quyết định xem công ty này có nhiều vốn
hay ít vốn, có khả năng đầu tư ở mức nào, dòng tiền luân chuyển có hiệu quả ra sao
hay có thể chiếm lĩnh thị trường hay không,... Đồng thời, do thực tế ít có doanh
nghiệp nào có nguồn vốn đủ dồi dào để thực hiện toàn bộ các hoạt động của mình,
nên vốn và trình độ gọi vốn đầu tư đều ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Khả năng liên kết với các doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế
Đất nước càng hội nhập thì các doanh nghiệp càng có nhiều điều kiện tiếp cận
với những thị trường bên ngoài lãnh thổ, đồng thời cũng sẵn sàng trước những đợt
xâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, mỗi doanh nghiệp
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

22

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
thường chỉ làm tốt được một hoặc một vài lĩnh vực mà khách hàng mong muốn, đây
chính là cơ hội cho những doanh nghiệp có khả năng tận dụng được các mối liên hệ,
tạo ra các liên kết tới những doanh nghiệp khác. Sự liên kết thuận lợi có thể đem lại
cho họ khả năng linh hoạt hơn trong quá trình hoạt động và phục vụ nhu cầu của
khách hàng, hình thành các mối quan hệ trong cung ứng hàng hóa và nguyên vật
liệu, hay có thể dễ dàng bổ sung những điểm mạnh cho nhau để cùng phát triển trên
thị trường. Không chỉ có các quan hệ bổ trợ, các doanh nghiệp cạnh tranh cũng có
thể tạo ra các liên kết để cùng phát triển ở thị trường trong nước và tiến ra thế giới.


23

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
Nhân tố kinh tế
Đây là nhân tố có tầm ảnh hưởng to lớn, là nhân tố có tác động mạnh nhất
trong nhóm các nhân tố của môi trường vĩ mô này. Doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh nào cũng đều chịu sự ràng buộc khi các yếu tố kinh tế của quốc gia sở tại có
những biến động. Khi nền kinh tế phát triển tốt, việc làm được đảm bảo, mức sống
của dân cư được nâng cao, kéo theo sự tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn,
đem tới nguồn lợi doanh thu cho nhiều doanh nghiệp. Ngược lại, khi nền kinh tế
khủng hoảng, thất nghiệp tràn lan, dân chúng không được tạo điều kiện làm ăn sinh
sống, khiến tỉ lệ tiêu dùng giảm mạnh, tạo khó khăn lớn cho những doanh nghiệp
sản xuất.
Nhân tố chính trị và pháp luật
Chính trị và pháp luật là bộ khung được bộ máy quản lý của mỗi quốc gia thiết
lập nhằm đảm bảo các hoạt động được quy củ, ổn định. Bộ khung này có thể đem
lại cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh cao với nước ngoài khi nó linh hoạt, bám
sát và thực tế, tiến bộ. Nhưng đây cũng sẽ là nhân tố gây kìm hãm doanh nghiệp
phát triển, nếu như tốc độ đổi mới, khả năng phù hợp của nó đi chậm hơn tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế cùng sự lớn lên của doanh nghiệp kinh doanh nội địa.
Đồng thời, sự khác biệt giữa luật pháp và chính trị giữa các quốc gia cũng giúp cho
doanh nghiệp tìm kiếm được những cơ hội để vươn ra thị trường mới trên thế giới.
Nhân tố xã hội- nhân khẩu học
Khách hàng là đối tượng cung cấp sản phẩm và dịch vụ cuối cùng của nhiều
doanh nghiệp kinh doanh. Tại từng quốc gia và lãnh thỗ khác nhau, phong tục
tập quán tại đó lại có nhiều điểm khác biệt. Những thay đổi về tộc người, đặc
điểm dân cư theo vùng...có thể ảnh hưởng tới xu hướng tiêu dùng hàng hóa và
các dịch vụ được cung cấp ở đó. Bên cạnh đặc điểm nhân khẩu học, các yếu tố
văn hóa cũng có nguồn gốc lâu đời và thấm sau vào tâm trí mỗi người, gây ra tác

các yếu tố và đối tượng khác xuất hiện trong ngành ấy. Các đối tượng xuất hiện
trong ngành có thể là các doanh nghiệp cùng ngành, các doanh nghiệp của ngành
khác nhưng có liên quan tới một hay một phần hay công đoạn của thị trường mà
doanh nghiệp tham gia... Để khái quát hóa lại môi trường ngành, tác giả M.Porter,
trong các phân tích của mình, đã đề cập tới mô hình năm lực lượng cạnh tranh nổi
tiếng và còn có khả năng áp dụng cho tới ngày nay.
Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cùng ngành
Những doanh nghiệp trong cùng ngành có hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa dịch vụ mang tính tương đồng đối với doanh nghiệp chủ thể. Sự cạnh
tranh bắt đầu xảy ra khi số lượng sản phẩm hay dịch vụ mà các doanh nghiệp cùng
cung cấp vượt quá nhu cầu của thị trường toàn ngành. Các doanh nghiệp sẽ bắt đầu
cạnh tranh nhau về số lượng người tiêu dùng nhằm tạo ra tăng trưởng về doanh thu
và thị phần của mình. Để thực hiện được công việc này, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
cần có sự thay đổi về nhiều phương diện, họ cần tăng chất lượng sản phẩm, thực
hiện chăm sóc khách hàng tốt hơn, hay có những hoạt động marketing hiệu quả và
thực tế hơn...Để rồi cuối cùng, sẽ chỉ có một số ít các doanh nghiệp dành được niềm
tin của khách hàng và chiếm lĩnh được các đoạn của phân khúc thị trường ấy. Càng
nhiều doanh nghiệp cùng ngày, khả năng dẫn tới cạnh tranh càng cao. Đây là nhân
tố trực tiếp tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng gây áp lực từ khách hàng
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

25

GVHD: ThS. Lê Huỳnh Mai
Đa phần các doanh nghiệp tư nhân sinh ra để phục vụ nhu cầu của một nhóm

tiếp đón đối thủ cạnh tranh.
1.3/ Mối quan hệ giữa kế hoạch kinh doanh với nâng cao năng lực cạnh
Sinh viên: Lê Hải Long
Lớp: Kế hoạch 54A



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status