TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH - Pdf 37

Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Kim Anh

TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH


Đề tài nghiên cứu này thuộc bản quyền của Trung tâm Tư vấn Nguồn lực tài chính vi mô Doanh
nghiệp Nhỏ và Vừa (tiền thân là Nhóm Công tác tài chính vi mô Việt Nam–VMFWG). Việc sao chép
một phần hoặc tái bản đề tài nghiên cứu này chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý chính thức
bằng văn bản của Trung tâm Tư vấn Nguốn lực tài chính vi mô Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa (VMFWG)
trước khi thực hiện sao chép hoặc tái bản.
Đề tài nghiên cứu này được hoàn thành bởi sự hợp tác của Nhóm tác giả nghiên cứu gồm PGS.TS.
Nguyễn Kim Anh, TS. Lê Thanh Tâm, CN. Nguyễn Mạnh Cường, ThS. Nguyễn Văn Thuyết và ThS.
Nguyễn Thị Tuyết Mai với nguồn hỗ trợ tài chính của Quỹ Citi – Ngân hàng Citi, tổ chức ADA và tổ
chức Cordaid. Các ý kiến trong Đề tài nghiên cứu mang tính chất độc lập, không phản ánh quan
điểm của VMFWG.
Quỹ Citi
Quỹ Citi hỗ trợ trao quyền kinh tế và tài chính cho người nghèo, người có thu
nhập thấp trong cộng đồng, nơi mà Citi đang hoạt động. Chúng tôi cộng tác
với một số đối tác để thiết kế và thử nghiệm các sáng kiến dành cho người
nghèo đạt được quy mô, hỗ trợ hoạt động xây dựng kiến thức và năng lực lãnh
đạo. Thông qua phương pháp tiếp cận “Hơn cả nhân đạo”, chúng tôi đặt sức mạnh của các
nguồn lực kinh doanh của Citi và mọi người cùng làm việc để tăng cường đầu tư nhân đạo và
cải thiện cộng đồng. Để biết thêm thông tin xin truy cập trang web:
/>Tổ chức quốc tế ADA
ADA là một tổ chức phi chính phủ đến từ Luxembourg hoạt động để thúc đẩy
tài chính cho người nghèo trên toàn thế giới. ADA tin rằng tiếp cận các dịch vụ
tài chính cho người nghèo có thể mang lại một sự cải thiện lâu dài cho điều
kiện sống của dân cư nghèo. Vì vậy, ADA hỗ trợ các chuyên gia về tài chính
cho người nghèo nhằm giúp đỡ khoảng 2,5 triệu người trưởng thành không nằm trong hệ thống
tài chính thông thường nhằm mục đích tự cung cấp và đáp ứng tương xứng cho các nhu cầu


NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM

TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM:

THỰC TRẠNG VÀ
KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Chủ biên:
PGS.TS. Nguyễn Kim Anh
Thành viên nhóm biên tập:
TS. Lê Thanh Tâm
CN. Nguyễn Mạnh Cường
ThS. Nguyễn Văn Thuyết
ThS. Nguyễn Thị Tuyết Mai

HÀ NỘI, 2014


LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tinh thần hợp tác, sự hỗ trợ chia sẻ
thông tin và thời gian quý báu của các tổ chức và cá nhân đã dành
cho chúng tôi trong quá trình thực hiện Đề tài nghiên cứu.
Chúng tôi kỳ vọng những thông tin, phân tích, đánh giá và những
kiến nghị đề xuất của Đề tài nghiên cứu có thể tạo ra một bức tranh
tổng thể, phản ánh thực trạng môi trường hoạt động, hệ thống cơ
chế chính sách hiện nay đối với các tổ chức tài chính vi mô, từ đó
gợi mở những bước đi, những đề xuất phù hợp nhằm cải thiện các
cơ chế chính sách và dành được sự quan tâm thích đáng của Chính
quyền địa phương các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội và các

Chủ biên
PGS.TS. Nguyễn Kim Anh

NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM - 3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

WB

Ngân hàng Thế giới

ADB

Ngân hàng Phát triển Châu Á

IFC

Công ty Tài chính Quốc tế

HLHPN

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

HPN

Hội Phụ nữ

UBND



NHHTX

Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam

QTDNDTW

Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương

QTDND

Quỹ tín dụng nhân dân

TCTCVM

Tổ chức tài chính vi mô (chính thức và
bán chính thức)

4 - NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM


TCVM

Tài chính vi mô

TKTN

Tiết kiệm tự nguyện

TKBB


DANH MỤC BẢNG
Bảng 01

Các mốc son phát triển TCVM tại Việt Nam

15

Bảng 02

Các tỉnh, huyện có tổ chức đang hoạt động TCVM

34

Bảng 03

Bức tranh tín dụng vi mô Việt Nam
(giai đoạn 2005 – 2013)

35

Xếp hạng 15 TCTCVM bán chính thức có OSS
lớn nhất năm 2012

37

Các mô hình hoạt động của TCTCVM
bán chính thức

39


Mô hình tổ chức của M7-MFI

30

Hình 01

Hình 02

6 - NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM


LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động tài chính vi mô (TCVM) tại Việt Nam đã hình thành từ
lâu, đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng mức độ tiếp cận
dịch vụ tài chính (tín dụng, tiết kiệm, tư vấn, đào tạo…) của người
nghèo/người thu nhập thấp, giúp họ có được nguồn vốn vay để
phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống, qua đó thúc đẩy
công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước, hạn chế nạn cho vay nặng lãi đặc biệt tại khu vực nông
thôn. Phát triển TCVM bền vững là mục tiêu quan trọng của ngành
TCVM Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế. Với
khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, các quy định liên quan tới
các tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) chính thức là “tiêu chuẩn”
để các tổ chức có hoạt động TCVM hướng tới mục tiêu bền vững
thể chế.
Mặc dù đã trải qua gần 3 thập kỷ hình thành và phát triển, hoạt động
TCVM tại Việt Nam còn chậm phát triển, chưa thu hút được nhiều sự
quan tâm của các cơ quan quản lý Nhà nước, Chính quyền địa

quản lý Nhà nước, sự am hiểu, đồng thuận của Chính quyền địa
phương các cấp đến hoạt động TCVM, do đó chưa thực sự tạo cú
huých cho việc phát triển hoạt động TCVM thời gian qua. Ngoài ra,
nhiều vấn đề có tính nội tại trong hệ thống các tổ chức có hoạt động
TCVM chưa được nhận diện, cải thiện trong suốt thời gian qua, đặc
biệt là tính liên kết nội bộ giữa các TCTCVM, giữa các TCTCVM với
các TCTD khác còn lỏng lẻo, thiếu các cơ chế phối hợp hiệu quả
trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ, trao đổi thông tin, đào tạo…
dẫn đến việc phát triển hoạt động TCVM còn nhỏ lẻ, manh mún và
có phần tự phát.
Từ những bất cập trên, Đề tài lựa chọn nội dung tập trung nghiên
cứu vào hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động của
lĩnh vực TCVM, những bất cập có tính nội tại của hệ thống các tổ
chức có hoạt động TCVM, qua đó đề xuất một số giải pháp và kiến
nghị cụ thể, thiết thực với hy vọng tạo được “cú huých” cho ra sự
phát triển an toàn, bền vững đối với các TCTCVM trong thời gian tới.

Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu không đề cập nhiều vấn đề lý luận mà tập trung
phân tích, đánh giá tổng thể thực trạng hoạt động TCVM của các
tổ chức hoạt động TCVM đã được cấp phép chính thức và các
chương trình/dự án đang cung cấp dịch vụ TCVM tại Việt Nam (gọi
chung là TCTCVM). Trên cơ sở đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị có
8 - NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM


tính hành động cụ thể, thiết thực nhằm tháo gỡ những nút thắt hiện
nay, với hy vọng tạo nên sự đổi mới căn bản, tác động hữu hiệu đến
môi trường hoạt động TCVM trong thời gian tới. Cụ thể:
– Kiến nghị, đề xuất về cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động


chức đoàn thể), các TCTCVM (các tổ chức chính thức được
NHNN cấp Giấy phép và các tổ chức bán chính thức gồm Quỹ
xã hội/Quỹ từ thiện/chương trình/dự án đang cung cấp dịch vụ
TCVM) tại Việt Nam.
– Các cơ chế, chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan đến hoạt động TCVM (Luật; các Nghị định của Chính
phủ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư của các Bộ,
ngành; các văn bản hành chính của các Chính quyền địa
phương các cấp).

Tóm tắt Đề tài nghiên cứu
Với mục tiêu tạo nên những chuyển biến mới, tích cực cho các
TCTCVM chính thức và bán chính thức phát triển an toàn, ổn định và
bền vững trong giai đoạn tới, Đề tài nghiên cứu TCVM 2014 tập trung
vào 04 nội dung sau: (1) Phân tích, đánh giá tổng quan về thực trạng
hoạt động của các TCTCVM Việt Nam, qua đó làm sáng tỏ những
thành tựu đạt được và tồn tại, hạn chế trong hoạt động của các
TCTCVM thời gian qua; (2) Phân tích, đánh giá những bất cập về cơ
chế, chính sách, hành lang pháp lý, tiến độ triển khai “Đề án xây
dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến năm 2020” ban
hành theo Quyết định số 2195/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; (3)
Đánh giá mức độ liên kết của các TCTCVM Việt Nam hiện nay; từ đó
(4) Đưa ra những đề xuất, kiến nghị quan trọng sau:
a) Đề xuất, kiến nghị đối với Chính phủ:
– Sớm ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền của
Chính phủ; chỉ đạo các Bộ/Ngành hoàn thiện khung pháp lý đồng
bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động TCVM, đặc biệt là các
văn bản hướng dẫn: (i) Hoạt động đối với các chương trình, dự
án TCVM theo quy định tại Khoản 6 Điều 161 Luật TCTD theo hướng

khách hàng.
c) Đề xuất, kiến nghị đối với Bộ Tài chính:
Khẩn trương nghiên cứu xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban
hành chính sách ưu đãi về thuế cho các TCTCVM; đồng thời, sớm có
văn bản hướng dẫn về hoạt động dịch vụ bảo hiểm vi mô theo
hướng khuyến khích các Công ty bảo hiểm tham gia vào quá trình
cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho người nghèo một cách chuyên

NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM - 11


nghiệp và hiệu quả để các TCTCVM có cơ sở pháp lý triển khai trên
thực tế.
d) Đề xuất, kiến nghị đối với Bộ Nội Vụ:
Có chính sách hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện kế thừa đối với các
chương trình/dự án TCVM đang hoạt động và khuyến khích phát
triển các hoạt động mới, qua đó tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài
chính cho người nghèo, đặc biệt ở các vùng khó khăn; sớm xem xét,
tạo điều kiện cho phép thành lập Hiệp hội TCVM theo quy đinh của
pháp luật.
đ) Đề xuất, kiến nghị đối với Chính quyền địa phương các cấp:
Chủ động, tích cực hỗ trợ các TCTCVM trong công tác tuyên truyền,
vận động về TCVM; tạo điều kiện về nguồn vốn cho các TCTCVM
nhằm thúc đẩy công tác hỗ trợ người nghèo tiếp cận tài chính tại
địa phương; phối hợp, trợ giúp các TCTCVM trong việc đảm bảo an
toàn khi phát vay và thu hồi nợ tại địa phương.
e) Đề xuất, kiến nghị đối với các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức
đoàn thể, tổ chức nghề nghiệp:
Chủ động hợp tác, hỗ trợ các TCTCVM về nguồn vốn tài chính và
nhân lực; cơ sở vật chất và trụ sở làm việc; tuyên truyền và vận động

Những hạn chế của Đề tài nghiên cứu có thể là những gợi mở để
Nhóm nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân có quan tâm đến hoạt
động TCVM tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới nhằm hỗ trợ phát
triển hoạt động TCVM tại Việt Nam.

NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM - 13


Phần I. Thực trạng hoạt động của các
TCTCVM tại Việt Nam

PHẦN I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC TCTCVM TẠI VIỆT NAM
1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển hoạt động TCVM tại
Việt Nam
1.1. Lịch sử phát triển
Để giúp người nghèo có cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính, trên
thế giới và tại Việt Nam đã phát triển các hoạt động TCVM. Ban đầu
chỉ là việc cung cấp cho các hộ gia đình nghèo các khoản vay rất
nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ có cơ hội tham
gia vào các hoạt động sản xuất hoặc khởi tạo các hoạt động kinh
doanh nhỏ. Nhưng chỉ tín dụng thôi chưa đủ, người nghèo còn cần
hàng loạt các dịch vụ khác như tiết kiệm, bảo hiểm, giáo dục, đào
tạo, tư vấn kinh doanh, v.v… hay còn gọi là dịch vụ TCVM.
Vào cuối những năm 1980, cùng với quá trình đổi mới kinh tế ở Việt
Nam, TCVM được du nhập vào Việt Nam thông qua hoạt động của
các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các chương
trình hỗ trợ phát triển chính thức song phương và đa phương. Tất
cả các chương trình đều có mục tiêu xóa đói giảm nghèo và bất
bình đẳng thu nhập. Một số chương trình, dự án chỉ cung cấp các


1992

Dự án Quỹ Tình thương (TYM) thuộc Ban Gia đình – Đời sống của
HLHPN Việt Nam được thành lập.

2004

Thành lập Nhóm công tác TCVM Việt Nam (VMFWG).

2005

Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 8/3/2005 của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam
được ban hành – là mốc pháp lý quan trọng tạo ra khung chính
sách cho việc chính thức hóa hoạt động TCVM tại Việt Nam.

2007

Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 của Chính phủ về
việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định
28/2005/NĐ-CP.

2009

Ban Công tác tài chính quy mô nhỏ được thành lập theo Quyết
định số 1450/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ.4

6/2010


lược phát triển ngành TCVM hoạt động định hướng thị trường.

NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM - 15

Phần I. Thực trạng hoạt động của các
TCTCVM tại Việt Nam

Bảng 01. Các mốc son phát triển TCVM tại Việt Nam1


Phần I. Thực trạng hoạt động của các
TCTCVM tại Việt Nam

Năm

Sự kiện

2011

Ngày 6/12/2011, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2195/QĐ-TTg
phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt
Nam đến năm 2020”.

12/2012

2013

2014

M7-MFI là TCTCVM thứ hai được NHNN chính thức cấp Giấy phép

ADB, IFC,...; phát triển mạng lưới và kết nối các TCTCVM có thể kể
đến ADA, Cordaid, Quỹ Citi – Ngân hàng Citibank...
Trong khi đó, Hội LHPN Việt Nam là đối tác chính của các nhà tài trợ
trong việc thực hiện các chương trình, dự án TCVM. Khi chuyển đổi
và chính thức hóa, hầu hết các nhân sự chủ chốt trong các Quỹ đều
xuất thân từ hoặc liên quan trực tiếp đến Hội Phụ nữ các cấp.

16 - NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM


1.2. Vai trò, mục tiêu của các tổ chức hoạt động TCVM
TCVM đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế –
xã hội, đặc biệt là công cuộc giảm nghèo và phát triển xã hội tại các
quốc gia đang phát triển. Vai trò của TCVM đối với giảm nghèo cũng
được khẳng định thông qua các nghiên cứu lý thuyết (Legerwood,
1999; ADB, 2000; Morduch và Haley, 2002; Khandker, 2003). Tầm quan
trọng của TCVM đối với phát triển kinh tế – xã hội cũng đã được
khẳng định trong thực tế thông qua việc Liên hiệp quốc chọn năm
2005 là năm quốc tế về TCVM, giải thưởng Nobel hòa bình năm 2006
đã được trao cho Mohamet Yunus – người sáng lập ra Grameen Bank
– ngân hàng vi mô dành cho người nghèo nổi tiếng tại Bangladesh.
Tại Việt Nam, từ năm 2011 Chính phủ đã triển khai Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Theo Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội, đến hết năm 2013, bình quân số hộ nghèo giảm 2% mỗi
năm; các huyện nghèo, xã nghèo giảm bình quân trên 5% một năm.
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa đồng đều và bền vững. Địa bàn
các xã nghèo miền núi, vùng dân tộc thiểu số tỷ lệ hộ nghèo còn
cao, chiếm 50% trong tổng số hộ nghèo cả nước. Đặc biệt, tỷ lệ hộ
tái nghèo, phát sinh nghèo hàng năm còn cao. “Bình quân cứ 3 hộ
thoát nghèo thì có một hộ tái nghèo, phát sinh nghèo, bao gồm cả

80

68.72

70
60

50.1

Việt Nam

50
40
30
20

26.03

33.77

29.83

16.54

Các quốc gia
có thu nhập
trung bình thấp hơn

10
0

dụng, tiết kiệm, bảo hiểm,...) cho đối tượng nghèo và thu nhập thấp,
đồng thời cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo để giúp cho người
nghèo có đủ năng lực khởi sự hoạt động kinh doanh, vươn lên làm
chủ hoàn cảnh, cải thiện cuộc sống, thoát khỏi cảnh đói nghèo một
cách bền vững. Người nghèo cũng cần có những công cụ tài chính
để tích lũy tài sản, bình ổn tiêu dùng và tự bảo vệ mình trước rủi ro.
Theo nhiều nghiên cứu và thực tế đã chứng minh rằng, TCVM là công
cụ hiệu quả và đáng tin cậy để cung cấp ngày càng nhiều hơn các
sản phẩm, dịch vụ tài chính và phi tài chính cho người nghèo. TCVM
giúp người nghèo tăng thu nhập, tạo lập hoạt động kinh doanh bền
vững và giảm khả năng dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ bên
ngoài. TCVM đồng thời là công cụ mạnh mẽ giúp người nghèo, đặc
biệt phụ nữ yếu thế trở thành trụ cột kinh tế trong gia đình.

6

David Hulme (2000), Impact Assessment Methodologies for Microfinance: Theory, Experience and
Better Practice, CGAP & USAID’s AIM Project;
Ngân hàng Thế giới (2002), Báo cáo đánh giá tác động của dự án Tài chính nông thôn I.

NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM - 19

Phần I. Thực trạng hoạt động của các
TCTCVM tại Việt Nam

được nâng cao nhận thức cũng như các kỹ năng xã hội thông qua
các hoạt động phi tài chính do các TCTCVM cung cấp6.


Phần I. Thực trạng hoạt động của các

25.4

Tốt

63

39.6

44.4

69.7

41

25.8

28.9

98.6

Thấp

2

1.3

1.4

100.0


theo tỷ lệ
phần trăm

Tỷ lệ
phần trăm
hợp lệ

Tỷ lệ phần
trăm tích lũy
cộng dồn

138

86.8

95.8

95.8

6

3.8

4.2

100.0

144

90.6

khích sự tham gia của họ vào cuộc sống cộng đồng.
TCVM được coi là một công cụ giảm nghèo quan trọng tại Việt Nam.
Việt Nam có khoảng 72% dân số sống ở khu vực nông thôn, nơi đây
có khoảng 94% người nghèo của cả nước sinh sống, chiếm tới 54%
lực lượng lao động quốc gia, trong đó nông nghiệp là nguồn kinh tế
chủ yếu. Với kết quả giảm nghèo rất đáng kinh ngạc, tỷ lệ nghèo đói

NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM - 21

Phần I. Thực trạng hoạt động của các
TCTCVM tại Việt Nam

Các TCTCVM là thành tố và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn. Về bản chất, các TCTCVM có
vai trò “kép” cả về kinh tế và xã hội. Các TCTCVM là thành tố, đóng
vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội khu
vực nông thôn. Các TCTCVM cũng thực hiện chức năng điều hòa
giữa những người dư thừa tiền mặt – những người gửi tiết kiệm và
những người cần tiền mặt – những người đi vay. Trên thực tế, nếu
không có việc tiếp cận với các dịch vụ tài chính thì thu nhập, khả
năng mua bán và đầu tư của người dân sẽ trở nên thất thường. Tiếp
cận với dịch vụ tài chính có thể giải quyết các giai đoạn thu nhập
và tiêu dùng thất thường, đồng thời cung cấp nơi cất giữ an toàn
và gia tăng thu nhập từ tiền nhàn rỗi. Các trung gian tài chính có thể
giảm chi phí giao dịch bằng cách kết hợp giữa người gửi tiết kiệm
và những người cho vay trong một cấu phần thị trường nhất định.
Nếu không có trung gian tài chính, người gửi tiền phải tìm cách sử
dụng tiền và người đi vay tiền sẽ phải tìm cách vay vốn một cách
riêng rẽ, điều đó góp phần làm tăng chi phí cho cả hai.


13.6

13.6

Cao

14

60.9

63.6

77.3

Vừa

5

21.7

22.7

100.0

Tổng

22

95.7



7

ADB (2014), “Sector Assessment: Microfinance”, Tài liệu chuẩn bị cho khoản vay Tiểu Chương
trình 2 (SP2) – Chương trình Phát triển ngành Việt Nam.

22 - NHÓM CÔNG TÁC TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM


1.4. Phân bố theo địa bàn
Ngoài các chương trình TCVM của NHCSXH, các chương trình tự
phát hoặc thuộc các tiểu đề án của các tổ chức chính trị – xã hội
có phạm vi hoạt động trên toàn quốc (như của HPN, Hội Nông dân),
các TCTCVM chính thức và bán chính thức tại Việt Nam hiện đang
hoạt động trên phạm vi 136/703 quận/huyện/thị trấn tại 34/63 tỉnh
thành trên cả nước (VMFWG, 2013; Tổng cục Thống kê, 2014).
Có thể đánh giá là các TCTCVM đã hoạt động trên địa bàn tương
đối rộng xét theo địa bàn tỉnh/thành phố. Tuy nhiên, tại mỗi tỉnh/thành
8

Hầu hết các quỹ xã hội đều được thành lập và hoạt động theo Nghị định 30/2012/NĐ-CP ngày
12/4/2012 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Nghị định số 148/2007/NĐ-CP
ngày 25/9/2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.

9

Có một số chương trình TCVM do HPN cấp tỉnh/huyện đã chuyển đổi thành quỹ hỗ trợ phụ nữ
nghèo, nhưng không phải quỹ nào cũng hoạt động như một quỹ xã hội. Ví dụ, Quỹ HTPN Đà
Nẵng không hoạt động theo Nghị định 30/2012/NĐ-CP mà hoạt động như một chương trình
cho vay với chủ sở hữu vốn là Ủy ban Nhân dân thành phố.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status