SKKN tìm KIẾM, CHỌN lọc, xử lý, và xây DỰNG hệ THỐNG tư LIỆU dạy học địa lý 10 THPT PHẦN tự NHIÊN từ MẠNG INTERNET - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân

Người thực hiện: Trần Ngọc Bảy
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục
Phương pháp giảng dạy bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác.

Có đính kèm:
Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Hiện vật khác


Năm học: 2010-2011

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Ngày nay việc vào mạng Internet để tìm kiếm tư liệu, thông tin phục vụ cho
công việc và học tập đã trở nên thông dụng đối với mọi người bởi sự ứng dụng rộng
rãi của công nghệ thông tin và chính bởi sự phong phú, cập nhật của các tư liệu trên
mạng.
- Các tư liệu địa lí trên mạng Internet cũng hết sức phong phú, đa dạng, đặc biệt là
các hình ảnh, mô hình, video clip hết sức sống động và bổ ích. Tuy nhiên nó phân bố
rải rác ở nhiều địa chỉ website khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau. Trong xu thế đổi


Địa lí 10 .
-

Sắp xếp, xây dựng hệ thống tư liệu ( chứa các hình ảnh, mô hình, video clip)

phục vụ cho việc dạy học các bài địa lí 10.
-

In xuất thành sản phẩm.

IV – PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Về nội dung: tư liệu dạy học địa lí từ mạng Internet.
Phạm vi: chương trình địa lí 10 - phần Địa lí Tự Nhiên.
V – LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông”,2004 của
Nguyễn Trọng Phúc có đề cập đến các phương tiện dạy học hiện đại là phim giáo khoa
và băng video. Trong cuốn này tác giả nêu lên những nét cơ bản nhất về ý nghĩa, tính
chất và phương pháp sử dụng phim giáo khoa và băng video.
Trong các cuốn “ Kĩ thuật dạy học địa lí ở trường phổ thông, 2007, NXBGiáo
Dục” và “ Phương tiện dạy học Địa Lí ở trường THPT”, của PGS-TS Nguyễn Đức Vũ
có đề cập đến kĩ thuật sử dụng Internet trong dạy học địa lí và kĩ thuật sử dụng phần
mềm trình diễn Powerpoint trong dạy học địa lí. Tác giả đã nêu lên những điểm căn
bản khái quát về mạng Internet, giới thiệu những nét cơ bản về cách xây dựng các bài
giảng điện tử bằng Powerpoint, các tranh ảnh từ mạng Internet.
Mặc dù những tài liệu này chỉ đề cập đôi nét về lí thuyết về các tư liệu dạy học địa
lí từ mạng Internet nhưng chúng là cơ sở để chúng em đưa ra ý tưởng cũng như là
những tư liệu bổ ích cho việc thực hiện đề tài này.
Trong cuốn “cẩm nang sử dụng các dịch vụ Internet”, 2003 của Nguyễn Đức Toàn
- Nguyễn Hùng đã đề cập những vấn đề về cách thức sử dụng các dịch vụ từ mạng

So sánh, đối chiếu, đánh giá những sự vật, hiện tượng để thấy được sự tương
đồng, khác biệt trong mối tương quan tổng thể, rút ra những nhận định cần thiết.

4


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TÌM KIẾM TƯ LIỆU DẠY
HỌC TỪ MẠNG INTERNET
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Quan niệm về tư liệu dạy học từ mạng Internet
1.1.1.1. Tư liệu dạy học từ mạng Internet
Tư liệu dạy học là các tài liệu, thông tin sử dụng cho việc học tập, nghiên cứu và
truyền thụ tri thức cho học sinh. Tư liệu dạy học có nhiều nguồn khác nhau: từ nguồn
tư liệu truyền thống như sách giáo khoa, sách tham khảo, giáo trình chuyên môn, bản
đồ, tranh ảnh, các tài liệu từ các tạp chí khoa học,…Ngoài nguồn tư liệu kể trên, hiện
nay các tài liệu từ mạng Internet được sử dụng thường xuyên, rộng rãi và hết sức cần
thiết trong việc cung cấp các thông tin cập nhật cho giáo viên và học sinh.
Tư liệu dạy học từ mạng Internet là các tài liệu, thông tin dưới dạng dữ liệu số
được chọn lọc, xử lí, sắp xếp theo một hệ thống phù hợp với mục tiêu, nội dung,
phương pháp dạy học nhằm chuyển tải những tri thức khoa học cho học sinh từ đó
nâng cao hiệu quả của việc dạy và học.
Tư liệu dạy học từ mạng Internet cũng bao gồm các tài liệu ở hai dạng: kênh hình
và kênh chữ. Các tài liệu này hết sức phong phú và đa dạng. Các tài liệu ở dạng kênh
chữ phong phú và được cập nhật liên tục đảm bảo cung cấp những thông tin mang tính
thời sự. Các tư liệu ở dạng kênh hình đa dạng (hình ảnh, mô hình, video clip…) với
màu sắc, âm thanh sống động có giá trị minh họa cho nội dung và chứa đựng nhiều giá
trị nội dung ngoài phạm vi bài học.
1.1.1.2.Đặc điểm của tư liệu dạy học từ mạng
Tư liệu dạy học từ mạng Internet chứa đựng khối lượng tri thức khổng lồ, phong

liệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông chúng ta có thể thấy việc
dạy học Địa lý chỉ với những phương tiện truyền thống như bảng đen, lời nói của thầy
giáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh (bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ) chắc chắn
hiệu quả sẽ không cao, mức độ ghi nhớ của học sinh sẽ thấp và chóng quên. Trong khi
đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động (được thiết kế theo logic
sự kiện), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả
năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên. Không những thế, nếu làm được điều này chúng
ta sẽ tạo ra được một bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho

6


các em đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em tiếp thu được. Rõ ràng, việc kết
hợp cùng một lúc hai hay nhiều phương tiện truyền thông sẽ giúp cho người học tiếp
thu thông tin nhanh, chính xác và nhớ lâu hơn.
Các tư liệu dạy học từ mạng Internet giúp sinh động hóa, linh hoạt hóa bài dạy địa
lí. Các hình ảnh, âm thanh sống động, màu sắc phong phú, có khả năng tăng sự thu hút
đối với học sinh do có tác động đến nhiều giác quan cùng một lúc, thúc đẩy học sinh
tư duy để phán đoán, phân tích, tổng hợp.
Góp phần phát triển động cơ, hứng thú học tập cho học sinh: việc sử dụng các tư
liệu từ mạng Internet đặc biệt là các đoạn phim video, các mô hình động, các hình ảnh
là phương tiện dạy học hiện đại, được sử dụng trong các phương pháp dạy học mới
khác hẳn với các phương pháp, phương tiện truyền thống mà các em thường được tiếp
xúc do đó luôn tạo cho các em một không khí mới trong quá trình học tập.
Các tư liệu từ mạng có khả năng minh họa cho nội dung bài dạy địa lí và chứa
đựng các giá trị nội dung hiện đại, khoa học. Sử dụng các tư liệu mạng giúp giáo viên
và học sinh tiếp cận, khai thác nguồn tri thức rộng lớn, hiện đại của nhân loại tránh
tình trạng tụt hậu trong quá trình hội nhập vào nền giáo dục khu vực và thế giới.
Các tư liệu dạy học từ mạng góp phần hình thành, rèn luyện kĩ năng địa lí cho học
sinh. Do tính chính xác, đầy đủ, chi tiết, sống động của các tư liệu có thể giúp rèn

1.1.2.3 Nội dung chương trình
Chương trình gồm 2 phần: Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế-xã hội đại
cương.
* Phần Địa lí tự nhiên đại cương:
- Về mặt lí thuyết, phần này tập trung vào 4 nội dung:
+ Bản đồ
Để giúp cho học sinh học tập tốt môn Địa lí, các kiến thức tối thiểu về bản đồ có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Các kiến thức này được sử dụng không chỉ đối với lớp 10,
mà còn cho cả lớp 11, 12. Kế thừa những kiến thức đã có về bản đồ học ở THCS,
chương trình này làm nổi bật các phép chiều hình bản đồ cơ bản cũng như một số
phương pháp biểu hiện các đối tượng Điạ lí trên bản đồ, sử dụng bản đồ trong học tập
và đời sống.

8


+ Vũ trụ
Các nội dung chính được đưa vào là Vũ Trụ, hệ Mặt Trời, Trái Đất và hệ quả của
vận động tự quay cũng như hệ quả của sự chuyển động quay quanh Mặt Trời của Trái
Đất.
+ Cấu trúc của Trái Đất và các quyển của lớp vỏ địa lí


Cấu trúc của Trái Đất



Thạch quyển, tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất



1.1.3.1. Về cấu trúc

9


Sách giáo khoa (SGK) Địa lí 10 ban cơ bản gồm 2 phần, 10 chương và 42 bài
trong đó có 7 bài thực hành và 35 bài lí thuyết. Trong đó:
- Phần Địa lí tự nhiên gồm 4 chương, 21 bài (trong đó riêng bài 9 là 2 tiết, còn lại
các bài đều 1 tiết), bao gồm 18 bài lí thuyết và 3 bài thực hành.
Bảng:
Chương

Số tiết

Trong đó
Lí thuyết

Thực hành

1. Bản đồ

4

3

1

2. Vũ trụ. Hệ quả các vận động của trái đất

2

Địa lí kinh tế - xã hội đại cương. Tuy nhiên ở mảng kiến thức nào nó cũng thể hiện
qua kênh chữ và kênh hình.
* Kênh chữ
Kênh chữ trình bày tiêu đề của bài; trình bày các thông tin của bài trong từng
đoạn kiến thức ngắn; trình bày các câu hỏi giữa bài, câu hỏi kèm theo hình ảnh; câu
hỏi và bài tập cuối bài; trình bày tóm tắt của bài; trình bày bài đọc thêm.

Kênh chữ là phần quan trọng hàng đầu của SGK địa lí 10. Thông qua kênh
này các khái niệm cơ bản, định nghĩa, quy luật…được trình bày rõ ràng giúp cho
học sinh nhận thức được nội dung chính của bài học. Đây có thể coi là kiến thức
rất cơ bản, được chọn lọc kĩ lưỡng sao cho vừa cô đọng, khúc triết vừa phù hợp
với trình độ của học sinh.
10


* Kênh hình
Kênh hình trong SGK địa lí 10 rất phong phú, đa dạng với các 49 sơ đồ, 34 bản đồ
và lược đồ, 32 tranh ảnh ,11 biểu đồ, 6 bảng kiến thức, 23 bảng số liệu.
Hệ thống kênh hình trong SGK có ý nghĩa hết sức to lớn, trước hết nó bổ sung,
minh hoạ cho kênh chữ, là kiến thức thực tiễn chứng minh cho kênh chữ. bên cạnh đó
hệ thống kênh hình còn bổ sung cho những kiến thức còn thiếu, kênh hình trong SGK
như nguồn tri thức thứ hai, khi khai thác kênh hình sẽ giúp học sinh tìm ra được những
kiến thức mới mẻ, bổ ích, mặt khác có thể rèn luyện khả năng tư duy và kĩ năng địa lí
cho học sinh.
Hai hệ thống kênh hình và kênh chữ không tồn tại biệt lập mà chúng có mối quan
hệ mật thiết, đan xen, hoà quyện vào nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, là công
cụ hữu ích cho học sinh tìm kiếm tri thức và rèn luyện kĩ năng địa lí.
* Các câu hỏi và bài tập
Các câu hỏi và bài tập là một bộ phận hữu cơ trong SGK địa lí 10. Các câu hỏi
thường dưới 2 dạng: Dạng câu hỏi xen kẽ trong bài và dạng câu hỏi, bài tập ở cuối bài.

1.1.4. Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 10
Mỗi một con người đều trưởng thành từ ghế nhà trường, đều được tiếp nhận
những nội dung kiến thức phong phú. Càng lên cao sự phong phú về kiến thức càng
tăng, mức độ khó cao hơn.
Đối với học sinh lớp 10 không còn là thiếu niên hầu hết các em đã là đoàn viên,
thanh niên. Các em đã trưởng thành nên có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống thực
tiễn. Rèn luyện cho chính mình những kĩ năng, kĩ xảo nhất định và cả lòng nhiệt huyết.
Một số em được sự hướng dẫn của giáo viên đã bắt đầu hình thành những tư tưởng
hướng nghiệp nhất định, ý thức bản ngã cao.
Ở lứa tuổi 14-15 tồn tại trong các em các tư tưởng trẻ con lẫn người lớn cho nên
tâm sinh lí cực kì phức tạp. Các em sẽ tiếp xúc nhiều môn đặc biệt ở lớp 10 các em
được làm quen với môi trường mới, được học những môn học có tính chất đại cương
với nhiều khái niệm trừu tượng, khái quát và sâu sắc hơn. Mặc dù vậy ở lứa tuổi này
các em rất nhạy cảm và có sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan vận động. Các em
bắt đầu biết tư duy một cách độc lập, sáng tạo và có cả tính phê bình và tự phê bình.
Chính những đặc điểm đó đã giúp học sinh thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, đó

12


là cơ sở để hình thành thế giới quan.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Xu hướng thay đổi phương pháp dạy học hiện nay
Nghị quyết Trung Ương 4 khoá VII đã xác định “Khuyến khích tự học” phải “Áp
dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết Trung Ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ
phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư
duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự

số lượng, để đáp ứng nhu cầu trên cần phải có đổi mới về mục tiêu và phượng pháp
đào tạo, những cải cách cả về nội dung, phượng pháp và hình thức đào tạo theo hướng
tích cực hoá quá trình đào tạo.
Nhằm đáp ứng yêu cầu, phát triển của khoa học kỹ thuật và đời sống xã hội, công
nghệ giáo dục đã xuất hiện và có vị trí nhất định trong lý luận dạy học hiện đại trong
đó việc sử dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình dạy học nhằm thực
hiện mục đích dạy học với hiệu quả cao. Trong những năm gần đây, Tin học đã phát
triển rất mạnh đã tạo nên cuộc cách mạng trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính
trị, xã hội... Xác định tầm quan trọng của Tin học, ngày 17-10-2000, Bộ chính trị đã ra
chỉ thị 58-CT/TW về đẩy mạnh và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thực hiện việc nghiên cứu đổi mới phượng
pháp dạy học nhằm bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nhận thức khoa học, phát
triển năng lực tự giải quyết vấn đề, thông qua hoạt động tự giác, tích cực, tự lực của
bản thân học sinh để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực của học sinh trong quá
trình dạy và học đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà lý luận dạy học, các
giáo viên phổ thông
Bởi vậy, việc đưa vào bài dạy địa lí các hình ảnh, mô hình động, các đoạn video
clip…từ mạng Internet có vai trò quan trọng trong việc giúp giáo viên đổi mới phương
pháp dạy học sang hướng tích cực. Bởi lẽ, học sinh phải tăng cường hoạt động, sử
dụng phối hợp nhiều giác quan vào việc lĩnh hội tri thức như vừa nghe, nhìn và phải tư
duy phân tích, so sánh…Đồng thời giáo viên hạn chế lối dạy đọc-chép nhưng phải
chuẩn bị bài dạy học một cách kĩ lưỡng hơn, đa dạng hơn về phương pháp dạy học,
hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học…

14


1.2.2. Hiện đại hóa phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học (PTDH) không chỉ đơn giản là những hình ảnh bên ngoài
của sự vật, hiện tượng mà là sự “ vật chất hóa” các tri thức địa lí. PTDH còn là “hình

15


- Các tài liệu tham khảo, SGK, tranh

- Máy chiếu overhead

ảnh, hình vẽ…

- Máy vi tính

- Hình vẽ của giáo viên trên bảng
- Số liệu thống kê, bảng kiến thức,
phiếu học tập…

1.2.3. Sự phát triển của mạng Internet
Internet là một hệ thống thông tin máy tính toàn cầu có thể được truy nhập công
cộng gồm các máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới. hệ thống này
truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao
thức liên mạng đã được chuẩn hoá (giao thức IP).
Về danh nghĩa, Internet là một mạng phi thương mại, không có trạm điều hành
trung tâm và không thuộc về một cá nhân, tổ chức hay chính phủ nào. Internet có xuất
xứ từ mạng ARAPnet vào năm 1969 ( một mạng nội bộ thô sơ giữa Bộ quốc phòng
Hoa kì và một số trường đại học và phòng thí nghiệm của chính phủ). Mạng Internet
mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng như hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực
tuyến (chat), truy tìm dữ liệu (search), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, các
dịch vụ về y tế giáo dục như chữa bệnh hoặc tổ chức các lớp học từ xa…
Từ những năm giữa thập kỉ 90, Internet đã phát triển cực kì mạnh mẽ và được ứng
dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá và giáo dục. ở nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, Internet đã trở thành một công cụ rất hữu

Trong báo cáo về tình hình công tác khoa học công nghệ năm học 2004-2005, Bộ
GD-ĐT luôn khẳng định sau 30 tháng thực hiện bản thoả thuận, đã có 98% các trường
THPT kết nối Internet và tính đến tháng 6/2005, cả nước có 33% trường THCS được
kết nối.

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP TÌM KIẾM TƯ LIỆU DẠY HỌC TỪ
MẠNG INTERNET
2.1. Tổng quan về các công cụ hỗ trợ tìm kiếm tư liệu mạng.
2.1.1. Phần mềm tin học

17


Phần mềm (tiếng Việt còn được gọi là nhu liệu; tiếng Anh: software) là một tập
hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự
xác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết một bài toán nào
đó. (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Sản phẩm phần mềm được phân loại như sau :
* Theo phương thức hoạt động :
- Phần mềm hệ thống dùng để vận hành máy tính và các phần cứng máy tính, ví
dụ như các hệ điều hành máy tính Windows XP, Linux, Unix, các thư viện động (còn
gọi là thư viện liên kết động; tiếng Anh: dynamic linked library - DLL) của hệ điều
hành, các trình điều khiển (driver), phần sụn(firmware) và BIOS. Đây là các loại phần
mềm mà hệ điều hành liên lạc với chúng để điều khiển và quản lý các thiết bị phần
cứng.
- Phần mềm ứng dụng để người sử dụng có thể hoàn thành một hay nhiều công
việc nào đó, ví dụ như các phần mềm văn phòng (Microsoft Offices, Lotus 1-2-3,
FoxPro), phần mềm doanh nghiệp, phần mềm giáo dục, cơ sở dữ liệu, phần mềm trò
chơi, chương trình tiện ích, hay các loại phần mềm ác tính.
- Các phần mềm chuyển dịch mã bao gồm trình biên dịch và trình thông dịch: các


Hình 2.1 : Cửa sổ giao diện của phần mềm Internet Download
Manager 5.19
Giao diện đồ họa đơn giản tạo cho người dùng cảm giác thân thiện và dễ dàng khi
sử dụng. Internet Download Manager có nguyên lý tăng tốc download thông minh với
công nghệ phân đoạn dữ liệu linh hoạt và tải nhiều phần an toàn để tăng tốc độ
download của bạn. Không giống như các chương trình quản lý và tăng tốc khác,
Internet Download Manager tự động phân đoạn trong suốt quá trình tải, xử lý và tái sử

19


dụng các kết nối sẵn có mà không cần thêm giai đoạn kết nối và đăng nhập để đạt
được hiệu suất tăng tốc tốt nhất. Các tính năng khác bao gồm hỗ trợ đa ngôn ngữ, xem
trước file nén, tải về theo chuyên mục, đặt lịch chuyên nghiệp, âm báo hiệu cho các
thao tác, hỗ trợ HTTPS, xử lý các file chờ, giúp đỡ và hướng dẫn bằng HTML, tăng
cường bảo vệ máy khỏi virus khi tải dữ liệu hoàn thành, cải tiến quá trình với file có
dung lượng lớn (hữu ích cho các kết nối sử dụng chính sách cân bằng truy cập hoặc
FAP như Direcway, Direct PC, Hughes, vv), và nhiều chức năng khác.
Không những thế, IDM còn có thể giúp người dùng download dễ dàng các clip,
các bài nhạc ở tất cả các trang, kể cả những trang dấu link download : YouTube,
Google Video, MySpaceTV, . . . chỉ với 1 click chuột.
Tầm quan trọng của phần mềm này đối với đề tài là rất lớn. Vì ngoài những dạng
tài liệu dưới dạng văn bản hoặc hình ảnh có thể sao chép trực tiếp, thì dạng tài liệu
video clip và phim giáo khoa thì phải tải (download) về máy từ các đướng dẫn file.
Tuy vậy nếu tải về bằng ứng dụng có sẵn của Windows thì tốc độ tải rất chậm, thêm
vào đó dung lượng một video thường rất lớn (10-80Mb) và cần một thời gian khá dài,
điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ của đề tài và tiền bạc. Nhờ có phần mềm này,
tốc độ tải video tăng lên rất nhanh, tải được nhiều dạng video và ở nhiều trình duyệt
khác nhau của bất kì ở trang Web nào. Đa phần các video tải về thuộc dạng video FLV

tiết kiệm được thời gian
2.1.2.3. Windows Live Movie Maker for Windows 7

21
Hình 2.3: Cửa sổ giao diện của phần mềm Windows Live Movie Maker


Hãng Microsoft vừa tung ra trên mạng, phiên bản mới nhất Windows Live Movie
maker v14. Windows movie maker này là một công cụ hoàn toàn miễn phí từ
Microsoft giúp bạn có thể biến đổi từ các hình ảnh, đoạn video clip của bạn thành ra
các video, slideshow thật đáng nể.
Phiên bản Windows Live Movie Maker mới nhất này cho phép bạn tạo ra nhiều
video hay slideshow dạng HD`( nghĩa là 420p, 720p và cả 1080p) cũng như các độ
phân giải SD (bình thường) như trước đây..Nó cũng có rất nhiều hiệu ứng chuyển tiếp
làm cho phim bạn thêm sinh động, thật bắt mắt..
Điều đáng tiếc duy nhất là phiên bản .Windows Live Movie Maker mới này chỉ
chạy được trong Vista hay Windows 7, hoàn toàn không chạy trong Windows XP.
* Các tính năng mới nhất là:
Làm phim nhanh và thật dễ dàng: Tự động biến đổi các video clip của bạn cũng
như hình ảnh thành ra các phim cực kỳ hay . Automovie thêm vào tựa đề, các đoạn
chuyển tiếp và hiệu ứng và làm tương thích chúng lại tất cả cho bạn. Nếu bạn có
nhiều thì giờ, hãy chỉnh sửa lại các video clip thêm vào các hoạt hình, nhiều hiệu ứng
thị giác cho thật sinh động. Tất cả đều thực hiện sau không đầy 1 phút.
Cải thiện chỉnh sửa: bạn có thể thay đổi các phim video clip của bạn bằng các
công cụ chỉnh sửa của Movie maker ... Cắt tỉa lại video clip để còn lại những phần mà
bạn muốn trình diển, xem thôi. Thêm vào để tựa, chuyển tiếp nhạc nền và hiệu ứng
làm mờ đi hay phóng to ra đều được .
Trong đề tài này, việc biên tập lại các video là việc hết sức cần thiết. vì đa phần
các video này đều lấy từ các nguồn ở nước ngoài, không phải ngôn ngũ tiếng Việt. Để


Để tạo ra điểm mới trong đề tài này, việc mở rộng nguồn tìm kiếm ra các nguồn
tài liệu từ nước ngoài đòi hỏi chúng ta cần biết ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Với
vốn từ vựng ít ỏi, phần mềm này là một người phiên dịch hiệu quả khi chuyển các từ
khóa tìm kiếm sang tiếng anh để tìm kiếm tư liệu và dịch tài liệu sang tiếng việt để
tăng tính cập nhật về kiến thức mới. nó có thể dịch cả đoạn văn nếu kết nối với
Internet, hoặc dịch từng phần. Ngoài việc làm mới thêm tư liệu, người làm cũng tăng
thêm vốn từ vựng tiếng Anh.
2.1.3. Các thiết bị lưu trữ
2.1.3.1. Đĩa cứng DVD
DVD (còn được gọi là “Digital Versatile Disc” hoặc “Digital Video Disc”) là một
định dạng lưu trữ đĩa quang phổ biến. Công dụng chính của nó là lưu trữ video và lưu
trữ dữ liệu.
DVD có nhiều điểm giống CD: chúng đều có đường kính 12 cm cho loại tiêu
chuẩn, hay 8 cm cho loại nhỏ. Nhưng DVD có cách lưu dữ liệu khác, với cách nén dữ
liệu và các lớp quang học có khả năng chứa nhiều dữ liệu hơn CD gấp 7 lần hoặc hơn
thế nữa. Về cấu trúc phần mềm, DVD cũng khác CD ở chỗ chúng đều chứa hệ tập tin,
gọi là UDF, một phiên bản mở rộng của tiêu chuẩn ISO 9660 cho CD chứa dữ liệu.
Sự khác nhau về thuật ngữ DVD thường được mô tả phương pháp dữ liệu được
lưu trư trễn đĩa: DVD-ROM có dữ liệu chỉ có thể đọc mà không thể ghi, DVD-R và
DVD+R có thể ghi một lần và sau đó có chức năng như DVD-ROM, và DVD-RAM,
DVD-RW, or DVD+RW chứa dữ liệu có thể xóa và ghi lại nhiều lần.
DVD sử dụng ánh sáng laser diode có bước sóng 650nm, khác với bước sóng 780
nm đối với CD. Việc làm này cho phép tạo nên những điểm nhỏ hơn trên bề mặt đĩa
(1.32 micromet cho DVD còn 2.11 micromet đối với CD). Tốc độ ghi của DVD là 1X,
là 1350 kB/s (1318 KiB/s), trong ổ đĩa và những mẫu DVD đầu tiên. Các mẫu gần đây
hơn đã đạt tốc độ 18X hoặc 20X, nghĩa là 18 hoặc 20 lần nhanh hơn.

24



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status