Chuyên đề: Nét đặc sắc trong trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Tiền - Pdf 37

NÉT ĐẶC SẮC TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA
PHỤ NỮ DAO TIỀN
( TÌM HIỂU TẠI XÃ KIM BÌNH, HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG)

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đất nước Việt Nam trải dài theo hình chữ S với 54 dân tộc anh em. Mỗi một
vùng miền lại mang một sắc thái văn hóa ; đời sống vật chất, đời sống tinh thần
khác nhau, những thói quen và tập tục khác nhau cùng tạo nên một bản sắc riêng
biệt. Những nét văn hóa này không làm mất đi sự thống nhất trong văn hóa truyền
thống của quốc gia dân tộc mà còn góp phần tựu chung nền văn hóa Việt Nam
phong phú và đa dạng. Bản sắc của mỗi dân tộc được thể hiện rõ trong lối ăn, cách
ở của đồng bào dân tộc nhưng có lẽ dễ nhận biết nhất chính là qua trang phục của
họ. Mỗi dân tộc đều có một trang phục riêng mang đậm nét văn hoá mỗi vùng
miền và không lẫn với bất cứ nơi đâu. Đây cũng chính là giá trị khác biệt mà cũng
là giá trị văn hoá vô giá mà chúng ta cần gìn giữ.
Tuyên Quang là một trong những tỉnh thuộc miền núi Đông Bắc của nước ta,
không chỉ được nhắc đến với những di tích lịch sử nổi tiếng trong các cuộc kháng
chiến của dân tộc, những món ăn đặc trưng cho núi rừng Đông Bắc mà Tuyên
Quang còn đặc biệt hơn cả là địa bàn cư trú của 22 dân tộc tương ứng với 22 dòng
trang phục truyền thống. Với dân số 730.800 người ( năm 2011) trong đó dân tộc
Dao đông thứ ba sau 2 dân tộc Kinh, Tày. Trang phục của người Dao đặc biệt là
trang phục của người phụ nữ được biết đến khá nhiều với áo, yếm, xà cạp, dây


lưng, khăn vấn đầu, váy dài cùng đồ trang sức vàng bạc … Trong trang phục của
người Dao, chỉ có duy nhất phụ nữ nhóm Dao Tiền không mặc quần, chỉ mặc váy
in hoa. Người Dao Tiền rất tự hào về trang phục truyền thống của mình.
Tìm hiểu về trang phục phụ nữ nhóm Dao Tiền tại xã Kim Bình, huyện

So sánh với trang phục truyền thống của phụ nữ các dân tộc anh em để thấy
được nét riêng biệt trong trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Tiền.
Đề ra các biện pháp để gữi gìn và bảo vệ giá trị văn hóa truyền thống đang
bị mai một bởi sự hội nhập và tân tiến của nền kinh tế thông qua hình ảnh trang
phục truyền thống của phụ nữ Dao Tiền.
4. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu trang phục truyền thống của phụ nữ dân tộc
Dao Tiền trong đời sống xã hội như sinh hoạt ngày thường, lễ hội, lễ tết, trong
ngày cưới, tang ma, những hình ảnh tiêu biểu trên bộ trang phục của phụ nữ Dao
Tiền tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian kiến tập không cho phép, chúng tôi chỉ lựa chọn địa
điểm xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang là phạm vi nghiên cứu
cho đề tài của mình.


5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Báo cáo sử dụng phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phân tích, tổng
hợp đặc biệt là phương pháp điền dã dân tộc, thâm nhập vào cộng đồng để lấy tư
liệu tại thực địa. Cùng với quá trình quan sát, chúng tôi sử dụng các công cụ phỏng
vấn sâu, chụp ảnh với đối tượng là phụ nữ dân tộc Dao Tiền.
6. BỐ CỤC CỦA BÀI BÁO CÁO

Nội dung chính của bài báo cáo được chia làm 03 chương:
Chương 1: Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Dao Tiền ở xã Kim
Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Chương 2: Trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Tiền- nét đẹp riêng biệt

- Khu vực Phú An gồm 4 thôn: Bó Củng, Khuân Nhự, Nà Loáng, Đèo Nàng.
- Diện tích đất nông nghiệp chủ yếu chạy theo các chân đồi và dọc theo các
khe suối. Các khu dân cư và các công trình công cộng, công trình sự nghiệp chủ
yếu nằm ở những khu vực thấp.


- Độ dốc phổ biến vùng đồi núi là 200-250, cao độ trung bình 250 m. Lưu vực
các suối Cổ Linh, Phú An, Yên Linh địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ trung
bình dao động từ 40 m – 70 m.
Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 10 thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình từ
250C - 260C. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết hanh khô, lạnh và
ít mưa, nhiệt độ trung bình từ 10 0C - 120C. Lượng mưa trung bình năm 1.500 1.700 mm, nhiệt độ bình quân năm 22 0C - 240C, ẩm độ không khí trung bình năm
từ 70- 80%.
Điều kiện tự nhiên mang lại cho Kim Bình nhiều lợi thế, sự giàu có về
tài nguyên khoáng sản cũng như thế mạnh về sản xuất nông, lâm nghiệp.
Rừng Kim Bình có nhiều lâm thổ sản và nhiều muông thú quý hiếm : Đinh,
lim, nghiến, lát... gấu, nhím, tê tê, tắc kè... Dưới lòng đất có nhiều khoáng sản
như : Ăngtimoan, mangan, vàng sa khoáng... Đất đai có độ phong hoá cao,
lượng mưa và độ ẩm thích hợp. Kim Bình có đầy đủ các điều kiện để trồng
cây lương thực (lúa, ngô, sắn)... Cây công nghiệp (sả, chè, các cây họ đậu,
mía) chăn nuôi gia súc gia cầm và phát triển nghề rừng cũng như các ngành
công nghiệp khai thác, chế biến.
1.1.2.Văn

hóa- xã hội

Dân số: toàn xã có 4.943 khẩu với 1.161 hộ, gồm 7 dân tộc anh em cùng
sinh sống như: Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa, Cao lan, Mường; trong đó dân tộc Tày
chiếm 69,10%, dân tộc Kinh chiếm 15,19%, dân tộc Dao chiếm 14,45%, còn lại

ở xứ Tuyên Quang có “Bảy chủng tộc người Mán. Trong ấy có 3 chủng tộc Sơn
Trang, Sơn Tử và Cao Lan mặc áo màu chàm xanh, tay áo rộng, hoặc áo màu trắng
để tóc dài, búi tóc nhọn, Sơn Mán, Sơn Bản và Sơn Miều cũng thế). Các chủng tộc


này đều ở nơi đại sơn lâm, cày cấy thì đốt nương, đào hố bỏ thóc, chỗ ở nay đây
mai đó.
Khác với các thành viên khác trong cộng đồng 22 dân tộc trong tỉnh, dân tộc
Dao có nhiều nhóm khác nhau cộng cư với các dân tộc khác ở 6/6 huyện thị. Căn cư
vào lời kể của các già làng cũng như các sách cúng, gia phả của người Dao, có thể
thấy rằng: Từ rất xa xưa, do nhiều biến cố lịch sử như bị hạn hán, mất mùa, chiến
tranh, xung đột sắc tộc, phong kiến Trung Quốc áp bức tàn tệ… khối Dao ở Trung
Quốc phải chia làm nhiều nhóm nhỏ, rời cái nôi của mình vào nhiều thời kì khác
nhau, phân tán đi các nơi để sinh sống. Mỗi nhóm Dao chịu ảnh hưởng các yếu tố văn
hóa của các dân tộc khác đồng thời hình thành những yếu tố mới. Theo các nhà
nghiên cứu, người Dao còn được gọi là Mán, Động, Trại, Đại Bản, Tiểu Bản.
Sự phân loại các nhóm Dao chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn chính là tiêng nói và
hình thức bên ngoài. Ví dụ trong cuốn Văn hóa truyền thống các dân tộc Tày, Dao,
Sán Dìu ở Tuyên Quang của nhà xuất bản văn hóa dân tộc có phân loại “nhóm Dao
Tiền có đặc điểm nổi bật là trên hai nẹp áo và cổ áo liền nẹp phía trước của bộ nữ
phục có đính 9 nửa đồng tiền tròn bằng bạc, khi cài áo sẽ tạo thành các đồng tiền
tròn có đường kính 4- 5 cm, nhìn rất đẹp. Nhóm Dao Tiền là nhóm duy nhất phụ
nữ không mắc quần chỉ mặc váy in hoa văn màu xanh nhạt”


Chương 2
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ DAO TIỀN- NÉT ĐẸP
RIÊNG BIỆT VÀ TINH TẾ
2.1. NÉT KHÁC BIỆT TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ
DAO TIỀN

lánh trên nền áo chàm.
Nét đặc biệt nhất của trang phục Tày chính là ở những hình mẫu hoa văn
trang trí trên vải của họ. Loại vải dệt hoa văn mầu đen trên nền vải trắng là loại vải
để may mặt chăn, loại hình trang trí này phổ biến trong các dân tộc nói ngôn ngữ
Tày-Thái. Người ta còn dùng một thuật ngữ để gọi đồ án trang trí hoa văn như thế
này là lái ăm - có nghĩa là vằn đồ đan, giống như các vằn nổi trên đồ đan. Họa tiết
được kỷ hà hóa để thích hợp với việc dệt trên khung dệt. Bố cục họa tiết theo
phương pháp ô quả trám có các đường viền xung quanh tạo thành các đường diềm
gãy khúc. Trong các ô quả trám là họa tiết cách điệu hóa hình hoa, hình ngọn rau
bầu, bí, là loại cây có liên quan nhiều đến nền văn hóa cổ, tín ngưỡng cổ của nhiều
cư dân nông nghiệp ở phía Bắc nước ta, trong đó có người Tày.


Trên cơ sở của loại bố cục hoa văn một mầu đen trên nền trắng, người Tày
lại phát triển trang trí theo một hướng khác, gài mầu vào từng đoạn họa tiết, từng
mảng họa tiết tùy trình độ thẩm mỹ, ý thích của người dệt trên khung dệt thủ công,
có tên gọi là thổ cẩm, mang ý nghĩa là một loại gấm của địa phương.
2.1.2. So sánh với trang phục của phụ nữ Dao Đỏ
Trong 9 nhóm Dao khác nhau, nhóm Dao Đỏ là nhóm người đông đảo nhất,
riêng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, dân cư Dao Đỏ sinh sống trên 27 xã thuộc
huyện Na Hang và Chiêm Hóa. Văn hóa của người Dao Đỏ đã là cơ sở của rất
nhiều đề tài nghiên cứu khoa học. Mặc dù cùng thuộc tộc người Dao nhưng nhóm
Dao Đỏ và nhóm Dao Tiền lại có nhiều sự khác biệt trong văn hóa đặc biệt là sự
khác biệt ngay trên bộ trang phục truyền thống của người phụ nữ. Để phân biệt
Dao đỏ và Dao tiền thì điều dễ nhận biết nhất là trên trang phục của họ. Sở dĩ,
nhóm Dao tiền có tên như vậy là vì họ trang trí trên y phục là những đồng tiền xu
bằng bạc; còn y phục nữ Dao đỏ màu sắc trang trí chủ đạo là màu đỏ với hai chuỗi
bông đỏ được gắn trên áo của phụ nữ. Hoa văn trang trí trên vải của người Dao vô
cùng đặc sắc, phong phú, chủ yếu là những hình ảnh thường thấy trong sinh hoạt
hằng ngày, như: hình hoa lá, cỏ cây, hình tổ tiên, những loài vật... gắn bó với họ

Nhóm Dao đỏ và Dao Tiền trang trí trên trang phục có sự khác biệt nhưng
vẫn có những mô típ trang trí giống nhau; đó là hoa văn hình chữ vạn, hoa văn này
xuất hiện trên gấu quần nữ Dao đỏ và trên vạt áo nữ Dao tiền. Gấu quần nữ Dao đỏ
thêu chữ vạn đơn và chữ vạn kép, trên vạt áo nữ Dao tiền thêu chữ vạn đơn. Người
Dao thêu chữ vạn lên trang phục thể hiện mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến
với họ Tuy nhiên, khác với trang phục Dao Đỏ, trang phục truyền thống của người
Dao Tiền lấy 2 màu sắc chủ đạo là chàm và đen để trang trí. Đây là hai màu sắc


tinh tế, nhã nhặn và hài hòa, khi kết hợp với hoa văn trên vải, tạo nên một bộ trang
phục độc đáo và khác biệt.
Một nét đặc trưng trong kỹ thuật in hoa trên vải bằng sáp ong rất ấn tượng
của riêng người Dao Tiền. Để tạo hoa văn trước tiên người ta dùng dụng cụ vẽ là
những chiếc bút làm thủ công bằng tre. Loại bút to để tỉa tót hoa lá, loại vừa
chuyên vẽ các hình như vuông, tròn... Sau khi nấu chảy sáp ong họ sẽ nhúng đầu
bút vẽ hoa văn lên vải rồi đem đi nhuộm chàm. Lúc này vải sẽ hiện lên những hoa
văn do được phủ lên bằng lớp sáp ong, không bị nhuốm màu chàm. Sau đó, họ đem
ngâm vào nước nóng để sáp ong tan ra và những hình vẽ hiện ra với màu xanh nhẹ
hài hòa đẹp mắt.

Các thành

Tày

Dao Đỏ

Dao Tiền

tố trong
trang phục

- áo 4 thân, xẻ ngực,

- gài khuy đồng

ngực

xẻ tà

bên phải

- áo không khuy,

- áo cánh 4 hoặc 5

không cúc

thân xẻ ngực
Yếm

- đính hạt cúc bằng cổ tròn mở sau gáy, - Yếm nhỏ che kín cổ


kim loại

có những đường

và ngực

thêu bằng chỉ trắng - Yếm trắng hoặc hồng
Quần/ Váy Quần dài ống rộng


trang trí hình ngọn

xanh và tím nâu

rau bầu, bí

- viền chỉ trắng,
xanh, hồng
- gắn đồng tiền bạc
trên thân áo

( Bảng so sánh những điểm cơ bản trang phục truyền thống của phụ nữ Dao
Tiền với Tày và Dao Đỏ)

2.2. TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ DAO TIỀN TRONG ĐỜI
SỐNG XÃ HỘI

2.2.1. Trang phục ngày thường
Trang phục truyền thống trước hết là sản phẩm vật chất của lao động, đồng
thời nó cũng là sản phẩm văn hóa, là biểu hiện sinh động của kỹ thuật thủ công gắn
liền với khả năng thẩm mỹ và nó luôn mang những sắc thái văn hóa độc đáo của
các dân tộc. Mỗi dân tộc trong cộng đồng cư dân Tuyên Quang có cách tạo hình
trang trí và sử dụng trang phục theo những đặc điểm văn hóa riêng của mình. Đó là


sự thể hiện một trình độ thẩm mỹ cao, một đời sống tâm hồn giàu chất mỹ cảm
nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện, chan hòa với cảnh sắc thiên nhiên. Trang
phục và những giá trị thẩm mỹ của nó đã góp phần đáng kể làm rạng rỡ thêm sắc
thái văn hóa của các dân tộc ở đây.

ra một bộ quần áo truyền thống của người Dao Tiền phải mất hơn 1 năm mới hoàn
thành, các cô gái phải tự trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm… công đoạn khó nhất
và mất nhiều thời gian nhất là thêu những họa tiết hoa văn trên áo, thêu “nối màu”
ở gấu áo. Ở xã Kim Bình gia đình nào cũng phải có ít nhất một bộ trang phục
truyền thống để “diện” trong những dịp lễ, tết.
Trong ngày hội, ngày chợ chị em phụ nữ Dao Tiền rất duyên dáng, nhã nhặn
trong trang phục truyền thống như những cánh bướm của núi rừng hồn nhiên và
trong sáng.
Ngày cưới, cô dâu Dao Tiền mặc áo kép tự làm, Khi làm cô dâu trong đám
cưới cô gái Dao Tiền phải đội cái mũ khung được làm bằng tre nứa, xơ mướp và
tóc rối, phía ngoài phủ một cái khăn thêu dài che kín mặt. Khung mũ được làm
bằng tóc rối phết sáp ong, trên khung được phủ khăn trắng hình chữ nhật, thêu các
hoạ tiết bằng chỉ nhiều màu. Theo quan niệm của người Dao Tiền, khi cô gái về
nhà chồng, ngoài váy, áo tự làm suốt một năm qua, còn có của hồi môn là những
đồ trang sức bằng bạc do cha mẹ mình tặng. Những đồ trang sức này sẽ được giữ
lại như bảo vật của gia đình, dòng họ và sẽ trao lại cho con cháu sau này.


2.3. HÌNH ẢNH NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU TRONG TRANG PHỤC TRUYỀN
THỐNG CỦA PHỤ NỮ DAO TIỀN

2.3.1. Hình thêu trên vạt áo
Hoa văn trên vải của dân tộc Dao Tiền ở xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang vô cùng đặc sắc, phong phú, thể hiện trình độ tư duy và khả
năng thẩm mỹ của họ. Hình ảnh hoa văn trên vải như phản ánh tâm tư, tình cảm
của họ với tổ tiên, thiên nhiên; là mối giao cảm giữa con người với thiên nhiên, con
người với tổ tiên và những loài vật đã giúp họ trong cuộc sống.
Trên áo người Dao Tiền nhất thiết phải thêu các hoa văn hình trám, hình con
chó, hình nhện và hoa (thêu ở 2 bên phía sau) cũng là đặc điểm riêng của trang
phục. Các hình thêu chó, nhện là cả câu chuyện dài của dân tộc Dao Tiền.

2.3.2. Hình ảnh khắc họa trên đồ trang sức bằng bạc
Đồ trang sức bằng bạc là vật bất ly thân của người phụ nữ Dao Tiền và cũng
là sở thích của thiếu nữ các dân tộc vùng cao. Đối với người dân vùng cao, bạc
truyền thống được chạm thủ công vẫn được ưa chuộng, nhất là trang sức không thể
thiếu gắn liền với bộ trang phục của người phụ nữ, trong các nghi lễ truyền thống
như: cưới xin, lễ hội, đón Tết. Theo truyền thuyết kể lại, người dân đeo chúng sẽ
trừ tà ma, tránh gió và được thần linh phù hộ.
Trong trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Tiền nhất định phải có vòng
cổ ( chiềm vàn), vòng tay ( chiềm pủa), vòng tay ( nòm sum), Nhẫn ( sun), xà tích
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu dân gian thì họa tiết chạm bạc của
đồng bào Dao Tiền khác hẳn và nổi trội hơn so với trang sức bằng bạc của các dân
tộc khác ở các kiểu thức lạ về hình khối, dáng vẻ sản phẩm, ở các phương án trang


trí mô tuýp hoa văn tinh vi mà cân đối, ở thủ pháp xử lý sáng - tối nhờ tận dụng
đặc tính phản quang của chất liệu bạc. Đối với các sản phẩm có kích thước nhỏ,
nhiều hoạ tiết, hoa văn hình chìm, hình nổi tinh xảo, đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và
nhẫn nại của nguời thợ. Hoa văn chạm trên các sản phẩm chủ yếu là các hình: hoa
hướng dương, chiếc lá, mặt trời, sao 8 cánh... Trong đời sống vật chất, tinh thần
của đồng bào Dao Tiền, những vật trang sức bằng bạc không chỉ là vật bất ly thân
của người phụ nữ để làm đẹp mà nó còn mang giá trị nhân văn, tín ngưỡng.
Mô típ hình đồng xu in bằng kỹ thuật in hoa văn sáp ong chỉ được in trên
váy của phụ nữ Dao tiền. Các đồng xu này thêu thành dải liên tiếp nhau chạy hết
chiều rộng của váy. Đây là niềm mong ước của họ về sự thịnh vượng, mong muốn
cuộc sống no đủ, tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, còn có hoa văn hình cây, hoa văn hình
sóng nước, xương cá... như lời nhắc nhở của thế hệ trước tới thế hệ sau hãy luôn
ghi nhớ và trân trọng cuộc hành trình của tổ tiên, hăng say lao động, sản xuất, vươn
lên trong cuộc sống.



đại ngày nay). Điều này là một trở ngại rất lớn trong việc bảo tồn và giữ gìn bộ
trang phục truyền thống vì nhân vật làm biến đổi lại chính là từ phía cộng đồng
sáng tạo nên dân tộc đấy.
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN VẺ ĐẸP TRONG TRANG
PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ DAO TIỀN

Để bảo vệ và gìn giữ trang phục của đồng bào các dân tộc, Xã Kim
Bình nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung cần tổ chức các hội thi trình diễn
trang phục truyền thống dân tộc để tôn vinh trang phục truyền thống của đồng bào
dân tộc trong đó có đồng bào dân tộc Dao Tiền, qua đó nhằm động viên, khích lệ
đồng bào chú trọng bảo tồn và giữ gìn trang phục của dân tộc mình.
Trang phục truyền thống của đồng bào các dân tộc không chỉ là đồ dùng
mà nó còn là sản phẩn văn hoá của dân tộc. Vì vậy, thông qua các hội thi trang
phục, đặc biệt trong các hội thi được nhiều người biết đến như các cuộc thi sắc đẹp
như cuộc thi hoa hậu các dân tộc thiểu số, các buổi trình diễn thời trang trong các
chương trình giao lưu giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số… để tôn vinh vẻ đẹp,
làm cho đồng bào các dân tộc luôn tự hào mỗi khi mặc bộ trang phục của dân tộc
mình, tự ý thức được bản sắc văn hoá của nền văn hoá đã làm nên tư cách và diện
mạo văn hoá của mình.Thông qua trang phục truyền thống ngừơi ta có thể nhận
biết xu hướng, khả năng sáng tạo thẩm mỹ của mỗi cộng đồng văn hoá.
Các cơ quan quản lý cũng cần phải khắt khe hơn trong công việc quản lý
các dịch vụ cho thuê trang phục biểu diễn, đặt yếu tố bảo tồn văn hóa lên hàng đầu.
Đồng thời, tuyên truyền cho chính cộng đồng dân tộc Dao Tiền và cộng đồng các
dân tộc anh em thấy và hiểu được ý nghĩa, vẻ đẹp của những bộ trang phục truyền
thống để từ đó người dân thêm yêu, thêm quý trọng bộ trang phục truyền thống của


dân tộc mình mới hình thành nên ý thức cần phải giữ gìn và bảo vệ bộ trang phục
truyền thống
Để việc giữ gìn, phát triển bản sắc trong trang phục của dân tộc trở thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status