Đánh giá hiệu quả của việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt ở thị xã sơn tây, tỉnh hà tây - Pdf 37

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong xu thế phát triển nền kinh tế thế giới là hướng tới
phát triển bền vững. Để đạt được điêù đó thì phải bảo đảm ba yếu
tố Kinh tế – Xã hội – Môi trường, trong đó yếu tố môi trường
hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới
và Việt Nam cũng vậy. Để đảm bảo duy trì môi trường trong sạch
thì mỗi chúng ta là một thành viên trong cộng đồng loài người
phải có ý thức bảo vệ duy trì không những cho hiện tại chúng ta
mà còn cho thế hệ mai sau. Trong những năm gần đây nền kinh
tế nước ta có sự chuyển đổi mạnh mẽ, thu nhập của người dân
được nâng lên, nhu cầu tiêu dùng càng ngày càng cao, do đó khối
lượng chất thải cũng gia tăng theo, đặc biệt ở các thành phố lớn
như: Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,… Tại các
thành phố này, lượng rác thải trung bình mỗi ngày phát sinh 1,1
kg chất thải/người/ngày. Do tính chất của các loại chất thải cho
đến nay lượng chất thải rắn trong cả nước bình quân mới thu gom
để tập trung xử lý chỉ mới đạt khoảng 60-70% lượng rác thải tổng
lượng rác thải thải ra hàng ngày, có nghĩa là có khoảng 30-40%
lượng rác thải còn tồn đọng trong môi trường sống của chúng ta.
Đây là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng trong môi trường, khả năng


gây ô nhiễm các nguồn nước đất và không khí là rất lớn. Nhiều
nơi ở nhiều địa phương rác thải rắn đã làm ô nhiễm và suy thoái
môi trường. Không nằm ngoài tình trạng đó số lượng rác thải thị
xã Sơn Tây càng ngày càng tăng theo mức đô thị hoá của nó.
Hiện nay, một vấn đề mà lâu nay chưa được nhiều người
quan tâm giải quyết, đó là công tác quản lý, thu gom và xử lý rác
thải rắn vùng ranh giới giữa đô thị và nông thôn, giữa các xã và
thôn bản với nhau. Khu vực ranh giới này đã trở thành bãi đổ

• Chương II: Tổng quan về tình hình thu gom xử lý rác thải
sinh hoạt của thị xã Sơn Tây.
• Chương III: Đánh giá hiệu quả của hoạt động thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải của thị xã Sơn Tây.



CHƯƠNG I
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI VIỆC XỬ LÝ RÁC SINH
HOẠT
I. Khái niệm về rác thải sinh hoạt
Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người, một
bộ phận vật liệu không có hoặc không còn giá trị sử dụng nữa gọi
chung là chất thải.
Người ta phân biệt chất thải từ nguồn gốc tạo ra nó. Đó là
chất thải công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Chất thải từ quá
trình sinh hoạt của con người gọi là rác thải nhiều trường hợp
chất thải dịch vụ cũng là rác thải.
Khái niệm trên mới nhấn mạnh đến một quá trình sản xuất
với một công nghệ xác định. Khi có thay đổi công nghệ thì lượng
thay đổi, hoặc lượng thải của dây truyền này thành nguyên liệu
của dây truyền khác hứa hẹn tạo ra một chu trình sản xuất khép
kín sinh ra rất ít hoặc không có chất thải cuối cùng; đó chính là
nguyện vọng và là mục đích của công nghệ ngày nay.
Xét về mặt môi trường người ta quan tâm chủ yếu vào
nguồn gốc chất thải gây ra ô nhiễm môi trường và cách thức gây
ra ô nhiễm môi trường của chất thải đó. Đặc biệt người ta quan
tâm đến những chất thải gây ra hậu quả lâu dài hoặc mất một thời



và các mối liên quan mật thiết của khu vực không chính thức
tham gia vào quá trình thu nhặt như các điều kiện định lượng và
đặc tính của chất thải trong các nước đang phát triển. Hơn nữa
công nghệ lưu giữ thu gom và vận chuyển phải tương hợp với
nhau; các bước khác nhau trong việc chôn lấp các chất thải rắn
phải được liên kết với nhau và tính hiệu quả của một công nghệ
phải liên quan mật thiết với các công nghệ khác.
Việc quản lý rác thải phải bắt đầu từ việc lưu giữ tại nguồn.
Yếu tố chủ yếu trong việc phân loại các thiết bị lưu giữ là tính
tương hợp của thiết bị với nguồn phát sinh tính nguy hại đối với
sức khoẻ tính sửa đổi đối với thu gom hiệu quả và chi phí. Khối
lượng lưu giữ chất thải dựa vào dung lượng và tần xuất thu gom
rác. Việc cung cấp các thiết bị lưu giữ rác trong các gia đình ở
các vùng đô thị trong các nước đang phát triển thường đắt và
không thuận lợi. Tuy nhiên các nhà lập chính sách phải xem xét
phạm vụ sử dụng các thùng chứa công cộng ơ bất kỳ chỗ nào


thuận tiện. Ngành công nghiệp đa phương sản xuất các thùng
chứa lẫn cần phải được khuyến khích.
Đảng ta đó đưa ra một số văn bản pháp luật, ví dụ như chỉ
thi số 36/TW ngày 25/ 5/1998 của bộ chính trị về tăng cường
cụng tỏc quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và chỉ thị 43/CT
- UB ngày 25/10 năm 1996 của UBND tỉnh Hà Tây về tăng
cường công tác bảo vệ môi trường.Trên tinh thần đó dó cú nhiều
mụ hỡnh quản lý thu gom rỏc thải ra đời và dó đạt được những
hiệu quả nhất định và trong số các mô hỡnh đó phải kể đến mô
hỡnh thu gom và vận chuyển rỏc thải tại thị xó Sơn Tây-Tỉnh Hà
Tây, đây cũng là một mô hỡnh tiờu biểu vỡ nú đó giải quyết
được mâu thuẫn mà rất nhiều khu vực ven đô các thành phố lớn

nghiệp tư nhân này lại không tuân thủ đầy đủ các yêu cầu mà nhà
nước quy định.


- Không cập nhật được những quy định của nhà nước đối với các
chính sách quy hoạch phát triển của đất nước, nhất là những quy
chế trong lĩnh vực môi trường.
- Đôi khi thiếu trách nhiệm chung, đề cao lợi ích cá nhân.
1.2. Mô hình quản lý nhà nước.( Đang được áp dụng tại
CTMT&CTĐT Sơn Tây )
Trong nền kinh tế nước ta, mô hình quản lý nhà nước được
áp dụng khá phổ biến. Việc quản lý nó chịu sự quản lý theo
ngành, UBND địa phương. Trong lĩnh vực môi trường cũng vậy,
phương thức hoạt động của mô hình nhà nước này chủ yếu là tối
ưu hoá lợi ích xã hội.
UBND tỉnh

UBND phường

Sở KHĐT - TCVG

Sở GTCC

Sở TNMT

Ban quản lý vốn

Cty MTĐT

Đơn vị thu gom

nước đang phát triển là chôn lấp hợp vệ sinh làm phân ủ thiêu đốt
(nhiệt phân).
a. Chôn lấp hợp vệ sinh:
- Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát phân
huỷ chất thải trong đắt bằng cách nén chặt và phủ lấp bề mặt.
Chất thải rắn trong chôn lắp bị tan rữa ra về mặt hoá học và sinh
học rồi tạo ra các chất thải rắn lỏng khí. Các chất tiêu biểu đựơc
tạo ra trong quá trình phân huỷ bởi vi khuẩn bao gồm nước, axit,
hữu cơ, metan, nitơ, NH3… chất thải thực phẩm đã bị phân huỷ
trong các loại khác nhau như chất dẻo cao su và một số chất thải
có độ kháng phân huỷ cao. Sự lắng đọng và phân huỷ chất thải
trong chôn lấp có thể gây ra một số nguy hại cho môi trường như
sau:
- Tạo ra một số vật chủ trung gian gây bệnh như muỗi các
loại côn trùng có cánh và loại gặm nhấm.
- Mang rác thải bẩn thỉu theo gió làm ô nhiễm không khí.
- Cháy.
- Gây ra mùi khó chịu và khí độc.
- Rò rỉ chất thải bằng cách nước kết quả; do vậy làm ô
nhiễm nước mặt và nước ngầm.


Chôn nén và lấp đất hợp vệ sinh hàng ngày kiểm tra độ
nguy hại từ 1 đến 4 lần. Việc kiểm tra rò rỉ khí đòi hỏi các biên
pháp chuyên môn.
Có thể kiểm soát rò rỉ bằng hai cách là chọn nơi có đặc
điểm bảo vệ tự nhiên hoặc xây dựng hệ thống chống rò rỉ hoàn
hảo khi địa điểm không có đặc điểm thích hợp. Việc kiểm soát rò
rỉ ở bãi chôn lấp hợp vệ sinh đòi hỏi bãi chôn có đáy kín và hệ
thống thoát nước: nồng độ chất hữu cơ ở thiết bị lọc chỉ ở mức

nghiệp thực phẩm, các chất thải từ công nghiệp gỗ và giấy, phân
chuồng động vât nuôi. Việc ủ phân không được thuận lợi nếu các
thành phần này dưới 30% tổng số chất thải hoặc nếu độ ẩm cao
hơn 40-50%.


Chất thải ở các nước đang phát triển chứa tới 70-80% chất
thực vật rễ thối rữa, lại có tiểm năng đáng kể đối với Compost
nhờ các phương pháp canh tác nông nghiệp phong phú và giá cả
phân bón hữu cơ cao; có sức lao động tương đối rẻ thuận tiện và
tiết kiệm trong việc ủ phân. Bởi vậy biện pháp chôn lấp và sử
dụng chất thải giữ vai trò quan trọng đối với việc quản lý chất
thải rắn ở các nước đang phát triển.
c. Ủ tạo khí gas
Làm tiêu hủy bằng lượng khí cho quá trình chuyển hoá sinh
học của chất hữu cơ thành hỗn hợp metan và cacbon dioxit gọi là
sinh khí; cùng với chất cặn bã thể lỏng và rắn khác. Chất khí
cung cấp nhiên liệu có lượng calo thấp khi đó các chất rắn ổn
định sẽ giữ lại giá trị phân bón của chất nền nguyên thủy.
Chỉ có các thành phần hữu cơ của đồ thải và có tính chất
suy thoái về mặt sinh học. Việc chế biến thức ăn động vật từ rác
thải rắn phải tiến hành trước quá trình tiêu huỷ lượng khí.
d. Thiêu đốt
Thiêu đốt là quá trình chất thải dễ cháy bị chuyển hoá thành
cặn bã chứa các chất hầu như không cháy đựơc và các chất khí
phát tán vào khí quyển. Chất bã còn lại và khí thải ra thường phải
được tiếp tục xử lý. Nhiệt phát sinh trong quá trình này được thu


hồi và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Thiêu đốt không

C: Chi phí phát sinh gồm.
Ctgom : Chi phí thu gom.
Cvd: Chi phí vận chuyển.
Cxlý

Chí phí xử lý.

Chchinh

Chí phí hành chính.

Cxlync

Chí phí xử lý nước rác .

EC

Chi phí thiệt hại môi trường.

1. Khái niệm về đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường
của dự án.
a)khái niêm:
Để có thể triển khai một dự án trong thực tế thì đối với mỗi
dự án thì chúng ta cần phải đánh giá, phân tích hiệu quả của một


dự án trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường. Tuỳ vào mỗi dự
án cụ thể thì chúng ta có thể nhấn mạnh và quan tâm chủ yếu đến
một mặt nào đó của dự án. Đối với một dự án môi trường thì hiệu
quả về mặt kinh tế (lợi nhuận) không phải là quan trọng nhất, mà

môi trường ngày càng được quan tâm hơn, để có thể hội nhập với
nền kinh tế toàn cầu thì yêu cầu các dự án không thể không tính
tới yếu tố môi trường vì vậy việc đánh giá hiệu quả kinh tế, xã
hội, môi trường của dự án là hết sưc cần thiết.
2. Phương pháp đánh giá hiệu quả.
2.1. Đánh giá lợi ích (B).
B = B1 + B2 + B3 + B4 + B5
2.1.1. Doanh thu từ phí vệ sinh môi trường: B1


B1=12.K.N.R
K: mức phí 1 người / tháng
N: Số dân trên địa bàn
R:Tỷ lệ thu phí vệ sinh môi trường
2.1.2. Lợi ích trong việc thu gom phế liệu: B2
B2= B21 + B22
B21: lợi ích do giảm khối lượng vỏ đến bãi rác.
B22: Tạo thu nhập cho người thu gom rác.
Ta có:
B21 =M.K
M: khối lượng không phải vận chuyển do hoạt động thu
góm phế liệu.
K: Cước vận chuyển 1 tấn rác dến bãi rác
B22=12.N.W4 – 12.N.W5=12.N.(W4 – W5)
N: số người tham gia thu mua phế liệu
W4: Thu nhập trung bình / người /tháng do thu mua phế
liệu
W5: Thu nhập trung bình của nông dân
2.1.3. Lợi ích tiềm năng của việc thu phí gas :B3
B3=M.P.V

Mi : khối lượng dụng cụ i dùng trong một năm.
W =12.W1.N1
Trong đó:
W1: mức lương trung bình cửa công nhân thu gom/1 tháng
N1: số lương công nhân thu gom
2.2.2. Chi phí vận chuyển.
Cv c= FC + VC
2.2.2.1. Tính FC chi phí khấu hao TSCĐ/năm.
r
FC =

r-1

M (1+r ) x
(r+1)r -1

M: giá trị ban đầu
r: số năm khấu hao
2.2.2.2. Tính VC chi phí biến đổi cửa hoạt động vận chuyển
VC = VC1 + VC2 + VC3 + VC4
VC1: chi phí lương và bảo hiêm xã hội .
VC2: chi phí bảo hộ lao động .
VC3: chi phí nhiên liệu vận chuyển .
VC4: chi phí khác
Ta có: VC1 = 12 . W2 . N2 ( 1 +20% )


W2: mức lương trung bình cưa công nhân vân chuyển / 1
tháng .
N2: số lượng công nhân vận chuyển .

Q2: sản lượng lương thực khi bãi vận hành .
P: giá lương thực .
S: diện tích bị ảnh hưởng .
A: mức chi phí khác do bãi chôn lấp gây ra (thuốc chuột, ni
lông ).
2.2.6.2. Chi phí MT tính thông qua bệnh tật của người dân, người
lao động: EC2 .
EC2 = EC21 + EC22
EC21: cho người lao động .
EC21 = 55 0 /0 lương = 550 /0 ( N1 W1 + N2 W2 ) .
55% mức lượng độc hại.
- EC22: chi phí cho dân cư.


EC22=( ∑ K1iPi + ∑ K2iPi)
K1i: số người mắc bệnh ở vùng bị ảnh hưởng = số dân bị ảnh
hưởng x mức chênh lệch.
K2i: số người mức bệnh I ở vùng không bị ảnh hưởng.
Pi: chi phí khám i/1lần.
Chi khác: khi phí do phảI ngỉ việc của người nhà người bệnh và
người bệnh (chi phí có hại)
2.2.6.3. Chi phí đền bù do ô nhiễm: EC3
Mức đền bụ được xác định theo hệ số K (theo phạm vi và mức độ
ảnh hưởng)
2.2.7. Chi phí khác:
2.2.7.1. Chi phí của việc sử dụng đất: DC
DC =Q.S .P
Q: năng suất trung bình
P: Giá lg thực
S: Diện tích bị mất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status