Luận văn
Đánh giá hiệu quả công tác
thu gom, vận chuyển rác
thải công nghiệp trên địa
bàn khu công nghiệp Đại
An, Tỉnh Hải Dương
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động bảo vệ môi trường muốn triển khai tốt cần huy động được sự
tham gia của mọi người trong xã hội. Ở Việt Nam thì luật Bảo vệ môi trường
đã quy định rất cụ thể về quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các cá nhân tổ
chức trong công tác bảo vệ môi trường; điều này được Đảng và Nhà Nước ta
nhấn mạnh trong nhiều văn bản khác nhau. Nghị quyết 41 của Bộ Chính Trị
họp tháng 11 năm 2004 cũng đã nêu rõ: “ Bảo vệ môi trường là quyền lợi và
nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân và mỗi người, là biểu hiện của nếp sống
văn hóa, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp
truyền thống yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với tự nhiên của ông cha ta”.
Đối với đô thị mới như Hải Dương bên cạnh sự phát triển nhanh và mạnh
mẽ đã và đang góp phần to lớn làm thay đổi bộ mặt của đất nước trên nhiều
phương diện khác nhau thì cũng đặt ra ra cho các nhà quản lý, các nhà
nghiên cứu về đô thị những khó khăn thách thức về môi trường, đặc biệt là
vấn đề thu gom, vận chuyển rác thải.
Trong một thời gian dài, việc thu gom, vận chuyển rác thải ở nước ta là
- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích.
- Phương pháp thống kê, thu thập, liệt kế số liệu.
- Phương pháp kế thừa so sánh.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích.
- Tham khảo các tài liệu về quản lý chất thải nguy hại. 5. Bố cục của đề tài :
Phần I : Phần mở đầu.
Phần II: Nội dung :
Chương I : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC THU GOM, VẬN CHUYỂN RÁC THẢI
CÔNG NGHIỆP
Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU GOM, VẬN CHUYỂN
RÁC THẢI CN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chương III : ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC THU GOM, VẬN
CHUYỂN RÁC THẢI CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Chương IV: CÁC KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC
THU GOM VÀ VẬN CHUYỂN RÁC THẢI CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
Phần III: Kết luận.
Phụ lục.
Tài liệu tham khảo. CHƯƠNG I
+ Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là rác thải hoặc chất thải sinh hoạt
được phát sinh từ các hộ gia đình.
+ Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại là những chất
thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ.
- Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: gồm có chất thải rắn, chất thải
lỏng và chất thải khí.
- Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: Theo cách phân loại này người
ta chia ra chất thải dạng hữu cơ và vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như
chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy bìa….
- Phân loại chất thải theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật như
chất thải độc hại, chất thải đặc biệt.
Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc
nghiên cứu, sử dụng, tái chế hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả.
1.3. Các thuộc tính của chất thải
- Chất thải tồn tại ở mọi dạng vật chất như rắn, lỏng, khí có thể xác định
khối lượng rõ rang. Một số chất thải tồn tại dưới dạng khó xác định như
nhiệt, bức xạ, phóng xạ… Dù tồn tại dưới dạng nào thì tác động gây ô nhiễm
của chất thải là do các thuộc tính về lý học, hóa học, sinh học của chúng
trong đó thuộc tính hóa học là quan trọng nhất. Ta chú ý đến các thuộc tính
cơ bản của chất thải về mặt hóa học. - Thuộc tính tích lũy dần do các hóa chất bền và sự bảo tồn vật chất nên từ
một lượng nhỏ vô hại qua thời gian chúng tích lũy thành lượng đủ lớn gây
tác hại nguy hiểm, đó là các kim loại nặng As, Hg, Zn.
- Các hóa chất có thể chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác hoặc kết hợp
với nhau thành các chất nguy hiểm hơn hoặc ít nguy hiểm hơn, chẳng hạn
nước thải chứa Cl hóa hợp với các chất hữu cơ tạo ra hợp chất chứa Cl độc
từ nông nghiệp chủ yếu và nguy hiểm nhất từ việc sử dụng hóa chất bảo vệ
thực vật ( thuốc trừ sâu và trừ cỏ).
- Chất thải sinh hoạt bao gồm tất cả các loại chất thải còn lại xuất phát từ
mọi khía cạnh của hoạt động của con người trong cuộc sống hàng ngày.
Trong các chất thải này có những chất hữu cơ có thể lên men, là môi trường
phát triển của vi sinh vật gây bệnh.
3. Chất thải công nghiệp
Chất thải công nghiệp (CTCN) là phần dư của sản phẩm công nghiệp
được bỏ đi. Chất thải công nghiệp được phân chia thành 2 loại: không nguy
hại và nguy hại.
3.1. Nguồn gốc
Chất thải được hiểu là phần dư đa dạng theo thành phần và tính chất hóa
lí, được đặc trưng bởi giá trị sử dụng và theo bản chất tự nhiên là tài nguyên
thứ cấp, mà việc sử dụng trong sản xuất hàng hóa yêu cầu một số công đoạn
bổ sung xác định với mục đích tạo cho chúng các tính chất cần thiết.
Sự tích lũy khối lượng đáng kể phế thải trong nhiều ngành công nghiệp là
do trình độ công nghệ chế biến nguyên liệu hiện có và do không sử dụng
toàn bộ nó. Việc vận chuyển và lưu trữ chất thải rắn là một biện pháp tốn kém. Trong luyện kim, trạm nhiệt điện và máy tuyển than chi phí cho chúng
khoảng 8-30% giá thành sản xuất sản phẩm chính.
Trong khi đó, phần lớn chất thải của các ngành công nghiệp có thể sử
dụng hiệu quả trong nền kinh tế. Công nghiệp xây dựng và công nghiệp vật
liệu xây dựng hàng năm khai thác và tiêu thụ gần 3,5 tỉ tấn nguyên liệu, mà
phần lớn có thể được thay thế bằng chất thải công nghiệp. việc tận dụng chất
thải cho phép giảm chi phí 2-3 lần so với việc
Sự hình thành chất thải là quy luật tất yếu của sản xuất. Chất thải có thể
sinh ra trong bất cứ giai đoạn nào, của sản xuất bất kỳ loại hàng hóa nào.
Nguồn gốc chất thải được mô tả theo sơ đồ
Sản phẩm và nhanh chóng, tuy nhiên cũng có nhiều nguyên nhân mà để khắc phục nó
cần có thời gian và chi phí lớn.
Sự phân loại chất thải có thể theo ngành sản xuất như chất thải ngành hóa
chất, luyện kim, nhiên liệu…, hoặc theo nhóm sản xuất cụ thể như chất thải
của ngành sản xuất axit sunphuaric, soda, axit foctoric). Tuy nhiên do tính
đa dạng của chất thải và thành phần rất khác nhau ngay cả với chất thải có
cùng tên nên chưa thể có sự phân loại chính xác và trong trường hợp cụ thể
phải tìm phương án xử lý riêng biệt. Mặc dù các phương pháp được ứng
dụng là chung trong công nghệ chế biến vật liệu.
3.2. Đặc điểm
Chất thải công nghiệp sinh ra trong nhà máy có những đặc điểm thuận lợi
trong việc quản lý chất thải là
- Nguồn thải tập trung nằm ngay trong nhà máy
- Cơ sở sàn xuất có trách nhiệm, có nhân viên thu gom tại nhà máy.
- Có dụng cụ chứa chuyên dùng được nhà máy đầu tư.
- Chi phí cho xử lý, quản lý chất thải nằm trong hạch toán giá thành sản
phẩm
- Đã có luật môi trường, quy chế về quản lý chất thải nguy hại.
Tuy nhiên, chất thải công nghiệp có đặc điểm là có tính độc hại cao hơn
rác sinh hoạt. do đó chúng cần được kiểm soát chặt chẽ theo quy định.
3.3. Quy trình quản lý rác thải công nghiệp
Quản lý rác thải bao gồm các công đoạn: thu gom, vận chuyển và xử lý
rác. Trong đó công việc tổ chức thu gom và vận chuyển rác thải đóng một vai trò khá quan trọng. Chi phí cho các công đoạn này tăng đáng kể ở hầu
hết các nước, chiếm tỷ lệ từ 70 – 90% chi phí quản lý.
phương pháp canh tác nông nghiệp phong phú và giá cả phân bón hưu cơ
cao, có sức lao động rẻ, thuận tiện và tiết kiệm trong việc ủ phân. Bởi vậy,
biện pháp chon lấp và sử dụng chất thải giữ vai trò hữu ích đối với việc quản
lý chất thải rắn ở các nước đang phát triển.
- Ủ tạo khí ga
Làm tiêu hủy bằng kỵ khí, quá trình chuyển hóa sinh học của chất hưu cơ
thành hỗn hợp mêtan và cacbon dioxit gọi là sinh khí, cùng với các chất cặn
bã thể lỏng và rắn khác. Chất khí cung cấp nhiên liệu có lượng calo thấp,
trong khi đó các chất rắn ổn định sẽ giữ lại giá trị phân bón của chất nền
nguyên thủy.
Tiêu hủy kỵ khí không được áp dụng ở mức độ rộng rãi để hủy chất thải
rắn. Biện pháp hủy chất thải phối hợp nay, cả về nhiên liệu và sản phẩm
phân bón có tiềm năng áp dụng ở các nước đang phát triển, chủ yếu về khía
cạnh giảm nhập khẩu nhiên liệu và phân bón đáng kể nhất là ở vùng nông
thôn.
- Thiêu đốt
Thiêu đốt là quá trình chất thải dễ cháy bị chuyển hóa thành cặn bã chứa
các chất hầu như không cháy được và các chất khí phát tán vào khí quyển. Chất cặn bã còn lại và khí thải ra thường phải được tiếp tục xử lý. Nhiệt phát
sinh trong quá trình này được thu hồi và sử dụng cho các mục đích khác
nhau. Thiêu đốt không phải là một giải pháp quan trọng về kinh tế và phù
hợp về kỹ thuật đối với các thành phố ở các nước đang phát triển, xét về
khía cạnh giá trị calo thấp và nồng độ hơi nước cao trong chất thải. Trong
nhiều trường hợp, công đoạn cuối của quá trình đốt cần phải them nhiên liệu
bổ sung. Hơn nữa, thiêu đốt là quá trình cần phải có vốn cũng như chi phí
vận hành dễ vượt quá khả năng của hầu hết các thành phố ở các nước đang
phát triển.
- Thu gom những loại rác đặc biệt
1.Các tác nhân tham gia vào quá trình thu gom
1.1. Chính phủ là tác nhân chính trong việc thu gom rác.
Quản lý rác nói chung và thu gom rác nói riêng nằm trong số các dịch vụ
công cộng. Những dịch vụ nay. Do những đặc tính của chúng như tốn kém
vè chi phí đầu tư ban đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, tính tiết kiệm tho quy
mô, tính không bị loại trừ trong tiêu dung nên thường được khu vực nhà
nước cung cấp hơn là khu vực tư nhân. Trên thực tiễn, dịch vụ thu gom rác ở
nhiều nước hiện nay vẫn do nhà nước cung cấp dưới dạng đầu tư vào xây dựng hệ thống thu gom, phương tiện thu gom và trả lương cho đội ngũ công
nhân thu gom. Tuy nhiên, khi lượng rác thải tăng lên trong khi nguồn lực
nhà nước dành cho quản lý rác thải hạn chế thì việc mở rộng quyền thực
hiện dịch vụ thu gom cho những đối tượng khác là cần thiết.
1.2. Sự tham gia của khu vực tư nhân
Tư nhân hóa trong việc thu gom rác nhìn chung lien quan đến việc chính
phủ ký hợp đồng thực hiện dịch vụ thu gom rác với một hoặc nhiều doanh
nghiệp tư nhân và những doanh nghiệp này nhận được sự độc quyền thu
gom có quản lý từ phía chính phủ. Khi những thỏa thuận này được quản lý
tốt và không có tham nhũng, chúng có thể đem lại một dịch vụ thu gom tiết
kiệm chi phí hơn so với việc chính phủ tự thực hiện dịch vụ này. Ngược lại,
trong một số trường hợp những nỗ lực tư nhân hóa đã gây ra sự rút lui hoàn
toàn của chính quyền khỏi việc quản lý rác thải. Trong trường hợp này,
không có sự quản lý của chính phủ, các doanh nghiệp thu gom rác thải phải
làm việc trực tiếp với những người sản sinh ra rác và làm hợp đồng thu gom
với họ. Điều này có xu hướng tạo ra các hệ thống thu gom dư thừa, tức là
các xe rác cùng đến thu gom rác ở một số khu vực gần kề nhau. Phí thu gom
có xu hướng cao, một số doanh nghiệp nhỏ hơn có thể thất bại hoặc trở
thành mục tiêu để các doanh nghiệp khác mua lại. Điều nay có thể nhah
khoảng 3300 tấn/ ngày ( chiếm 53% tổng số rác). Các công ty tư nhân
(Singapore có hơn 300 công ty) chịu trách nhiệm thu gom 2100 tấn rác/ ngày
( chiếm 34% tổng lượng rác), chủ yếu là rác thải công nghiệp và thương mại.
Các công ty tư nhân này được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát
của Bộ Môi Trường theo các quy định về môi trường và sưc khỏe cộng đồng. Các cơ quan nhà nước, công trường, nhà máy tự thu gom 800 tấn rác/
ngày (chiếm 13% tổng lượng rác). Rác thải thu gom được vận chuyển đến
trạm trung chuyển, tại đây rác được máy ép vào các container và được các
xe tải 20 tấn chở đến nhà máy xử lý.
Như vậy, nhà nước và tư nhân là hai tác nhân lớn đóng góp vai trò quan
trọng trong hoạt động thu gom rác thải ở Singapore.
2.2. Kinh nghiệm của Ấn Độ
Điểm chính trong chính sách quản lý rác thải ở Ấn Độ là phân loại rác
thải ngay tại nguồn. Các chất thải có thể tái chế dạng “khô” được để riêng.
Các chất thải thực phẩm dạng “ướt” được đổ thẳng vào thùng x chở rác từ hệ
thống thùng chở rác 4-6 khoang để tránh phải tiếp xúc với rác hai lần. Chất
thải có thể phân hủy về mặt sinh học này sx được ủ làm phân compost và chỉ
chôn lấp loại chất thải không ủ làm phân được.
Phân loại rác tại nguồn rất quan trọng nhưng cũng rất khó. Toàn bộ lực
lượng công nhân vệ sinh được đào tạo và các xe rác đẩy tay có 4 thùng do
các công ty tư nhân tài trợ đã hoạt động bao trùm 50% diện tích thành phố
do chính công nhân vẹ sinh của thành phố tự phục vụ.
2.3. Mô hình ở Châu Mỹ La Tinh : phối kết hợp các doanh nghiệp thu
gom rác quy mô nhỏ với hệ thống thu gom rác chính thức.
Các doanh nghiệp thu gom được chính quyền thành phố hoặc tổ chức dân
cư trả tiền để làm dịch vụ thu gom sử dụng các loại xe kéo tay hoặc bán cơ
giói. Những doanh nghiệp này thu gom ở những khu vực cận biên hoặc
những khu vực hiện không được thu gom và khu vực xe tải thùng to không
Phương pháp này đánh giá dựa trên sự so sánh tương quan về các tiêu chí kỹ
thuật, môi trường, xã hội và kinh tế - tài chính của phương án hoạt động.
Qua đó ta có thể thấy được mức độ hiệu quả của phương pháp so với các mô
hình hoạt động khác như thế nào và đề xuất được những giải pháp hợp lý để
nâng cao hiệu quả của phương án.
2. Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA)
2.1 Giới thiệu về CBA.
Trong thực tế cuộc sống, là bản thân mỗi chúng ta không ít lần đứng
trước nhiều sự lựa chọn đó có thể là nên mua một chiếc xe máy hay nên mua
chiếc điện thoại.Với những nhà quản lý thì sự lựa chọn càng phức tạp và khó
khăn hơn rất nhiều như việc có nên đầu tư một bệnh viện hay không, xây
dựng một sân bay mới hay xây dựng thêm một đường băng vào sân bay
cũ.Những lựa chọn như vậy luôn đặt ra đối với mỗi chúng ta, đó là điều
không thể tránh khỏi vì xã hội không bao giờ có đủ nguồn lực để thực hiện
tất cả các phương án sẵn có.
Do đó để quyết định lựa chọn phương án này loại bỏ phương án kia thì
chúng ta cần xem xét phân tích xem giữa lợi ích mà chúng ta thu được với
chi phí mà chúng ta phải bỏ ra. Đó là nền tảng của việc phân tích chi phí -
lợi ích.Tuy nhiên CBA là một phương pháp đánh giá giá trị kinh tế và giúp
lựa chọn các phương án.Nó đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các
phương án cạnh tranh nhau, khi lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế
tạo ra cho toàn xã hội.Nó tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội
có được từ một phương án cụ thể với các tài nguyên thực mà xã hội phải từ
bỏ để đạt được lợi ích đó. CBA có mục đích hỗ trợ những quyết định mang tính chất xã hội, trên
cơ sở có sự phân bổ nguồn lực nhằm đảm bảo tính hiệu quả.Kinh nghiệm
ta phải đưa ra những nhận định về khả năng có thể xảy ra và cố gắng lượng
hoá các kết quả đó. Điều này có thể đạt được thông qua các phương pháp
trực tiếp, gián tiếp hay kinh nghiệm đã có từ các dự án tương tự.
Bước 5 : Lượng hoá bằng tiền tất cả các tác động.Người làm phân tích
cố gắng quy đổi các chỉ tiêu ra giá trị tiền tệ, sử dụng giá trị thị
trường.Trường hợp không có giá trị thị trường thì xây dựng “ giá trị tham
khảo “ trên sơ sở có tính khoa học và được thừa nhận bởi các nhà khoa học,
nhà hoạch định chính sách hay xã hội.Cũng có khi không thể lượng hoá
bằng tiền được thì dùng cách giải thích định tính để bổ sung cho kết quả đã
tính toán được.
Bước 6 : Quy đổi về giá trị hiện tại.Trong CBA chúng ta gặp phải trở
ngại về thời gian.Vì vậy, trong quá trình tiến hành CBA chúng ta cần quy
đổi giá trị tiền tệ về cùng thời điểm để tiến hành phân tích chính xác.Chúng
ta phải sử dụng tỷ lệ chiết khấu hợp lý, thông thường là tỷ lệ chiết khấu xã
hội.
Bước 7 : Tổng hợp các chi phí và lợi ích.Những giá trị chi phí cộng gộp
lại với nhau, những giá trị lợi ích cộng gộp lại với nhau. Để tránh nhầm lẫn
giữa lợi ích và chi phí thì người ta phải xác định tính sở hữu và quyền tài
sản.
Bước 8 : Phân tích độ nhạy ( thực chất là những phép thử để kiểm tra
kết quả).Trên thực tế ta thường gặp những yếu tố nhạy cảm, sự thay đổi hệ
số chiết khấu.Vì vậy, việc thực hiện phép thử giúp ta có cách nhìn toàn diện
hơn về kết quả phân tích, từ đó đam bảo độ chính xác cao.
+ PVC
1
+ PVC
2
+… + PVC
n
= C
0
+ C
Trong đó :
PVC : Tổng chi phí quy về thời điểm ban đầu.
C
0
: Chi chi phí đầu tư ban đầu.
C : Chi phí hoạt động qua các năm quy về thời điểm ban đầu.
2.4.1 Chi phí đầu tư ban đầu. C
0
bao gồm có : C
0
= FC
1
+ FC
2
+ FC
1
, M
2
….M
n
là khối lượng được thu gom và vận chuyển năm 1,2 …n
J : là tốc độ gia tăng chất thải hàng năm.
r : là tỷ lệ chiết khấu qua từng năm.
n. :là tuổi thọ của dự án.
Lượng chất thải là M
n
= M
n-1
( 1+ j ) = M
1
( 1 + j )
n – 1
tương đương
với chi phí
M
1
(1 + J )
n – 1
C
n
= C
1
2.4.3 Chi phí về mặt xã hội và môi trường EC = EC
1
+ EC
2
+ EC
3Trong đó :
- EC
1
:Chi phí khám chữa bệnh tăng lên. - EC
2
: Thiệt hại về thu nhập do ảnh hưởng đến sức khoẻ
- EC
3
:Thiệt hại về thu nhập do ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh
doanh.
- EC : Chi phí về mặt Xã hội – Môi trường.
2.5 Phân tích lợi ích
Gọi B
1
1 – ( 1 + j )
n
* ( 1 + j )
- n
PVB = B
1
*
r- j
- Với j = r thì :
PVB = B
1
* n * ( 1 + r )
– 1Trong đó :