Cơ quan xuất bản: TRAFFIC Đông Nam Á,
Chương trình Tiểu vùng Mê Kông mở rộng,
Hà Nội, Việt Nam.
Bản quyền: © 2007 TRAFFIC Đông Nam Á, Chương
trình Tiểu vùng Mê Kông mở rộng.
Nội dung của ấn phẩm này thuộc bản quyền của
TRAFFIC Đông Nam Á, Chương trình Tiểu vùng Mê
Kông mở rộng và có thể được sao chép, trích dẫn. Bất
kỳ sự sao chép, trích dẫn toàn bộ hay một phần của ấn
phẩm này phải ghi rõ nguồn tài liệu thuộc bản quyền
của TRAFFIC Đông Nam Á, Chương trình Tiểu vùng
Mê Kông mở rộng.
Những quan điểm của tác giả thể hiện trong ấn phẩm
này không nhất thiết phản ánh quan điểm của
TRAFFIC, WWF hoặc IUCN. Mọi thông tin về địa
danh dùng trong ấn phẩm này và cách trình bày tài
liệu tuyệt đối không bao hàm bất kỳ một hàm ý gì của
TRAFFIC hay các cơ quan tài trợ về địa vị pháp lý của
bất kỳ một quốc gia, vùng lãnh thổ, hay vùng, hoặc
chính quyền của các địa danh đó, hoặc sự phân định
ranh giới, biên giới của những địa danh này.
Quyền tác giả và quyền sở hữu Thương hiệu đã được
đăng ký đối với biểu tượng TRAFFIC thuộc về WWF.
TRAFFIC là chương trình chung của WWF và IUCN.
Trích dẫn: Bina Venkataraman (Biên soạn) (2007).
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động
vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam. TRAFFIC Đông
Nam Á, Chương trình Tiểu vùng Mê Kông mở rộng,
Hà Nội, Việt Nam.
Biên soạn: Bina Venkataraman.
Hồng - WWF, Chương trình Tiểu vùng Mê Kông mở rộng; ông Richat Rastall - Tổ chức FRR; ông Mark
Grindley và bà Rebecca Catarelli - chuyên gia tư vấn độc lập; ông Nanna Bloch Hartmann - Đại sứ quán
Đan Mạch; ông Thomas Osborn và bà Emily Hicks - TRAFFIC Đông Nam Á, Chương trình Tiểu vùng Mê
Kông mở rộng; và đặc biệt là ông James Compton - Giám đốc TRAFFIC Đông Nam Á và bà Teresa
Mulliken - TRAFFIC Quốc tế về những góp ý sâu sát cho Báo cáo này.
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới bà Julie Thomson - TRAFFIC Đông Nam Á, Chương trình
Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, người đã đưa ra ý tưởng và xây dựng ý tưởng thành dự án. Xin gửi lời cảm
ơn tới ông Sulma Warne - Điều phối viên của TRAFFIC Đông Nam Á, Chương trình Tiểu vùng Mê Kông
mở rộng, người đã theo dõi và giám sát chặt chẽ dự án này cho đến khi dự án kết thúc.
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................................................
3
CÁC THUẬT NGỮ .........................................................................................................................................
5
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ..................................................................................................................................
6
TÓM TẮT BÁO CÁO .....................................................................................................................................
Dùng hay không dùng ................................................................................................................................
16
Những loài đang gặp nguy hiểm ................................................................................................................
17
Tìm kiếm thông tin ....................................................................................................................................
18
Những sản phẩm ĐVHD được mua và dùng ở đâu? ..........................................................................
18
Người dân biết đến các sản phẩm ĐVHD bằng cách nào? .................................................................
19
Chi phí cho các sản phẩm từ ĐVHD ...........................................................................................................
20
Tìm hiểu về xu hướng ................................................................................................................................
22
Thông tin truyền thông ..............................................................................................................................
Nhà nước và doanh nghiệp ...............................................................................................................
30
Các bước tiếp theo ............................................................................................................................
31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................................................................
32
PHỤ LỤC ........................................................................................................................................................
34
Phụ lục I. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................................................
34
Phụ lục II. Việc bảo vệ các loài động vật được đề cập đến trong khảo sát .............................................
34
Phụ lục III. Số liệu về mẫu khảo sát ...........................................................................................................
37
Phụ lục IV. Phiếu phỏng vấn .....................................................................................................................
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
5
CITES
Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài Động vật và Thực vật Hoang dã Nguy cấp
DANIDA
Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch
ĐVHD
Động vật hoang dã
ENV
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam
USD
Đồng đô la Mỹ (1USD = 15 902VND, theo tỉ giá ngày 01/11/2005)
VND
Đồng Việt Nam
6
dụng rộng rãi.
WWF
WWF
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
C
C
Sao la
Sừng Sao la
7
C
C
Vu Ngoc Thanh
NDN Van/TRAFFIC Southeast Asia, GMP
Voọc chà vá chân nâu
Rượu khỉ
các sản phẩm từ ĐVHD ở Hà Nội và trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tổ chức TRAFFIC và tất cả những
người đã tham gia giúp đỡ thực hiện công trình nghiên cứu này kêu gọi sự hỗ trợ tích cực từ phía các nhà tài
trợ cho những hoạt động nghiên cứu tiếp theo để có thể đem lại cái nhìn đầy đủ hơn về xã hội con người
Việt Nam cũng như thái độ của xã hội đó đối với việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đa
dạng sinh học độc nhất vô nhị của đất nước này.
8
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Việt Nam, một đất nước với dân số hơn 80 triệu người, đồng thời cũng là ngôi nhà của rất nhiều loài động
thực vật quí hiếm đang cư ngụ trong những sinh cảnh và phong cảnh đa dạng. Là nước đứng thứ 16 trên thế
giới về sự đa dạng sinh học, Việt Nam hiện có ít nhất 78 loài thú, chim, bò sát và lưỡng cư đặc hữu xuất hiện
tự nhiên (theo GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh). Một số loài động vật nguy cấp ở châu Á cũng có thể tìm thấy
ở Việt Nam, trong số đó có tê giác Gia-va Rhinoceros sondaicus annammiticus, hổ Đông dương Panthera
tigris corbetti và voi châu Á Elephas maximus.
Tuy nhiên, sự phát triển gia tăng của hoạt động kinh doanh ĐVHD cùng với việc tàn phá môi trường sống
của loài đang đe dọa phá huỷ di sản sinh thái quý giá của Việt Nam, trong đó vốn có nhiều loài đã cận kề bên
bờ tuyệt chủng ở phạm vi quốc gia cũng như trên toàn cầu, như trường hợp loài Sao la Pseudoryx
nghetinhensis. Việt Nam không chỉ là nguồn cung các sản phẩm ĐVHD cho thị trường thế giới mà còn là
điểm trung chuyển cho việc tạm nhập tái xuất các sản phẩm đó có nguồn gốc từ các nước Châu Á. Đây
cũng là một nước tiêu dùng đáng kể các mặt hàng ĐVHD, góp phần thúc đẩy nhu cầu vốn đã ở mức cao về
việc săn bắn và buôn bán bất hợp pháp ĐVHD.
Việc mua bán và tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD là một tác nhân chính trong cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện
nay với tốc độ tuyệt chủng loài đang vượt qua mọi kỉ lục đã có trong lịch sử (Khuyết danh, 2004b). Về lâu
dài, sự mất đi của loài sẽ không chỉ loại trừ tiềm năng sử dụng và ứng dụng động vật trong sản xuất thực
phẩm, dược phẩm và công nghệ cho con người, mà còn làm đảo lộn sự cân bằng vốn đã mỏng manh giữa
các hệ sinh thái trên trái đất, nơi tất cả sự sống đang phải phụ thuộc vào đó.
Năm 1994, Việt Nam gia nhập CITES, một công ước quốc tế nhằm đấu tranh chống lại sự tuyệt chủng của
khảo sát để thu thập số liệu. Dựa trên số liệu thống kê dân số chính thức tại địa bàn, nhóm nghiên cứu đã
10
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
quyết định mẫu điều tra khảo sát 2000 người là thích hợp đủ để đảm bảo tính đại diện của thông tin. Tuy
nhiên, thực tế tổng số phiếu trả lời thu được là 2005 và việc phân tích báo cáo dựa trên con số này.
Cuộc khảo sát được thực hiện bởi một nhóm cán bộ gồm 20 người Việt bản ngữ làm việc theo nhóm hai
người trong thời gian 10 ngày. Trước khi tiến hành công việc khảo sát, toàn bộ số người tham gia thực hiện
khảo sát nghiên cứu đã được tập huấn một ngày về phương pháp điều tra khảo sát.
Tất cả những người được phỏng vấn đều được chọn ngẫu nhiên trong các quận/huyện đã chọn, mỗi hộ gia
đình chỉ có một người trả lời phiếu khảo sát. Các sinh viên được phỏng vấn tại nhà chứ không phải ở trường,
do đó những phần trả lời của họ không phản ánh ý kiến của một lớp hay một trường đại học đơn lẻ nào.
Thông qua cuộc khảo sát này, TRAFFIC mong muốn hiểu biết về những động cơ sử dụng các sản phẩm từ
ĐVHD như đồ ăn, vật dùng và sản phẩm tăng cường sức khỏe của người tiêu dùng thuộc các ngành nghề,
nhóm tuổi và mức thu nhập khác nhau. Ngoài ra, TRAFFIC cũng mong muốn đánh giá một cách hệ thống
nhận thức của người được hỏi về luật pháp có liên quan và những khái niệm của họ về môi trường.
Tiếp theo khảo sát điều tra, các cuộc thảo luận nhóm cũng được tổ chức để mở rộng và làm rõ thêm
những vấn đề cần thiết. Những người được mời tham gia thảo luận nhóm là những người trong quá trình
được phỏng vấn cam kết sẽ tham gia vào những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề tiêu dùng các sản phẩm
ĐVHD ở Hà Nội. Các nhóm thảo luận được chia thành nhóm những người đã sử dụng các sản phẩm
ĐVHD (trong đó được tách ra làm ba nhóm theo các độ tuổi khác nhau) và nhóm những người chưa từng
dùng các sản phẩm ĐVHD.
Đơn vị tiền tệ được sử dụng trong cuộc khảo sát này là đồng Việt Nam. Tỷ giá chuyển đổi từ đồng Việt
Nam sang đồng Đô la Mỹ sử dụng trong báo cáo này là 1 Đô la Mỹ bằng 15 902 đồng Việt Nam, tính theo tỷ
giá ngày 01 tháng 11 năm 2005.
Phần tiếp theo là báo cáo tóm tắt các kết quả quan trọng của nghiên cứu này. Nó thể hiện bước khởi
đầu của những nỗ lực dài hạn nhằm giải quyết vấn đề tiêu thụ không bền vững và bất hợp pháp các
sản phẩm ĐVHD ở Việt Nam. Chúng tôi hy vọng rằng những phát hiện trong Báo cáo này sẽ là
Lý do được đưa ra nhiều nhất cho việc chưa dùng các sản phẩm từ ĐVHD là vì các
sản phẩm này quá đắt đỏ.
Người dân sống ở Hà Nội cho rằng việc sử dụng các sản phẩm ĐVHD là phổ
biến, đương mốt, ngày càng có thể chi trả được, và đang có chiều hướng gia
tăng tại thành phố này.
Phần lớn người dân sống ở Hà Nội không hiểu biết về các văn bản pháp luật
quan trọng liên quan đến vấn đề bảo vệ các loài động vật nguy cấp và môi
trường sống của chúng.
Hầu hết những người được hỏi không hiểu gì về những ảnh hưởng đối với môi
trường từ việc tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD của chính họ.
Người dân sống ở Hà Nội thu nhận thông tin khoa học về ĐVHD chủ yếu qua
truyền hình , trong đó những chương tr ình về đặc điểm sinh học của các loài
ĐVHD được ưa chuộng nhất .
Internet có nhiều tiềm năng để trở thành một công cụ truyền đạt những thông
điệp tích cực về bảo tồn các loài hoang dã cho thế hệ trẻ.
12
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
Tìm hiểu đối tượng tiêu dùng ĐVHD?
Hơn 47% người Hà Nội được hỏi cho biết họ đã từng sử dụng các sản phẩm từ ĐVHD, trong đó có một
hoặc cả ba loại sau: đồ ăn, đồ trang trí và đồ tăng cường sức khỏe.
TRAFFIC Southeast Asia, GMP
Theo những người được phỏng vấn thì những loại
rượu ngâm ĐVHD (các bộ phận của động vật ngâm
trong rượu gạo) thường hay được sử dụng cùng với
những món ăn đặc sản thịt thú rừng. Mặc dù không
Doanh nhân là nhóm người thường hay sử dụng các sản
phẩm ĐVHD nhiều nhất (43%), tiếp theo là cán bộ, công
chức nhà nước (34%). Chỉ có 13% trong tổng số những
người đã từng sử dụng các sản phẩm ĐVHD là những
người tự doanh. Nông dân và sinh viên là những người ít
dùng các sản phẩm từ ĐVHD nhất. Tương tự, những
người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý sử dụng sản phẩm từ
ĐVHD nhiều hơn những cán bộ hay nhân viên thừa hành.
Kết quả thảo luận với người dân Hà Nội cũng cho thấy
những người lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp và
cơ quan nhà nước thường hay phải chiêu đãi đồng nghiệp
hoặc khách hàng bằng các món đặc sản thịt thú rừng.
Nhìn chung, khảo sát không cho thấy có sự liên hệ rõ ràng
nào giữa độ tuổi và mức độ tiêu thụ. Tuy nhiên, đối với
những sản phẩm tăng cường sức khoẻ có nguồn gốc từ
ĐVHD thì tỷ lệ giữa người đã dùng và chưa dùng thuộc
nhóm tuổi từ 46-55 là cao nhất.
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
13
Kết quả trên nói lên điều gì?
Việc tiêu thụ ĐVHD, đặc biệt thị hiếu dùng thịt thú rừng làm món ăn đặc sản là phổ biến
ở Hà Nội. Các yếu tố như địa vị, mức thu nhập, trình độ học vấn và giới tính đều liên
quan tới cơ cấu tiêu dùng. Đặc biệt, khảo sát cho thấy sự giàu có và địa vị xã hội có mối
tương quan tỷ lệ thuận với việc sử dụng các sản phẩm ĐVHD. Điều này cho thấy, khi
kinh tế tiếp tục phát triển và mức thu nhập càng tăng thì việc sử dụng các sản phẩm
ĐVHD càng có tiềm năng trở nên phổ biến hơn, tạo nên mối đe dọa càng lớn hơn cho các
đi ăn thịt thú rừng khá phổ biến.
C
Trong số những người được hỏi, 62% nói
rằng họ dùng các sản phẩm tăng cường sức
khỏe làm từ ĐVHD theo lời khuyên của gia
đình và bạn bè; 22% dùng theo thông tin
trong các tạp chí y tế và 11% dùng theo lời
khuyên của thầy thuốc. Gia đình và bạn bè
là nguồn thông tin chính để các cán bộ trong
cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tư nhân,
ở cả cấp lãnh đạo quản lý và cấp nhân viên
thừa hành, và những người tự doanh tiêu
dùng các sản phẩm tăng cường sức khỏe
làm từ ĐVHD.
Gấu bị nuôi nhốt lấy mật
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
Hình 1.
Những dịp chính để đi ăn đặc sản thú rừng
% số người sử dụng
100
80
Các bữa đặc sản thịt thú rừng phần lớn do một người đứng ra mời rồi trả tiền thay vì mọi người cùng ăn rồi
chia tiền với nhau.
Các đồ trang trí và sản phẩm tăng cường sức khoẻ làm từ ĐVHD phổ biến do chính người sử dụng mua,
nhưng thường do người khác biếu tặng nhiều hơn. Phụ nữ có nhiều cơ hội nhận quà tặng là đồ thời trang
làm từ ĐVHD hơn nam giới.
Kết quả trên nói lên điều gì?
Tiêu thụ đặc sản ĐVHD có liên quan đến những thói quen (đã ăn sâu bám rễ và đang
hình thành) và thị hiếu, cũng như những sức ép xã hội và sự tò mò. Những người được
hỏi nói rằng vì họ được mời nên ăn thử cho biết. Kết quả đó cũng chỉ ra rằng đối với
doanh nhân và công chức nhà nước - nhóm ngành nghề mà theo kết quả khảo sát có tỉ lệ
sử dụng sản phẩm ĐVHD cao nhất - việc ăn thịt thú rừng gắn liền với sức ép mang tính
công việc và xã hội của đồng nghiệp, bạn bè. Các bữa ăn đặc sản thịt thú rừng thường
diễn ra trong những dịp một người nào đó đứng ra chiêu đãi và thường muốn gây ấn
tượng với những vị khách mời. Điều đó khẳng định tầm quan trọng của địa vị và sức
ép xã hội, những yếu tố gắn kết chặt chẽ với việc tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD của
người dân Hà Nội.
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
15
Dùng hay không dùng
Nghiên cứu khảo sát cũng đã cố gắng tìm ra lý do tại sao một số người được hỏi hiện không dùng các
sản phẩm ĐVHD:
TRAFFIC Southeast Asia, GMP
Trong số những người chưa sử dụng các sản phẩm ĐVHD,
19% cho rằng họ sẽ dùng các sản phẩm này trong tương lai,
truyền có nguồn gốc từ động vật.
Tuổi tác và nghề nghiệp dường như cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng sản phẩm nào.
Một trăm phần trăm số sinh viên được hỏi sẵn sàng sử dụng các sản phẩm tăng cường sức khỏe được khai
thác một cách bền vững hoặc có nguồn gốc nhân tạo. Mặt khác, trong các nhóm nghề nghiệp, nhóm kinh tế
hộ gia đình tỏ ra ít sẵn sàng dùng các sản phẩm thay thế nhất.
Về vấn đề thông tin cần thiết để thuyết phục người sử dụng dùng các sản phẩm thay thế cho những sản
phẩm tăng cường sức khoẻ từ ĐVHD có nguồn gốc bất hợp pháp hoặc đáng ngờ, kết quả khảo sát cho thấy
mọi người chủ yếu bị ảnh hưởng bởi những người đã sử dụng sản phẩm thay thế thấy có tác dụng và các
chứng minh khoa học về công dụng của sản phẩm. Phụ nữ thì nhấn mạnh tới bằng chứng là những người
cụ thể đã dùng sản phẩm thay thế, trong khi các nam giới nói rằng bằng chứng khoa học là yếu tố quan
trọng hơn để họ quyết định. Quan điểm của người thân trong gia đình và bạn bè cũng giữ một vai trò quan
trọng trong quyết định của cả hai phái nam và nữ.
Mặc dù không được nêu ra cụ thể trong quá trình khảo sát nhưng vấn đề nuôi sinh sản và nuôi nhốt ĐVHD
cũng cần được đề cập đến ở đây, vì đó có thể cung cấp cho công chúng nguồn thịt thú rừng và những sản
phẩm khác một cách hợp pháp và bền vững. Trong khi việc nuôi sinh sản ĐVHD được Thủ tướng Chính
phủ khuyến khích theo Chỉ thị số 359-TTg, các cuộc thảo luận nhóm lại cho thấy rằng người tiêu dùng
không thích dùng các sản phẩm từ ĐVHD được nuôi. Một người tham gia thảo luận nhóm đã mô tả những
động vật nuôi sinh sản là “bình thường” và “không ngon”. Cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để làm rõ
hơn về giá trị thực tiễn của chủ trương này.
16
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
Kết quả trên nói lên điều gì?
Kết quả khảo sát cho thấy rằng nhiều người dân Hà Nội hiện chưa sử dụng các sản phẩm
ĐVHD sẽ là khách hàng tiềm năng nếu mức sống và thu nhập của họ tăng lên. Chỉ có
một tỷ lệ nhỏ những người dân được hỏi hiểu và quan tâm tới những hậu quả, cả về mặt
pháp lý và môi trường, của việc tiêu thụ các sản phẩm ĐVHD. Kết quả khảo sát cũng
nêu ra những quan ngại rằng xu hướng tiêu thụ sản phẩm ĐVHD sẽ tiếp tục tăng vì phần
i
Dú
Cô
nư
Rù
a
Tr
ăn
Kỳ
Hư ng
đ
ơu /Y à
/n ến
ai/ /T
lợ rĩ
n
rừ
n
Hổ g
/B
áo
Kh
ỉ
Nh
í
0
Loài
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
17
Nhiều trong số các loài nói trên được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Những trường hợp ngoại lệ
bao gồm một số loài rùa nước ngọt, một số loài hươu nai, lợn rừng, nhím và dúi. Ngoài ra, chỉ một số loài
rắn và cầy hương được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Phụ lục II của Báo cáo này liệt kê một
danh mục các loài chi tiết hơn.
Theo Nghị định 139/2004/NĐ-CP, các hành vi săn bắn, vận chuyển hoặc buôn bán những loài nằm trong
danh mục được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP nếu bị bắt sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng
(314 - 314USD), hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến bảy năm tuỳ theo mức độ quý hiếm của loài và mức độ vi
phạm. Ngoài ra, Nghị định còn quy định cơ quan quản lý nhà nước sẽ thu hồi giấy phép kinh doanh và
đóng cửa bất kỳ nhà hàng nào có bán các sản phẩm ĐVHD. Tuy nhiên, những điều luật này thường không
được thực thi, nên mọi người ít biết đến luật và không mấy quan tâm đến các hình phạt liên quan - do đó
tính răn đe của luật là rất yếu.
Kết quả trên nói lên điều gì?
Rất nhiều loài ĐVHD được tiêu thụ tại Hà Nội hiện đang được luật pháp quốc gia bảo
vệ. Điều đó thể hiện có sự lo ngại về tình trạng bảo tồn của các loài này, và việc tiêu
dùng của con người đang ảnh hưởng đến tình trạng của các loài trong tự nhiên. Kết quả
khảo sát cũng cho thấy, người dân sống ở Hà Nội thiếu quan tâm tới việc bảo vệ ĐVHD
và việc tiêu dùng các sản phẩm ĐVHD đang rất hấp dẫn đối với họ, cho dù, hoặc có thể
chính vì, việc đó là bất hợp pháp.
Tìm kiếm thông tin
chuyên nghiệp (58% người được hỏi). Những nhà hàng đặc sản ĐVHD, chợ thuốc Lãn Ông và những cửa
hàng tại các tỉnh miền núi Việt Nam, như Vĩnh Phúc (vườn quốc gia Tam Đảo) và Yên Bái, cũng là những
nguồn cung cấp nhưng không đáng kể. Hầu như không có ai trực tiếp mua các sản phẩm này từ nước ngoài.
Bạn bè là nguồn cung cấp những sản phẩm tăng cường sức khỏe quan trọng hơn đối với nữ giới so với
nam giới. Phần lớn nam giới thường tìm đến những người chuyên kinh doanh những sản phẩm tăng
cường sức khỏe làm từ ĐVHD và họ cũng có xu hướng mua từ những người kinh doanh chuyên nghiệp
này hơn so với nữ giới.
Công chức nhà nước thường mua những sản phẩm tăng cường sức khỏe qua bạn bè, trong khi những
người ở nhóm nghề nghiệp khác thường đặt mua những sản phẩm này từ những người kinh doanh
chuyên nghiệp. Tuy nhiên, tất cả những người buôn bán nhỏ đều nói rằng họ mua những sản phẩm này từ
những người bán rong.
Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng 46% những người ăn thịt thú rừng vừa mới ăn trong vòng ba tháng trở lại
đây. Điều này cho thấy sự thịnh hành của việc tiêu thụ những sản phẩm từ ĐVHD. Trong số những sinh
viên đại học đã từng ăn thịt thú rừng, 60% đã ăn vào tháng trước khi thực hiện khảo sát. Chỉ có 11% số
người tiêu thụ đã ăn trước đó hơn một năm.
Người dân biết đến các sản phẩm ĐVHD bằng cách nào?
Bạn bè là nguồn thông tin chủ yếu cho người tiêu dùng về đặc sản thịt thú rừng, các đồ dùng cũng như các
sản phẩm tăng cường sức khoẻ. Trong số những người được hỏi thì 74% số người đã từng ăn thịt thú rừng,
77% đã từng sử dụng những đồ dùng trang trí và 78% đã từng dùng các sản phẩm tăng cường sức khỏe biết
về những sản phẩm đó thông qua bạn bè.
Họ hàng cũng là nguồn thông tin quan trọng thứ hai đối với người tiêu dùng. Theo kết quả khảo sát thì 44%
người ăn thịt rừng, 18% người mua đồ dùng thời trang và 34% người dùng sản phẩm tăng cường sức khỏe
biết về những sản phẩm này thông qua người thân trong gia đình. Một số người cũng tự phát hiện ra những
nơi bán đặc sản thịt thú rừng thông qua những kì nghỉ, tham quan du lịch (16% người được hỏi) hoặc các
chuyến công tác (16% người được hỏi). Thầy thuốc trong lĩnh vực y học cổ truyền cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp thông tin về các sản phẩm tăng cường sức khỏe cho những người tiêu dùng.
Ngược lại, phần đông những sinh viên được khảo sát cho biết họ có được thông tin về những món đặc sản
thịt rừng từ gia đình nhiều hơn là từ bạn bè.
Theo kết quả khảo sát, phương tiện thông tin đại chúng, qua các chương trình quảng cáo hoặc các chương
trình chuyên đề, đóng vai trò nhất định (tuy ít hơn so với vai trò của gia đình và bạn bè) trong việc quảng bá
năng có thể định hình được hành vi tiêu dùng. Chính vì vậy, kênh thông tin này phải
được xem xét rất kỹ trong bất kì kế hoạch can thiệp nào.
Môi trường công việc có thể thúc đẩy việc chia sẻ thông tin giữa bạn bè hoặc đồng
nghiệp tốt hơn so với môi trường học tập về sử dụng món ăn đặc sản ĐVHD. Tuổi tác
cũng có thể là một yếu tố trong áp lực xã hội đối với việc ăn thịt ĐVHD. Sinh viên,
những người nhìn chung là trẻ hơn, có vẻ biết các thông tin về thịt thú rừng thông qua gia
đình nhiều hơn là qua những ảnh hưởng ngoài xã hội. Mặc dù, Internet nhìn chung
không phải là một nguồn thông tin quan trọng trong thời điểm hiện nay, nhưng nó lại giữ
một vai trò đáng kể đối với những nhóm chủ đạo, vì thế nó cũng cần được tận dụng trong
các chiến dịch nâng cao nhận thức.
Chi phí cho các sản phẩm từ ĐVHD
Trong cuộc khảo sát, những người dân ở Hà Nội cũng được hỏi về việc chi tiêu cho những bữa ăn thịt thú
rừng gần đây nhất. Theo những người đã dùng sản phẩm ĐVHD, mức chi phí cho mỗi bữa ăn đặc sản thịt
thú rừng gần nhất nằm trong khoảng từ 200 nghìn đến 600 nghìn đồng (13 - 38USD) được lựa chọn nhiều
nhất, tiếp đó là mức từ 600 nghìn đến 1 triệu đồng (38 - 63USD). Chỉ có dưới 10% cho biết các bữa ăn gần
đây có mức chi dưới 200 nghìn đồng/bữa (13USD). Hình 3 dưới đây minh họa các mức chi tiêu:
Hình 3.
Chi phí cho một bữa ăn đặc sản thịt thú rừng
Dưới 200 000 đồng (10%)
Từ 200 000 - dưới 600 000 đồng (32%)
Từ 600 000 - dưới 1 000 000 đồng (23%)
Từ 1 triệu - dưới 2 triệu đồng (15%)
Từ 2 triệu - dưới 5 triệu đồng (4%)
Không nhớ (12%)
Không trả lời (4%)
20
nghìn đến 500 nghìn đồng (6 - 31USD). Trong số những người mua đồ dùng trang trí từ ĐVHD, có 17%
chi trả ở mức từ 500 nghìn đến một triệu đồng (31 - 63 USD), trong khi đó chỉ có ít người chi ở mức hơn 1
triệu đồng (63USD) hoặc dưới 100 nghìn đồng (6USD).
Phụ nữ có tỷ lệ chi tiêu cho các sản phẩm thời trang từ ĐVHD trong những lần mua sắm gần đây ở mức
hơn một triệu đồng (6 3USD) nhiều hơn nam giới. Ví dụ: gần chín phần tr ăm phụ nữ đã chi h ơn 10
triệu đồng (629 USD) để mua các sản phẩm gần đây nhất, trong khi đó chỉ có hai phần tr ăm nam giới đã
chi ở mức nh ư vậy.
Mức chi phí trung bình gần đây nhất đối với những sản phẩm tăng cường sức khoẻ vào khoảng từ 100
nghìn đến 500 nghìn đồng (6 - 31USD). Chỉ có khoảng gần bảy phần trăm người tiêu dùng đã chi ở mức 1 5 triệu đồng (63 - 314USD) cho những sản phẩm tăng cường sức khoẻ, trong khi đó 10% chi ở mức dưới
100 nghìn đồng (6USD). Có rất ít người đã chi ở mức trên 10 triệu đồng (629USD).
Kết quả trên nói lên điều gì?
Những người có mức thu nhập và địa vị (về mặt tuổi tác, chức vụ, và chuyên môn) cao
hơn có mức chi cho các sản phẩm từ ĐVHD nhiều hơn so với những người có thu nhập
và địa vị thấp hơn. Vì vậy, nghiên cứu này cho thấy khi mức thu nhập ở Việt Nam tăng
lên thì nhu cầu đối với những sản phẩm từ ĐVHD đắt tiền hơn cũng tăng lên. Trong
một nền kinh tế thị trường, hàng hoá càng khan hiếm thì thường có giá càng cao - một
thực tế chỉ ra rằng những loài nguy cấp nhất lại càng có nguy cơ bị tiêu thụ khi thu nhập
của người tiêu dùng tăng lên.
Các kết quả khảo sát cũng cho thấy, phụ nữ thường sẵn sàng chi trả cao hơn cho những
sản phẩm thời trang làm từ ĐVHD; một xu hướng cần được nghiên cứu thêm nhằm giúp
định hướng các hoạt động truyền thông và can thiệp trong tương lai.
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam
21
Gần 99% những người được hỏi đồng ý rằng con người cần bảo vệ các loài ĐVHD. Những lý do đưa ra
bao gồm: ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ cân bằng sinh thái, giữ gìn cho những thế hệ sau và dùng để
100
Có
% số người trả lời
80
Không
60
40
20
0
ệ
Bảo v
Luật trường
môi
và
ạm
định
TES
vi ph ực
ảo vệ2004)
b
t
ạ
ề
h
Nguồn thông tin phổ biến nhất về ĐVHD là truyền hình (94% người được hỏi sử dụng nguồn thông tin
này). Báo viết (53%) và sách/tạp chí (19%) cũng là những nguồn thông tin về ĐVHD. Nhìn chung,
các cuộc họp, hội thảo và Internet vẫn giữ một vai trò tương đối khiêm tốn trong việc cung cấp thông tin
về các loài ĐVHD.
Đối với công chức nhà nước thì báo viết là nguồn thông tin quan trọng nhiều hơn so với những người làm
nghề khác. Trong số công chức được khảo sát thì 67% nói rằng họ biết được thông tin về ĐVHD qua báo viết,
trong khi đó con số này là 45% đối với những người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.
Trong số những người được khảo sát, 54% cho biết họ chỉ thỉnh thoảng xem các chương trình truyền hình
về ĐVHD, 20% xem thường xuyên. Tuy nhiên, chỉ có 22% số người được hỏi nói rằng họ chưa bao giờ
hoặc rất ít khi xem những chương trình đó trên truyền hình. Giữa nam và nữ cũng có sự khác nhau lớn: kết
quả khảo sát cho thấy phụ nữ thích xem và thường xuyên xem các chương trình về ĐVHD trên truyền hình
hơn là nam giới.
Chương trình Thế giới động vật trên kênh VTV2 và những chương trình phát trên kênh Discovery là những
chương trình về ĐVHD được ưu chuộng nhất hiện nay. Những người được hỏi nói rằng họ thích xem
chương trình về động vật trên VTV2 hơn, còn kết quả thảo luận nhóm cho thấy, các chương trình trên kênh
Discovery, được phát bằng tiếng Anh, khó tiếp cận về mặt văn hóa vì các chương trình đó giới thiệu về
những địa danh và động vật ở nước ngoài nhiều hơn là nói về ĐVHD trong nước.
Trong các chương trình truyền hình về ĐVHD, đặc điểm sinh học của các loài là chủ đề được người xem
quan tâm hơn cả (48% số người trả lời). Chỉ có 11% cho biết chủ đề họ ưa thích là về những ảnh hưởng của
con người gây ra đối với ĐVHD.
Các kênh truyền thông
Phương tiện cung cấp các thông tin trong cuộc sống hàng ngày phổ biến nhất là truyền hình (gần 99% số
người được hỏi). Báo viết cũng là một nguồn thông tin phổ biến, được 74% số người được hỏi sử dụng.
Hình 5 thể hiện vai trò của các kênh truyền thông chủ yếu:
Hình 5.
Các nguồn cung cấp thông tin trong cuộc sống hằng ngày
100
90
Hộ
ội
th
i
ảo
tại /họp
đị đo
ap à
hư n th
ơn ể
g
o
Di
Từ
ng
ườ
ản
g
cá
nh
qu
hì
n
yề
Tr
u
Đà
ip
há
tt
ha
nh
0
Phương tiện truyền thông
Vấn đề là thái độ trong tiêu dùng các sản phẩm động vật hoang dã ở Hà Nội, Việt Nam