Quan điểm chuyên chính vô sản của chủ nhĩa mác lênin và việc vận dụng vào thực tiễn việt nam hiện nay tiểu luận cao học - Pdf 37

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như ta đã biết V.I.Lênin là người đã kế thừa và phát huy sáng tạo học
thuyết của C.Mác để làm nên hệ thống lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, là
người đã cống hiến toàn bộ sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp đấu tranh để
giành, giữ chính quyền Xô - Viết và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước Nga.
Trước những biến động chính trị - xã hội dữ dội làm sụp đổ chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm cuối thế kỷ XX, đã
xuất hiện những quan điểm cho rằng cần có quan niệm mới về thời đại ngày
nay thay thế quan niệm cũ đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua. Họ khăng định
thời đại ngày nay là thời đại hậu công nghiệp, thời đại văn minh tin học, văn
minh trí tuệ…Thực chất là họ quá đề cao kỹ thuật mà không gắn với tính chất
các chế độ xã hội khi xem xét về thời đại. Chính cách tiếp cận đó nên khó đi
sâu vào bản chất, nguồn gốc các động lực thực sự của sự chuyển biến hợp quy
luật từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác. Đối lập với các quan điểm
trên. Đảng ta vẫn khẳng định: “Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản bắt đầu từ cách
mạng Tháng Mười Nga vĩ đại”.
Quan điểm chuyên chính vô sản do Mác-Lênin xây dựng là một bài học
vô cùng quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam khi xác định, tính chất nội
dung, và các lực lượng chủ yếu của thời đại là phải xem xét toàn diện về chủ
nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa tư bản hiện đại, phong trào cộng sản và
công nhân Quốc tế, phong trào hòa bình độc lập dân tộc và dân chủ. Mặt khác
chuyên chính vô sản còn là căn cứ khoa học vững chắc của toàn bộ quá trình
lịch sử chủ yếu diễn ra trong thế kỷ XX: Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư
bản, các cuộc chiến tranh thế giới do chủ nghĩa tư bản gây ra, những sai lầm
của một số Đảng Cộng sản cầm quyền dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội
ở một loạt các nước, những thành tựu của xã hội chủ nghĩa hiện thực…

1


2


4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu lớn nhất mà tiểu luận muốn hướng tới
đó là góp phần giúp các Đảng Mácxít trên thế giới nói chung và Đảng Cộng
sản Việt Nam nói riêng nhận thức đầy đủ hơn con đường cách mạng vô sản,
và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục tiêu trên tiểu luận có một
số nhiệm vụ sau:
Nêu lên chuyên chính vô sản và tính tất yếu của chuyên chính vô sản
Làm rõ quan điểm của Mác-Lênin về chuyên chính vô sản
Nêu lên ý nghĩa và vận dung nền chuyên chính vô sản ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận: tiểu luận sử dụng cơ sở lý luận là Chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng ta về chuyên chính vô
sản. Trên cơ sở là Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng một số phương pháp sau:
phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp logic-lịch sử, phương pháp
diễn dịch, phương pháp so sánh, quy nạp, thống kê…

3


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN
CỦA C. MÁC - LÊNIN
Từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, chúng ta đã chứng kiến
những biến đổi sâu sắc trên thế giới về các mặt kinh tế, chính trị, quân sự,

hình thức quá độ đặc biệt từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. hình thức
quá độ này cũng là một nhà nước, đó là chuyên chính vô sản.
Cho nên chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt của liên minh
giai cấp giữa giai cấp công nhân thành thị và và lao động công nghiệp nói
chung, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản,
tiểu chủ, nông dân, trí thức…). Thực chất của chuyên chính vô sản không
phải chỉ dùng bạo lực, cũng không phải chủ yếu là bạo lực, mà là ở tính tổ
chức và tính kỷ luật của đội ngũ tiên tiến của những người lao động, của đội
tiên phong của họ. Mục đích của chuyên chính vô sản là thiết lập chủ nghĩa xã
hội, xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất cả những thành viên
trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở tình trạng người bóc lột
người. Mục đích dó không thể đạt ngay tức khắc được, muốn thế phải có thời
kỳ quá độ lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Tính tất yếu phải chuyên chính vô sản
Chuyên chính vô sản là một quy luật của quá trình chuyển biến cách

mạng từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa cộng sản. Sự ra đời của chuyên chính vô
sản là một tất yếu lịch sử. Vấn đề chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của
mọi cuộc cách mạng xã hội, mục tiêu cơ bản trước mắt của cách mạng vô sản
là giành lấy chính quyền.
Trong thời đại ngày nay, ở những nước chậm phát triển, giai cấp công
nhân tuy còn nhỏ bé, nhưng nếu nhân dân lao động, chủ yếu là công nông,
kiên quyết làm cách mạng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của một đảng Mác-xít Lê-nin-nít, lại được sự giúp đỡ của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, “ thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là sự bắt
đầu của thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, sự bắt đầu của thời kě thực
hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyęn chính vô sản”.
6


Sự ra đời và tồn tại của chuyên chính vô sản trong suốt thời kì quá độ

giai cấp cách mạng. Ở Anh, Pháp giai cấp tư sản tuy nắm quyền thống trị, lại
hoảng sợ trước cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nên không còn là vị trí tiên
phong trong quá trình cải tạo dân chủ như trước. Còn giai cấp tư sản Đức
đang lớn lên trong lòng xã hội phong kiến, vốn đã khiếp sợ bạo lực cách
mạng khi nhìn vào tấm gương Cách mạng tư sản Pháp 1789, nay lại thêm sợ
hãi trước sự phát triển của phong trào công nhân Đức. Vì vậy, giai cấp vô sản
xuất hiện trên vũ đài lịch sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư bản và trở thành lực
lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tuy nhiên, làm thế nào để giai cấp vô sản giữ chính quyền nắm quyền
thống trị trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản? Muốn làm được
điều đó thì gia cấp vô sản phai lật đổ hẳn giai cấp tư sản, thống trị về kinh tế,
về chính trị để thiết lập nền chuyên chính vô sản.
Lênin là người tổng kết kinh nghiệm của Mác và Ănggen, đồng thời
ông rút kinh nghiệm từ cuộc cách mạng của giai cấp vô sản của các nước trên
thế giới. Người đã xây dựng thành công nền chuyên chính vô sản cho giai cấp
vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và dành quyền thống trị
của mình

8


CHƯƠNG 2
QUAN ĐIỂM CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN CỦA MÁC - LÊNIN
2.1. Lý luận về chuyên chính vô sản của C.Mác – Ph. Ăngghen
Lần đầu tiên C.Mác dùng từ "chuyên chính vô sản" là năm 1848. Thật
ra thì "chuyên chính vô sản” xuất hiện vào quãng năm 1837, là cụm từ
của Ba Blanqui, một nhà cách mạng nổi tiếng của Pháp. Chuyên chính vô sản
với C.Mác là một chiến lược cách mạng. cụm từ này được nhắc lại nhiều lần
hơn cả trong "Đấu tranh giai cấp ớ Pháp", xuất bán năm 1950. Bối cảnh ra
đời của khái niệm này là giữa cuộc cách mạng Tháng 2/1848 đến tháng

chính quyền của giai cấp vô sản
Mác cũng đã chỉ ra những điều kiện để giai cấp vô sản có thể hoàn
thành đước sứ mệnh lịch sử của mình. Những điều kiện đó bắt nguồn từ sinh
hoạt vật chất của xã hội. Chúng ta biết rằng, Mác phát hiện ra vai trò lịch sử
của giai cấp vô sản không chỉ thuần túy bằng phương pháp tư duy lôgích.
Chúng là trên cơ sở hoạt động thực tiễn của xã hội tư sản mà Mác đạt được
điều đó.
Tuy nhiên, trong lời nói đầu của tác phẩm góp phần phê phán triết học
pháp quyền của Hêghen tư tưởng về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản mới
được nêu lên một cách triều tượng. Đến các tác phẩm sau như: Gia đình thần
thánh, tư tưởng đó đã dần dần chúa đựng một nội dung cụ thể. Trong tác
phẩm này Mác và Ăngghen đã luận chứng về mặt lý luận vai trò lịch sử của
giai cấp vô sản, đã chỉ ra nhũng cơ sở kinh tế, xã hội, vai trò lịch sử đó một
cách hết sức sâu sắc, mặc dù vẫn còn dưới hình thức triều tượng: “vì trong
giai cấp vô sản đã hình thành thì việc gạt bỏ cái hợp tính người, ngay cả gạt
bỏ cái bề ngoài hợp tính người đã được thực hiện trên thực tế; vì trong điề
kiện sinh hạt của giai cấp vô sản thì mọi điều kiện sinh hoạt củ xã hội hiện
đại đã đạt tới điểm cao nhất của tình trạng phi nhân tính; vì trong gia cấp vô
sản thì con người mất đi chính bản thân mình đồng thời con người không có
những ý thức, trên mặt lý luận, về sự mất mát đó mà còn do sự bức bách của
sự bần cùng không tránh khỏi, không che dấu nổi và tuyệt đối không gì
chống lại được – của biểu hiện thực tế đó – của tính tất yếu – mà trực tiếp
buộc phải căm phẫn đối với tình trạng phi nhân tính ấy; vì tất cả những cái
11


đó nên giai cấp vô sản có thể và phải tự mình giải phóng mình. Song nếu
không têu diệt những diều kiện sinh hoạt của bản thân thì giai cấp vô sản
không thể tự giải phóng được. Nếu không tiêu diệt mọi điều kiện sinh hoạt phi
nhân tính của xã hội hiện đại biểu hiện tập trung ở tình cảm của chính nó thì

V.I.Lê-nin sinh ngày 22 tháng Tư năm 1870 ở Simbirsk (nay là
Ulianovsk), mất ngày 21 tháng Giêng năm 1924 ở làng Gorki gần Moskva.
V.I.Lê-nin tên thật là Vladimir Itits Ulianov( Lê-nin), các bí danh mà
người đã dùng là V.Ilin, K.Tuli, Karpov và những bí danh khác- vị lãnh tụ vĩ
đại của giai cấp vô sản, người đã đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ tính
đúng đắn của chủ nghĩa Mác. Bằng những nghiên cứu và kết luận khoa học
của mình, V. I. Lênin đã làm phong phú chủ nghĩa Mác, đưa chủ nghĩa Mác
sang một giai đoạn mới cao hơn, giải đáp những vấn đề cơ bản mà thời đại đặt
ra cho giai cấp vô sản quốc tế. Nhìn nhận những đóng góp to lớn của V. I.
Lênin đối với lý luận của chủ nghĩa Mác, chúng ta không thể không nhắc tới
công lao của Người trong việc bảo vệ và phát triển quan niệm chuyên chính
vô sản, một trong những điểm đặc sắc và trọng yếu nhất của chủ nghĩa Mác.
Sau C. Mác, Ăngghen đã cụ thể hóa luận điểm này và nhấn mạnh: về
nguyên tắc, giai cấp công nhân không còn con đường nào khác là phải giành
lấy chính quyền và thiết lập nền chuyên chính của mình thông qua con đường
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, theo chủ nghĩa Mác, chuyên chính vô
sản thực chất là sự thống trị của giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ
nghĩa sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Đến giai đoạn Lênin, yêu cầu tổng kết, khái quát, bảo vệ và vận dụng
quan niệm của chủ nghĩa Mác về chuyên chính vô sản được đặt ra hết sức cấp
bách. Lênin đã chỉ ra một định nghĩa tuyệt hay về nhà nước của chủ nghĩa
Mác: “nhà nước tức là giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp thống
trị” (V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t. 33, tr. 30); nói rõ
đỉnh cao của vai trò cach mạng của giai cấp vô sản trong lịch sử “là chuyên
chính vô sản, là sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản” (V. I. Lênin:
13


Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t. 33, tr. 33). Theo Mác thì Mác
không có công phát hiện ra giai cấp và đấu tranh giai cấp, điều cống hiến mới

khi đã lật đổ giai cấp tư sản, mà còn cho suốt cả thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản
chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa, chỉ
những người đó mới thấm nhuần được thực chất của học thuyết Mác về nhà
nước” (V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t. 33, tr. 43 – 44).
Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền thì giai cấp vô sản phải nắm vững
công cụ chuyên chính, kiên quyết trấn áp những thế lực đi ngược lại với lợi
ích của nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng nhằm xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, nếu “Nhà nước, tức là giai cấp vô sản được tổ chức thành
giai cấp thống trị”… thì “chuyên chính vô sản, là sự thống trị chính trị của
giai cấp vô sản” (V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, t. 33,
tr. 33.). Những luận điểm này của V. I. Lênin có thể xem là sự trình bày cô
đọng nhất thực chất của chuyên chính vô sản.
2.2.2. Lênin phát triển sáng tạo quan điểm của chuyên chính vô sản
của Mác và Ăngghen
Không chỉ vận dụng mà bên cạnh đó, V. I. Lênin cũng đã phát triển
sáng tạo quan niệm của chủ nghĩa Mác khi cho rằng chuyên chính vô sản là
nhà nước kiểu mới, nhà nước không còn theo nghĩa đen của từ này, nó là hiện
tượng nhà nước một nửa nhà nước. Do vậy, theo V. I. Lênin chuyên chính vô
sản là nền “chuyên chính kiểu mới” (V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ,
Mátxcơva, 1976, t. 33, tr. 43.).
Chuyên chính vô sản được coi là nền “chuyên chính kiểu mới” vì nó
cũng thể hiện sự thống trị chính trị của một giai cấp nhưng về bản chất lại
khác xa so với nền chuyên chính của các giai cấp bóc lột trước đó. Chức năng
của chuyên chính vô sản không chỉ phải là bạo lực đối với bọn bóc lột, và
không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức, xây dựng
toàn diện xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Xem xét chuyên chính vô sản là “thời kỳ chính trị quá độ” và rõ ràng
là cả nhà nước của thời kỳ ấy cũng là quá độ từ nhà nước đến phi nhà nước,
15

sở lý luận trực tiếp để Đảng ta vận dụng vào xây dựng hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay.
16


CHƯƠNG 3
Ý NGHĨA VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CHUYÊN CHÍNH
VÔ SẢN VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên chính vô sản do Mác và Ăngghen mở đầu và Lênin là người
phát triển và hoàn thiện đã thủ tiêu chế độ người bóc lột người và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Chuyên chính vô sản có vai trò tổ chức quan trọng trong
việc xây dựng xã hội mới, đó là một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ
kiểu mới. Nguyên tắc tối cao của nó là liên minh của giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân, với toàn thể nhân dân lao động và các tầng lớp xã hội khác
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
3.1. Ý nghĩa của việc Lênin bảo vệ và phát triển lý luận chuyên
chính vô sản
3.1.1. Đối với nghiên cứu lý luận
Lý luận dân chủ vô sản của Mác – Ăngghen không chỉ được Lênin bảo
vệ thành công, mà hơn thế nữa nó còn bổ sung và phát triển một cách xuất
sắc. Nhìn một cách tổng quát, trên tất cả các nội dung cơ bản của lý luận dân
chủ vô sản đều được Lênin bổ sung và phát triển. Từ việc bổ sung, phát triển
khái niệm cho đến quá trình ra đời, tiêu vong của dân chủ vô sản. Đồng thời
chúng ta thấy từng nội dung lý luận vô sản trong từng nguyên lý, lý luận cụ
thể, từng luận điểm đã được Lênin bảo vệ và phát triển một cách xuất sắc.
Trong điều kiện lịch sử mới, lý luận dân chủ vô sản có thêm những nội dung
mới, những hình thức mới.
Nhưng sự phát triển ấy không có nghĩa là lý luận dân chủ vô sản đã
hoàn chỉnh tuyệt đối. Đây chỉ là bước phát triển đến hoàn chỉnh nội dung cơ

sản với bọn tư sản. Sự sụp đổ của hệ thống dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô và Đông Âu đã minh chứng cho điều đó. Nhưng sự sụp đổ ấy không phải
là sự sụp đổ của hệ thống lý luận khoa học về dân chủ vô sản mà là sự sụp đổ
của những mô hình thiếu năng động, sang tạo trong quá trình vận dụng chue
nghĩa Mác – Lênin vào xây dựng chế độ dân chủ.

18


Ngày nay lý luận dân chủ Mác-xít đang thể hiện vai trò và ý nghĩa to
lớn của mình trong sự nghiệp đổi mới và tăng cường xây dựng và phát triển
quyền làm chủ tập thể của nhân dân trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa.
3.2. Sự vận dụng để xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay
3.2.1. Sự tất yếu ra đời của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Vào giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược
Việt Nam. Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định bằng vũ trang, thiết
lập bộ máy thống trị trên toàn bộ đất nước Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến
hành các cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyê, bóc lột nhân
công rẻ mạt, đem lại lợi nhuận tối đa cho bọn tư bản lũng đọa Pháp. Dưới ách
thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, Việt Nam từ một chế độ phong kiên
độc lập chuyển thành chế độ thuộc địa, mất hẳn chủ quyền, phụ thuộc vào
nước Pháp. Cũng từ đó, nhân dân Việt Nam đã liên tục vùng lên đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc. Tiêu biểu là các phong trào
yêu nước của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh… Các
phong trào yêu nước đó, do quan điểm giai cấp nên không có đường lối đúng
đắn, phương pháp thích hợp nhằm giải quyết thỏa đáng vấn đề cơ bản là mô
hình nhà nước phù hợp với tiến trình lịch sử, vì vậy cuối cùng đều không
tránh khỏi thất bại. Giữa lúc nhân dân ta đang bế tắc con đường giải phóng
dân tộc thì Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước. Với lòng yêu nước

quốc Pháp. Bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà nước dân chủ nhân dân
chuyển sang làm nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Tiếp đó, nhân dân ta lại phải tiếp tục chiến đấu 20 năm chống cuộc
chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và các thế lực tay sai. Bằng đại chiến
mùa xuân năm 1975, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thiết lập trên
cả nước. Như vậy, nhà nước xã hội chỉ nghĩa Việt Nam là kết quả của các
cuộc đấu tranh cách mạng quyết liệt chống thực dân Pháp cấu kết với giai cấp
phong kiến, chống đế quốc Mỹ cùng các thế lực tay sai phản động và các thế
lực phản động quốc tế suốt gần nửa thế kỷ. Lịch sử đấu tranh của nhân dân ta
từ 1930 đến nay chứng minh: những vấn đề lớn như tự do chính trị và đấu
20


tranh giai cấp chỉ có thể giải quyết bằng sức mạnh của nhà nước với sự lãnh
đạo của Đảng và như vậy vấn đề quan trọng nhất của mỗi cuộc cách mạng đó
là vấn đề nhà nước.
3.2.2. Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Cương lĩnh chính trị của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng được khẳng định lại trong báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng: “Bản chất nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, lấy liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tàng lớp tri thức làm nền tảng, do Đảng cộng
sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ
cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích giai cấp
nằm trong lợi ích của nhân dân” [3, 129]. Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, lợi ích giai cấp nằm trong lợi ích của nhân dân, của dân tộc, chức
năng giai cấp của nhà nước chỉ làm tốt chừng nào nó làm tốt chức năng dân
tộc, chức năng xã hội. Là nhà nước của công nhân Việt Nam nên nó là nhà
nước của nhân dân, nhà nước của toàn quốc gia, dân tộc.
Nước ta từ một quốc gia tiểu nông trên cơ sở thắng lợi của cách mạng

trong các hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, về xác định quyền lực tối
cao thuộc về nhân dân đã khẳng định rõ mục tiêu và những bước phát triển
của chế độ dân chủ ở nước ta. Bản chất dân chủ thể hiện toàn diện trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội.
Trong lĩnh vực kinh tế: nhà nước thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng
về kinh tế, tạo ra những điều kiện làm cho nền kinh tế đất nước có tính năng
động, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa sở
hữu và hình thức thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh
tế đều có thể hoạt động theo cơ chế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, hợp tác
và cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp luật. Bảo đảm lợi ích
kinh tế của người lao động, đó là động lực đồng thời là mục tiêu của dân chủ.
Trong lĩnh vực chính trị: nhà nước tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc, quy
định những quyền tự do dân chủ trong sinh hoạt chính trị. Nhà nước xác lập
22


và thực hiện cơ chế đan chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử và bãi miễn đại
biểu nhân dân trong các cơ quan bầu cử. Đồng thời nhà nước thiết lập và thực
hiện chế độ dân chủ trực tiếp tạo điều kiện cho nhân dân tham gia công việc
quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội: nhà nước thực hiện chủ trương tự do tư
tưởng và giải phóng tinh thần, phát huy mọi khả năng của con người, quy định
toàn diện các quyền tự do: ngôn luận, báo chí, hội họp, học tập, lao động, tự do
tín ngưỡng, tự do tư tưởng, văn hòa, xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam.
3.2.3. Chức năng của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Chức năng đối nội
Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế là chức năng cơ bản trực tiếp tổ
chức và quản lý nền kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ

theo cơ chế thị trường có sự điịnh hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn át sự
phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và các âm mưu phản cách mạng
khác. Đây là chức năng quan trọng và rất khó khăn phức tạp. Tuy các giai cấp
bóc lột, các thế lực thù địch của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã bị đánh đổ
nhưng không cam chịu thất bại, chúng luôn luôn tìm mọi cách để tấn công và
làm suy yếu chủ nghia xã hội, nuôi dưỡng và khuyến khích bọn phản cách
mạng tiến hành các âm mưu phá hoại, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội. Vì vậy, nhà nước phải thực hiện tốt chức năng trấn át sự phản kháng
của các giai cấp bóc lột và bọn phản cách mạng.
Ngoài ra, nhà nước ta còn thực hiện chứ năng bảo vệ quyền tự do dân
chủ của nhân dân; bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa; tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học giái dục.
* Chức năng đối ngoại
Chức năng bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta đang củng cố
nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, kết hợp quốc phòng anh ninh
với xây dựng kinh tế, xây dựng quân đội và công an chính quy, tinh nhuệ,
hiện đại, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để kịp thời làm thất bại
24


mọi âm mưu và hành động chống phá, xâm lược của kẻ thù, tiếp tục hoàn
thiện các chính sách, pháp luật về anh ninh, quốc phòng, nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về an ninh quốc phòng.
Chức năng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế
và khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Chức năng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách
mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ
nghĩa, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status