Tài liệu LUẬN VĂN: Chính sách kinh tế mới của Lênin Sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam - Pdf 10



LUẬN VĂN:

Chính sách kinh tế mới của Lênin -
Sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam



* Công nghiệp.
Tổng sản lượng công nghiệp năm 1920 so với năm 1917 giảm đi hơn 4 lần, số
người làm việc giảm gần 1/2. Do đó tỷ trọng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế
năm 1920 là 25%. Hầu như tất cả các ngành đều sa sút. So sản lượng năm 1920 với 1918
thì khai thác than đá giảm từ 731 triệu pút xuốn 476 triệu pút; đúc ngang giảm từ 31,5
triệu xuống 7 triệu pút; sản xuất thép mactanh giảm từ 24,5 xuống 10 triệu put Nguyên
liệu, vật liệu dự trữ đã dùng hết. So với năm 1913, sản xuất đại công nghiệp giảm xuống
tới 12,8% còn công nghiệp giảm xuống tới 44,1%.
Do đó tương quan đã thay đổi nghiêng về tiểu công nghiệp (từ 24,2% đến 52,3%).
* Giao thông vận tải.
Bị tàn phá nghiêm trọng; 61% số đầu máy và 28% số toa xe bị phá cùng với 4.000
chiến cầu và các ga kho tàng. So với trước chiến tranh, khối lượng vận chuyển năm 1920
chỉ còn 20%.
* Tài chính – Tín dụng.
Lâm vào tình trạng rối loạn. Năm 1918 bội chi ngân sách 31 tỷ rúp, năm 1901 con
số bội chi lên tới 21.937 tỷ rúp. Mức dự trữ vàng của ngân hàng giảm sút nghiêm trọng.
Nếu năm 1914 mức đảm bảo vàng cho khối lượng tiền tệ trong lưu thông là 98,2% thì
năm 1917 chỉ còn 6,8%. Khối lượng tiền tệ tăng nhanh đã đưa đến sự tăng vọt của giá cả.
Mức giá trung bình toàn quốc năm 1923 tăng hơn 21 triệu lần so với năm 1913. Do đồng
rúp mất giá nhanh nên các địa phương đã tự tạo ra vật ngang giá khác nhau. Đồng thời,
xu hướng hiện vật hoá trong nền kinh tế tăng dần lên.
Do sản suất và lưu thông sa sút, nên đời sống nhân dân lao động càng thêm khó
khăn so với hồi chiến tranh.
Tiền lương thực tế của công nhân trước chiến tranh là 22 rúp đã giảm xuống 8,3 rúp
năm 1920. Do thiếu ăn thường xuyên, thiếu thuốc men chữa bệnh nên tỷ lệ công nhân
mắc bệnh và tử vong tăng lên. Trong lúc đó, vì thiếu điều kiện sản xuất nên nhiều nhà
máy đóng cửa sổ người không có việc làm tăng lên, do đó tình trạng biến chất giai cấp
của giai cấp công nhân tiếp tục diễn ra.


- Xoá bỏ thương nghiệp tư nhân.

1
V.I Lênin toàn tập T.16
- Phân phối cưỡng bức mọi nguồn nhân lực và tổ chức lao động tập trung kiểu quân
sự hoá.
- Nhà nước quản lý toàn bộ sản phẩm kể cả sản phẩm thừa
Trong thời gian thực hiện những chủ trương biện pháp trên mà không xem xét đến
đặc điểm và điều kiện lịch sử cụ thể của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội do sự chi
phối của quan niệm chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội nên tình trạng khủng hoảng
ngày càng nghiêm trọng: sản xuất sa sút hơn, nhất là nông nghiệp. Dân số ăn theo chế độ
cung cấp của nhà nước tăng nhanh trong khi mức lương thực cung cấp ngày càng ít, thấp.
Các chỉ tiêu thu mua trưng thu cứ tăng lên, nhưng kết quả cứ giảm xuống, nhu cầu tiền
mặt càng tăng càng phải in và càng phải phát hành thêm thì sức mua của đồng tiền càng
giảm. Số lượng giai cấp công nhân đã giảm hơn 1/2, trong đó một bộ phận chuyển về
nông thôn. Nông dân ngày càng không bằng lòng với chính sách của Đảng. Sai lầm trong
lĩnh vực hoạt động kinh tế gây ra hậu quả chính trị nặng nề: liên minh công nông đứng
trước nguy cơ tan rã, chuyên chính vô sản không được củng cố, vai trò lãnh đạo của
Đảng yếu đi. Tình trạng an ninh chính trị và an toàn xã hội ngày càng xấu. Đại hội phải
có sự thay đổi cơ bản chính sách kinh tế. Và chính sách kinh tế mới của Lênin đã ra đời.
2. Nội dung chủ yếu của chính sách kinh tế mới.
a. Chính sách về thuế lương thực.
Trong điều kiện nước Nga lúc ấy, giai cấp nông dân và nông nghiệp là nguồn nuôi
sống xã hội. Sản xuất và đời sống xã hội phụ thuộc vào nông nghiệp. Khó khăn rất lớn
mà nhà nước vấp phải là thiếu lương thực. Vì vậy mục đích trực tiếp của thuế lương thực
là một trong những biện pháp cấp tốc, cương quyết nhất, cấp thiết nhất để cải thiện đời
sống của nông dân và nâng cao lực lượng sản xuất của họ. Thực hiện thuế lương thực,

thông qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Muốn cải thiện đời sống nông dân và công nhân thì không thể dựa vào nền nông
nghiệp gia trưởng mang tính chất tự cung tự cấp mà chỉ có thể dựa vào một nền nông
nghiệp hàng hoá. ý nghĩa và tác dụng cần có thuế lương thực không thể phát huy được
trong nền nông nghiệp tự cung tự cấp vì số nông sản thừa tăng lên một mức độ nào đó
nếu không có trao đổi thì có mất tác dụng kích thích.
Cơ chế kinh tế hàng hoá sẽ đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của sản xuất và tiêu dùng
của nông dân và xã hội. Thông qua trao đổi hàng hoá thúc đẩy quá trình phân công lao
động trong nông nghiệp vừa đi vào chuyên canh vừa phát triển kinh doanh tổng hợp, nhờ
đó các lực lượng sản xuất trong nông nghiệp được khôi phục và phát triển.
Kinh tế hàng hoá là con đường để nhà nước giải quyết vấn đề lương thực một cách
vững chắc. Sản xuất lương thực ngày càng mang tính chất hàng hoá thì nông dân lợi hơn,
nên vừa mở rộng diện tích canh tác vừa thâm canh nhờ đầu tư thêm vốn và lao động.
Khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp làm sống động lại các ngành
kinh tế và toàn bộ sinh hoạt xã hội ở thành thị và nông thôn. Để thực hiện được cơ chế
hàng hoá trong nông nghiệp thì phải giải quyết 2 vấn đề:
- Lấy hàng công nghiệp ở đâu để trao đổi với nông dân?
- Khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá bên trong nông nghiệp mới thực hiện
được chính sách kinh tế mới nhưng sẽ kéo theo sự khôi phục và kích thích xu hướng tư
bản chủ nghĩa.
Lênin đã có quan điểm về vấn đề này như sau:
+ Sự phát triển của trao đổi tư nhân của chủ nghĩa tư bản là một sự phát triển không
tránh được. Việc ngăn cấm, chặn đứng sự phát triển đó là có hại cho cách mạng. Nhưng
không được coi thường buông lỏng sự kiểm tra; kiểm soát sự phát triển ấy của xu hướng
tư bản chủ nghĩa. Muốn vậy phải sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Lênin còn đề xuất là phải nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, là sự
củng cố khu vực kinh tế nhà nước có hiệu quả.

d. Tổ chức quá trình lưu thông theo quan điểm mới.
Căn cứ vào thị trường hiện có và tính toán đến các quy luật của nó, chiếm lĩnh thị
trường và bằng những biện pháp kinh tế thường xuyên có cân nhắc và được xây dựng
trên sự kiểm kê chính xác quá trình của thị trường mà nắm vững việc điều tiết thị trường
và lưu thông tiền tệ.
Như vậy từ năm 1921, quan điểm đổi mới lĩnh vực lưu thông hoàn toàn khác với
quan điểm trong thời kỳ trước là quan điểm đòi xoá bỏ thương nghiệp và lưu thông hàng
hoá.
Quan điểm mới của NEP đối với lĩnh vực này phù hợp với yêu cầu chuyển nền kinh
tế từ trạng thái hỗn loạn sang quỹ đạo tái sản xuất bình thường, từ phân phối trực tiếp và
bao cấp sang kinh tế hàng hoá. Do đó nội thương trở thành cái mắt xích đặc biệt cần nắm
vững trong dây chuyền quản lý, điều tiết hoạt động của nền kinh tế.
Mục đích cao nhất của chính sách kinh tế mới ở bước ngoặc cách mạng là thiết lập
liên minh kinh tế giữa hai giai cấp công nhân và nông dân trong điều kiện nông nghiệp
lạc hậu, phân tán thì thương nghiệp là mối liên hệ kinh tế duy nhất có thể có giữa hàng
chục triệu nông tiểu nông với giai cấp vô sản, là điều kiện để cho nông nghiệp và công
nghiệp có thể tái sản xuất được. Hơn nữa, không có hoạt động thương nghiệp thì không
thể sử dụng các hình thức quá độ trong sản xuất và lưu thông.
e. ổn định tiền tệ, củng cố nền tài chính Xô - viết.
Công tác tài chính được thực hiện theo các biện pháp như: Kiểm kê và kiểm soát có
tác dụng tính toán nhu cầu thực tế về tài chính của xí nghiệp; Kiểm soát việc chi tiêu, hạn
chế các chi phí sản xuất và chi phí cho bộ máy. Nhà nước chủ trương tổ chức tài chính
quốc gia, điều tiết giá cả nhằm thiết lập quan hệ kinh tế mới giữa thành thị và nông thôn.
Chính sách tài chính quốc gia thống nhất dựa trên quan điểm tập trung tài chính, tập
trung lực lượng của quốc gia cho cuộc cải cách vì lợi ích của người lao động.
Quan điểm về tập trung tài chính của Lênin không mâu thuẫn với yêu cầu phát huy
quyền chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của các tổ chức Xô Viết địa

vào vốn. Do không thừa nhận các quy luật kinh tế vốn có nên nền kinh tế nước ta trước
đổi mới (1986) rất trì trệ, yếu kém. Đó là một nền kinh tế công nông nghiệp lạc hậu, lực
lượng sản xuất chưa theo kịp quan hệ sản xuất. Là một nước nông nghiệp nhưng chúng ta
phải nhập lương thực, đời sống nhân dân vẫn còn khó khăn. Do đó việc áp dụng chính
sách kinh tế mới đã thành công ở nước Nga nước có một số đặc điểm giống Việt Nam là
điều hết sức cần thiết.
2. Vận dụng chính sách kinh tế mới ở Việt Nam.
a. áp dụng NEP trong giai đoạn 1960 – 1975.
* Trong giai đoạn này nước ta tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa (miền Bắc).
Công cuộc cải tạo cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích cải tạo những quan
hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó
mẫu chốt là cải tiến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, mở
đường cho sức sản xuất phát triển. ở miền Bắc nước ta, công cuộc cải tạo xã hội chủ
nghĩa bao gồm cải tạo công thương nghiệp tư bản tư nhân, cải tạo nông nghiệp, cải
tạo thủ công nghiệp và cải tạo tiểu thương, trong đó cải tạo nông nghiệp là khâu chính
vì nông nghiệp chiếm bộ phận rất quan trọng, nông dân lao động là một lực lượng sản
xuất to lớn.
Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta dùng con đường
hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp cải tạo quan hệ sản xuất với cải tiến kỹ thuật và giáo
dục tư tưởng, đi từ tổ đội công đến hợp tác xã bậc thấp và hợp tác xã sản xuất bậc cao, từ
hợp tác xã nông nghiệp quy mô nhỏ đến hợp tác xã quy mô lớn để biến nông dân cá thể
thành nông dân tập thể. Trong việc cải tạo công thương tư bản tư nhân, căn cứ vào điều
kiện cụ thể của nước ta, chúng ta chủ trương cải tạo hoà bình công thương nghiệp tư bản
tư nhân theo chủ nghĩa xã hội: dùng chính sách sử dụng, hạn chế và cải tạo, chính sách
chuộc lại và trả dần đối với tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, thông qua các hình thức
gia công, đặt hàng, kinh tiêu, đại lý xí nghiệp công tư hợp doanh và xí nghiệp hợp tác;

đại kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có
công nghiệp hiện đại”
Để thực hiện chủ trương trên, nhà nước đã dành 48% số vốn đầu tư xây dựng cơ
bản để xây dựng công nghiệp, trong đó tới 78% dành cho công nghiệp nặng. Với số vốn
đó ta đã xây dựng được một số công trình lớn của kế hoạch này: khu ngang thép Thái
Nguyên, nhà máy điện uông bí, hoá chất Việt Trì, Supe phot phát Lâm Thao.
Các phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội đã diễn ta rầm rộ và sôi nổi ở
khắp các ngành, các địa phương như “thi đua một người làm việc bằng hai”, “gió đại
phong”, phong trào “ba tốt” trong thương nghiệp.
Do đó trong giai đoạn này giá trị sản lượng công nghiệp và nông nghiệp đều có
bước tăng trưởng vưọt bậc, chi viện cho tiền tuyến.
b. áp dụng NEP vào Việt Nam giai đoạn 1975 –1986.
Trước hết là vấn đền củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở miền Bắc. Do có sự
khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp trong giai đoạn 1976 –1980 nên tháng
1-1981 Ban bí thư trung ương đã ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm
va người lao động.
Sự ra đời của chỉ thị 100 rất phù hợp với thực tiễn khách quan, bởi vì vào cuối
những năm 70 nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn gay gắt:
năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi giảm; sản xuất không đủ tiêu dùng; thu nhập và
đời sống của xã viên bị bấp bênh và giảm sút; trên 70% số hợp tác xã nông nghiệp thuộc
loại trung bình và yếu kém; nhiều hợp tác xã nằm trong tình trạng bị tan rã; nông dân bỏ
ruộng đồng; không thiết tha gắn bó với hợp tác xã. Trước tình hình đó, ở một số địa
phương, có hợp tác xã đã phải khoán “chui” đối với hộ gia đình dưới các hình thức khác
nhau.
Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động là một hình thức quản lý

công nông nghiệp hợp lý.
c. áp dụng NEP từ 1986 đến nay. Một số giải pháp.
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam
đã đề ra đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặc quan trọng trong công cuộc xây dựng
CNXH ở nước ta. Công cuộc đổi mới đó là một cuộc cách mạng, mỗi bước đi của nó là
một sự tìm kiếm và khám phá mới mẻ. Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm cơ sở lý luận nền tảng cho sự tìm kiếm và khám phá mới mẻ này, trong công
cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN chính sách kinh tế mới và những tư tưởng
cơ bản của Lênin đã được chúng ta nhìn nhận lại với hoàn cảnh lịch sử cụ thể cuả mình.
Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước phong kiến với nền nông nghiệp
lạc hậu, lực lượng sản xuất yếu kém thì chưa thể xây dựng quan hệ sản xuất XHCN lớn
ngay được. Chính vì vậy cần phải có một thời gian quá độ để xây dựng cơ sở hạ tầng, vật
chất tiên tiến, lực lượng sản xuất tiến bộ. Và chính sách kinh tế là một cơ sở lý luận là
công cụ thực hiện quá độ có vai trò rất quan trọng đã được Đảng ta vận dụng.
Đại hội Đảng VI đã chỉ rõ nguyên nhân của những sai lầm nôn nóng, chủ quan duy
ý chí của chủ trương ‘tiến nhanh tiến thẳng” lên chủ nghĩa xã hội trong những năm trước
đổi mới ở nước ta. Khi đó, với mục đích đúng đắn là nhanh chóng nâng cao hiệu quả của
sản xuất nông nghiệp; song biện pháp và bước đi lại quá vội vàng, chúng ta đã quá vội
tiến hành hợp tác hoá và xây dựng các hợp tác xã bậc cao, bất chấp quy luật phát triển
khách quan của nó và cũng chưa tính đến một cách đầy đủ hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của
nước ta và do vậy kết quả mang lại đã không được như ý muốn. Chúng ta đã thiếu quan
tâm đến những hình thức nhỏ của sản xuất nông nghiệp và có lẽ phần nào đã không đánh
giá đúng một luận điểm quan trọng của VI. Lênin trong chính sách kinh tế mới – luận
điểm về tính không khả thi của việc chuyển nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên nền sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa bằng cách ban bố những sắc lệnh từ trên xuống. Hậu quả của việc
làm đó không chỉ ở chỗ, sản xuất nông nghiệp không phát triển mà còn ở chỗ sản xuất
nông nghiệp không phát triển, mà còn ở chỗ, niềm tin của người nông dân vào con đường
làm ăn tập thể phần nào bị giảm sút do lợi ích kinh tế của hệ không được đáp ứng đời
ta hiện nay là: Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên
trong và bên ngoài cho công nghiệp háo hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã
hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát
triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh.
Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ
đổi mới tư duy mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, chúng ta ngày càng ý thức rõ vị trí,
vai trò và ý nghĩa quan trọng của chính sách kinh tế mới trong giai đoạn thực hiện bước
quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội tiểu nông với chính sách kinh tế mới chúng ta đac
nhận ra rằng nguyên nhân chủ yếu của những sai lầm đã mắc phải trong việc lãnh đạo và
quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới là đã xa rời những tư tưởng cơ bản của V.I. Lênin
về chính sách kinh tế mới ở một mức độ nhất định nào đó. Rằng đó là những sai lầm do
chủ quan, duy ý chí, bất chấp và coi thường quy luật khách quan. Nhưng sai lầm đó hoàn
toàn có thế tránh được, có thể sửa chữa được một khi nắm vững những tư tưởng cơ bản
của V.I. Lênin về chính sách kinh tế mới.
Trong bối cảnh hiện nay việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa là
một tất yêú khách quan.
Vận dụng mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mà một trong những
nhiệm vụ cụ thể trước mắt là giải quyết một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ qua lại
giữa nhà nước và nông dân trong bối cảnh của nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu vẫn
coàn là sản xuất nhỏ, lạc hậu, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa công nghiệp và nông
nghiệp nhằm củng cố liên minh kinh tế công nông đã được hình thành từ lâu trong tiến
trình phát triển cách mạng ở nước ta, tạo điều kiện để nâng cao dần mức sống và chất
lượng sống cho quần chúng nhân dân.
Vận dụng chính sách kinh tế mới đòi hỏi phải sử dụng đúng đắn quy luật giá trị,
quan hệ hàng tiền, tạo hành lang pháp lý, tự do buôn bán và kinh doanh tư nhân trên cơ

* Ngoài hình thức kinh tế tư bản nhà nước chúng ta có thể áp dụng quan hệ hàng
hoá tiền tệ trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
Trình độ sản xuất hàng hoá không đồng đều trải rộng từ trình độ trao đổi giản đơn ở
nông thôn đến trình độ sản xuất lớn của xí nghiệp ở thành thị. Sản xuất hàng hoá nhỏ
đang chiếm ưu thế so với sản xuất hàng hoá lớn. Sản xuất hàng hoá nhỏ trong công
nghiệp và nông nghiệp đang đáp ứng 80 - 90% nhu cầu hàng hoá của xã hội. Ngay trong
các thành phố lớn và hàng xuất khẩu, sản xuất hàng hoá nhỏ vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn.
Đặc điểm này đòi hỏi chú ý vận dụng các hình thức quan hệ hàng - tiền thúc đẩy sản xuất
hàng hoá nhỏ phát triển và hình thành hệ thống phân công lao động và quan hệ trao đổi
sản xuất hàng hoá lớn. Hiện nay lưu thông hàng hoá còn chiếm ưu thế so với sản xuất
hàng hoá. Do điểm xuất phát là nền nông nghiệp lạc hậu, kinh tế tự cung tự cấp còn lớn,
nên sự phát triển của lưu thông và thị trường để mở rộng sản xuất hàng hoá là hợp quy
luật, phát triển ngoại thương để thúc đẩy kinh tế trong nước là tính quy luật phát triển
nước ta.
* Cuối cùng, vấn đề vận dụng chính sách kinh tế mới ở nước ta hiện nay là cần phải
nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước vững mạnh, có
hiệu quả.
Đây cũng là yêu cầu để phát huy năng lực sáng tạo, tính chủ động của quần chúng
nhân dân trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, động viên họ tham gia trực tiếp
vào công tác quản lý, về sự khắc phục triệt để mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu
trong các tổ chức Đảng và chính quyền trong những năm thực hiện chính sách kinh tế
mới hiện vẫn là cơ sở để chúng ta khẳng định tính đúng đắn của sự kết hợp đổi mới kinh
tế với đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Nhưng tư tưởng đó
của V.I.Lênin cho thấy rõ, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính có quan hệ biện chứng,
có sự tác động qua lại lẫn nhau, là tiền đề, là điều kiện của nhau và do đó ngay từ đầu
giữa chúng phải có sự kết hợp chặt chẽ, trong đó đổi mới kinh tế phải được coi là trọng
tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.

Trong những năm 1986 -1988 nạn lạm phát đã tăng với 3 con số giảm xuống còn 2
con số (riêng năm 1993 xuống một con số) trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
cao.
Bảng: tăng trưởng kinh tế và lạm phát (%).
Chỉ tiêu 198
6
198
7
1988 1989 1990 1991 199
2
199
3
199
4
199
5
Tăng
trưởng
4 3,9 5,1 8,0 5,1 6,0 8,6 8,1 8,8 9,5
Lạm phát 774,
7
223,
1
393,8 34,7 67,4 67,6 17,6 5,2 14,4 12,
7
Đến nay nạn lạm phát được kiềm chế ở mức tương đối ổn định.


1. C.Mác - Tư bản quyển 1. tập 3. Nxb Sự thật 1982.
2. Lên nin - Lênin toàn tập. Bàn về thuế lương thực
3. Lênin - Kinh tế chính trị trong thời kỳ cách mạng vô sản.
4. Văn kiện Đại hội Đảng III, V, VI, VII, VIII, IX (dự thảo).
5. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
6. Giáo trình kinh tế chính trị: Nxb Giáo dục 1998.
7. Nguyễn Tiến Long. Bài giảng kinh tế chính trị.
8. Tập thể tác giả: Thực trạng quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ở Việt
Nam hiện nay. Viện Triết học 1990.
9. GS - TS Nguyễn Trí Dĩnh. Lịch sử kinh tế quốc dân. Nxb Giáo dục 1999.
10. Tạp chí cộng sản số 8 - 1987.
11. Ambaroxunop: Chính sách kinh tế mới qua lăng kính của thời đại hiện
nay. Nxb Sự thật, Hà Nội 1989.
12. I. Bungdalop: NEP: cái quá khứ và cái cần thiết cho chúng ta hiện nay.
(Bản dịch Viện Thông tin Khoa học hội 3/90).
13. Tạp chí Triết học số 3 tháng 6/1996. Những luận chứng của Lênin cho
chính sách kinh tế mới.
14. Trần Ngọc Hiên: Chính sách kinh tế mới của Lênin. Sự vận dụng ở nước
ta.
Mục lục

Trang
A. Mở bài.

B. Nội dung.
I. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của NEP.
1. Hoàn cảnh ra đời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status