Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng nó ở Việt Nam - Pdf 27


1

Phần thứ nhất

Lời mở đầu

Sau 15 năm đổi mới, nhất là trong 5 năm gần đây nền kinh tế xã hội
nớc ta đã đạt đợc những bớc tiến đáng kể. Năm 2020 Việt Nam sẽ là một
thị trờng rộng lớn có số dân khoảng 100 triệu ngời đứng hàng thứ hai
trong số các nớc có dân số lớn ở Đông Nam á, thứ 7 so với các nớc Châu á
Thái Bình Dơng và đứng hàng thứ 10 trên thế giới. Với nhịp độ tăng trởng
kinh tế là 8,2% giai đoạn 1991-1995 và 6,9% thời kì 1996-2000, khoảng 7-
8% thời kì 2000-2010 cho thấy sau một vài thập kỉ tới Việt Nam sẽ là một
quốc gia có sức vơn mạnh mẽ trên con đờng công nghiệp hóa hiện đại
hoá. Tuy nhiên những khó khăn thách thức về kinh tế xã hội đã gây cản trở
cho việc thực hiện những mục tiêu phơng hớng của Đảng và chính phủ
nhằm đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Trên cơ sở thực tiễn, nớc ta và thế giới trớc thềm thế kỉ 21, với những
thành công và thất bại, vận hội và thách thức, vấn đề là phải nhận thức lại
chủ nghĩa xã hội. Mọi vấn đề cần phải xem xét trong vận động sáng tạo phản
ánh đúng bản chất cách mạng và khoa học của nó theo bản sắc Việt Nam.
Do đó, không thể giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội của đất nớc bằng
các chủ trơng biện pháp duỵ trên t duy cũ, mang tính chất bị động và đối
phó với tình hình. Ngợc lại, nó đòi hỏi phải có những chiến lợc, sách lợc
vừa mang tính tình thế, có khả năng đáp ứng yêu cầu trớc mắt vừa tạo nền
móng cho sự phát triển lâu dài.
Tiềm năng t duy lý luận, chính trị và nghệ thuật lãnh đạo, tổ chức thực

3
Phần thứ hai
cơ sở của đề tài
Chơng I
:
c
c
ơ
ơs
s

ởl
l
ý
ýl
l
u
u

chiến
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

4
Mục đích trớc tiên của chính sách này là tập chung toàn bộ lực lợng của
xã hội và của nhà nớc vào việc đảm bảo chiến thắng thù trong giặc ngoài.
Nhng đồng thời chính sách này còn nhằm mục đích khác là thủ tiêu chủ
nghĩa t bản và gốc rễ của nó ở trong nớc để có thể nhanh chóng vợt
qua không chỉ là thời kì quá độ giữa CNTB và CNXH, mà nó còn vợt qua
cả chính CNXH tiến thẳng lên CNCS.
Nội dung của chính sách cộng sản thời chiến là: nhanh chóng thc hiện
Quốc doanh hoá nền kinh tế bằng cách quốc hữu hoá tất cả các xí nghiệp
lớn, sau đó cả xí nghiệp vừa và nhỏ; Nhanh chóng xoá bỏ thơng nghiệp t
nhân lớn và nhỏ nh cấm buôn bán ở chợ trong môt số thành phố, đóng cửa
các trung tâm buôn bán lớn; Nhà nớc quản lý hầu hết nông sản, trng thu
và mua nông sản, chuyển mạnh sang phơng thức Nhà nớc quản lý trực tiếp
sản xuất nông nghiệp.
Phơng pháp lãnh đạo cứng rắn, chủ yếu là những phơng pháp chỉ huy
mệnh lệnh và do hoàn cảnh chiến tranh bắt buộc đòi hỏi tác chiến nhanh và
kiên quyết. Quan niệm của chính sách Chủ nghĩa cộng sản thời chiến về
sự phát triển của cách mạng và những mục tiểu của nó: Đợc cao trào nhiệt
tình lôi cuốn, chúng ta, những ngời đã từng thức tỉnh nhiệt tình của nhân
dân, trớc hết về mặt chính trị rồi sau về mặt quân sự,- Lênin đã viết-chúng
ta đã tính đến là có thể dựa vào nhiệt tình đó mà trực tiếp thực hiện những
nhiệm vụ kinh tế cũng to tát (nh những nhiệm vụ chính trị chung, nh
những nhiệm vụ quân sự), đó chính là chuyển ngay sang sản xuất và phân
phối cộng sản chủ nghĩa.

thích hợp, nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất. Đặc biệt
cùng với hậu quả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm
cho tình hình kinh tế xã hội trở nên nóng bỏng:
- Về công nghiệp: Ước tính 1/4 tài sản quốc gia mất đi, trong đó nền công
nghiệp bị tổn thất lớn nhất. Tổng sản lợng công nghiệp năm 1920 so với
năm 1917 giảm đi 4 lần, số ngời làm việc giảm gần 1/2. Do đó, tỷ trọng sản
phẩm công nghiệp trong nền kinh tế năm 1920 là 25%. Hầu nh tất cả các
ngành đều sa sút. Nguyên vật liệu dự trữ đã dùng hết. So với năm 1913, sản
xuất đại công nghiệp giảm xuống tới 12,8%, còn công nghiệp giảm xuống
44,1%. Do đó tơng quan đã thay đổi nghiêng về tiểu công nghiệp(từ 24,2%
đến 52,3%) .
- Về nông nghiệp: Diện tích gieo trồng sản lợng ngũ cốc, sản lợng chăn
nuôi đều giảm, bình quân ngũ cốc đầu ngời là 246 kg còn trớc chiến tranh
là 405 kg.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

6
- Về giao thông vận tải: Bị tàn phá nghiêm trọng, 61% số đầu máy và 28%
số toa xe bị phá, cùng với 4000 chiến cầu và các ga xe, kho tàng. So với
trớc chiến tranh, khối lợng vận chuyển năm 1920 chỉ còn 20% (không tính
đến khối lợng vận chuyển của quốc phòng và nhu cầu của bản thân đờng
xe lửa là 12%).
- Về tàI chính tín dụng: Lâm vào tình trạng rối loạn. Năm 1918 bội chi ngân
sách 31 tỷ rúp, năm 1921 con số bội chi nên tới 21,937 tỷ rúp. Mức dự trữ
vàng của ngân hàng thế giới giảm sút nghiêm trọng. Khối lợng tiền tệ tăng
nhanh trong khi khối lợng hàng hoá giảm đã đa đến sự tăng vọt của giá cả.
Mức giá trung bình toàn quốc năm 1923 tăng 21 triệu lần so với năm 1913.

những khó khăn vô cùng to lớn về kinh tế qua việc thực hiện lao động ngang
nhau. Thêm vào đó, trong lý luận CNXH khoa học, Lênin cha thảo ra lý
luân chính trị và kinh tế - xã hội của thời kì quá độ và thời kì xây dựng
CNXH. Cuối cùng, tình trạng rối loạn trong đội ngũ kẻ thù giai cấp, sự rút
lui không có trật tự, dờng nh là sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ t sản
khiến mọi ngời tin rằng việc tổ chức và phân phối phù hợp với dự kiến về
CNCS của Mác và Aghen, không có kích thích kinh tế, đồng thời xoá bỏ
quan hệ hàng hoá tiền tệ là hoàn toàn hiện thực. Vì vậy việc mất giá đồng
tiền xay ta lúc đó, cũng nh việc thay buốn bán bằng phân phối sản phẩm tập
trung, trong đó có phân phối bằng tem phiếu và trng thu lơng thực, đợc
coi là những quá trình tự nhiên, là bằng chứng về sự phát triển rất đáng mong
mỏi và hơn nữa là sự phát triển nhanh chóng đi lên CNCS.
Còn về mặt chính trị của mô hình cộng sản thời chiến thì thực chất là việc
dẫn tới chỗ nhà nớc hoá toàn bộ. Nhng lại nảy sinh vấn đề kết hợp nh thế
nào việc đó với viến cảnh ro Mác vạch ra về sự tiêu vong của nhà nớc. Để
trả lời câu hỏi này, Lênin nói về tính chất rất tạm thời của nhà nớc, về sự
tồn tại của nhà nớc cho đến khi các giai cấp mất đI, vấn đề này hầu nh
không còn xảy ra nữa. Chiến tranh còn đang tiếp tục, việc nhà nớc hóa là
tất yếu và tiết thực, cũng nh sự độc quyền của nhà nớc về sản xuất và phân
phối kèm theo nó là những mặt tiêu cực của sự độc quyền mà Lênin đã cố
gắng khắc phục sau này.
2. Sự phân tích của Lênin về những mâu thuẫn kinh tế và chính trị.
Phân tích nguyên nhân của cuộc khủng khoảng năm 1921 ở nớc Nga Lênin
cho rằng nguyên nhân trực tiếp là do đời sống kinh tế của ngời lao động
xấu đi, đặc biệt là họ đã phải đau đớn chấp nhận tình hình xấu đi đó sau khi
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN


củng cố liên minh công nông trên cơ sở kinh tế nhằm lôi cuốn những ngời
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

9
sản xuất nhỏ vào việc xây dựng đất nớc và đi lên CNXH. Chỉ có một chính
sách nh vậy mới tạo đợc tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN.
T tởng đó của Lênin đóng vai trò quyết định trong việc đa ra lý luận
Mac-xit về thời kì quá độ vào thực tiễn cuộc sống và làm phong phú thêm lý
luận đó. Nhờ t tởng ấy mà Đảng đã sửa chữa đợc những sai lầm trong
thời kì đó.
Thứ hai: những sai lầm chủ quan của những ngời công sản cũng là một thực
tế phải giải quyết đồng thời với việc giải quyết mâu thuẫn khách quan. Trong
những năm tháng áp dụng Chính sách cộng thời chiến đã hình thành quan
niệm về khả năng quá độ trực tiếp lên CNXH. Nhiều chủ trơng, biện pháp
quá đáng ra đời từ quan niệm này là một trong những nguyên nhân làm tăng
nguy cơ khủng hoảng. Mô hình kinh tế xã hội theo quan điểm trực tiếp lên
XHCN. Không qua các giai đoạn trung gian, không qua các hình thức quá
độ. Mô hình đó không phải dừng lại ở quan niệm mà đã thể hiện trong thực
tế sau khi chiến tranh kết thúc một cuộc thí nghiệm không lâu lắm cho
chúng ta thấy rõ rằng cách làm nh vậy là sai, là trái với những điều trớc
kia chúng ta đã viết về bớc quá độ từ CNTB lên CNXH . Lênin đã chỉ ra
vậy.
Quan niệm này không phải chỉ là sản phẩm duy ý chí của ngời quản lý mà
trong đó còn phản ánh nguyện vọng của đông đảo quần chúng lao động
muốn nhanh chóng thoát khỏi cảnh nghèo khổ hôm quan. Rõ ràng đây là
quan niệm mang tính chất lãng mạn và ảo tởng nhng đã lặp đi lặp lại ở
nhiều nớc kém phát triển XHCN, hay đang ở chặng đầu thời kì quá độ lên

thiện nhanh chóng sau khi ban hành NEP vào tháng 3/1921. ngay sau đó, vụ
thuế lơng thực đầu tiên đạt 96% (mặc dù tỉ xuất thu đã đợc hạ thấp và năm
1921 là năm bị hạn hán và lạn đói hoành hành mạnh nhất). Thắng lợi đầu
tiên ấy chứng tỏ NEP là cong đờng đi đúng đắn. Còn sau đó, giữa năm
1922 đến năm 1925, nông nghiệp phát triển mạnh, trong đó sản xuất lơng
thực từ 56,3 triệu tấn tăng lên 74,7 triệu tấn. Nông thôn hoạt động sôi nổi.
Nông nghiệp đợc phục hồi và phát triển kéo theo sự khôi phục công nghiệp
và thơng nghiệp. Đời sống nhân dân lao động đợc ổn định trở lại sau một
năm thi hành chính sách kinh tế mới, Lênin nói Nông dân lấy làm hài lòng
với tình trạng của họ hiện nay. Chúng tôi có thể mạnh dạng khẳng định nh
thế.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

11
Sau bốn năm rỡi thi hành chính sách NEP, nớc Nga Xô Viếtkhông chỉ
khắc phục đợc hậu quả của chiến tranh và nạn đói mà sản xuất còn vợt
mức chiến tranh. Từ nớc Nga của chính sách kinh tế mới sẽ nảy ra nớc
Nga XHCN .
Tính chất đúng đắn của NEP đã đợc lịch sử chứng minh. Ngày nay muốn
vận dụng NEP và có kết quả cần phải đi sâu vào nội dung cơ bản của NEP.
B. nội dung và các biện pháp chủ yếu của chính sách kinh tế mới (NEP).
Theo quan điểm của Lênin, khủng khoảng là một quá trình tích tụ và làm
gay gắt thêm những mâu thuẫn trên lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.
Sự phân tích sâu sắc của Lênin và chiến lợc giải quyết một cách thắng lợi
cuộc khủng khoảng năm 1921 chính là ở chỗ vạch ra và làm sáng tỏ mối
quan hệ qua lại giữa các lĩnh vực quan trọng nhất: chính trị - xã hội - kinh tế.
Vì thế, tiếp cận nội dung của NEP trớc hết phải theo quan điểm hệ thống,

sống của những ngời lao động ( kể cả biện pháp cấp bách xuất 10 triệu rúp
vàng để nhập lơng thực và hàng tiêu dùng) và các biện pháp nhằm bảo vệ
và củng cố chính quyền Xô Viết đợc coi là mục tiêu hàng đầu. Các nội
dung của NEP là một hệ thống gồm nhiều mắt xích liên hoàn nhau, có mối
quan hệ bên trong nh một dây chuyền, không thể thiếu khâu nào. Tất cả các
khâu tạo thành một cơ chế kinh tế cho phép nhà nớc tháo gỡ khó khăn, điều
hành sự vận động kinh tế xã hội.
Sau đây là những nội dung chủ yếu của cơ chế kinh tế NEP.
1. Thuế lơng thực
Trong điều kiện nớc Nga lúc bấy giờ, giai cấp công nhân và nông nghiệp là
nguồn nuôi sống xã hội. Sản xuất và đời sống xã hội phụ thuộc vào nông
nghiệp. Khó khăn lớn nhất mà Nhà nớc vấp phải là thiếu lơng thực. Nạn
đói 1921 càng tăng thêm khó khăn đó. Vì vậy, mục đích trực tiếp của thuế
lơng thực là một trong những biện pháp cấp tốc cơng quyết nhất, cấp
thiết nhất để cải thiện đời sống của ngời nông dân và nâng cao lực lợng
sản xuất của họ
(1)
Thực hiện thuế lơng thực, xoá bỏ chế độ trng thu
lơng thực thừa có nghĩa là chuyển từ biện pháp hành chính thuần tuý sang
biện phap kinh tế, thuế lơng thực có vai trò của bớc quá độ đó.
Lúc ấy Lênin đã đặt ra câu hỏi: Tại sao nhà nớc vô sản trớc hết lại cải
thiện đời sống của nông dân chứ không phải là công nhân.
Và ngời là ngời trực tiếp trả lời câu hỏi đó: vì muốn cải thiên đời sống
của ngời công nhâ thì phải có bánh mỳ và nhiên liệu. Đứng về phơng diện
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

13 14
Thuế lơng thực là đòn xéo mạnh mẽ để khôi phục nền nông nghiệp sau
chiến tranh, biểu hiện yêu cầu của tính quy luận đầu tiên của quá trình khôi
phục kinh tế, bởi vì Thuế lơng thực sẽ giúp vào việc cải thiện đời sống
nông dân. Bây giờ nông dân sẽ bắt tay vào việc một cách yên tâm hăng hái
hơn đó chính là điều chủ yếu .
2. Khôi phục và phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp thông
qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Muốn cải thiện đời sống nông dân và công nhân thì không thể dựa vào nền
nông nghiệp gia trởng mang tính chất tự cấp tự túc mà chỉ có thể dựa vào
một nền nông nghiệp hàng hoá. Trong thời kì áp dụng chính sách cộng sản
thời chiến, xu hớng hiện vật hoá nền nông nghiệp đợc duy trì và tăng lên
xu hớng kinh tế hóa bị kìm hãm. ý nghĩa và tác dụng cần có của thuế lơng
thực không thể phát huy đợc trong nền nông nghiệp tự cung tự cấp, vì số
nông sản tăng lên một mức độ nào đó nếu không có trao đổi thì nó mất tác
dụng kích thích. Do đó, thuế lơng thực là một bớc quá độ từ chế độ cộng
sản thời chiến đến chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình thờng về sản
phẩm.
Khác với chế độ giao nộp, trng thu dựa trên mệnh lệnh trong thời kì thực
hiện chính sách công sản thời chiến, cơ chế kinh tế hàng hoá cho phép đạt
đợc các mục tiêu sau:
a. Đáp ứng nhu cầu tiền mặt của sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Thông qua
trao đổi hàng hoá, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong công nghiệp,
khuyến khích sản xuất nông nghiệp vừa đi vào chuyên canh vừa phát triển
kinh doanh tổng hợp, nhờ đó các lực lợng sản xuất trong nông nghiệp đợc
khôi phục và phát triển.

đáng mong đợi. Học tập CNTB nhà nớc
(1)
. Và vì lợi ích của xã hội phải
phát triển chủ nghĩa t bản nhà nớc và tự do buôn bán để phát triển lực
lợng sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và để chống tệ quan liêu với điều
kiện là hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nớc, là sự củng cố khu vực kinh tế
nhà nớc có hiệu quả.
3. Khôi phục và tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp phù hợp với yêu cầu
của nông nghiệp
Khôi phục sản xuất nông nghiệp có hai yêu cầu quan trọng:
Một là, có đủ hàng hoá trao đổi với nông dân để kích thích nông nghiệp.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

16
Hai là, tập hợp lại giai cấp công nhân đang bị phân tán vì đói và thiếu việc
làm, củng cố kĩ thuật lao động, duy trì mức năng suất lao động cần thiết, để
phát huy vai trò của công nghiệp và giai cấp công nhân
Để thực hiện những yêu cầu đó phải sắp xếp, lựa chọn lại những ngành công
nghiệp phục vụ thiết thực cho xã hội, đặc biệt là chú ý phát triển tiểu thủ
công nghiệp, là thứ công nghiệp mà ta có thể dễ dàng tìm đợc nguyên vật
liệu để sản xuất.
Nhìn một cách tổng quát, quá trình khôi phục sản xuất công nghiệp có
những đặc điểm có tính quy luật:
- Một là, khôi phục công nghiệp trên cơ sở kĩ thuật cũ.
Trong điều kiện khó khăn bây giờ, đấy là một tất yếu về hai phơng diện
kinh tế và xã hội.
- Hai là, phạm vi khôi phục sản xuất công nghiệp cân đối với nguồn tài

lý bằng chỉ thị trớc đây đợc thay bằng sự kết hợp tối u, phơng pháp
hành chính với phơng pháp kinh tế. Sự chuyển biến trong quản lý công
nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Quá độ sang hoạch toán kinh tế. Các xí nghiệp hoạch toán kinh tế đợc
quyền tổ chức cung ứng, quyuền tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trờng.
Muốn chuyển sang hoạch toán kinh tế, không những phải đảm bảo quyền tự
chủ của xí nghiệp về sản xuất mà còn thực thực hiện quyền tự chủ tài chính,
nhất là phân phối lợi nhuận và tiền lơng. Việc thực hiện quyền tự chủ về
sản xuất tài chính phụ thuộc vào chính sách giá cả mà vấn đề then chốt là
quan hệ tỷ giá hàng công nghiệp so với hàng nông sản. Chính sách điều tiết
giá cả theo hai hớng: Các xí nghiệp thơng nghiệp quốc doanh và hợp tác
xã giảm giá hàng bán cho nông thôn đồng thời nhà nớc tăng giá mua đáng
kể những nông sản quan trọng nhất. Thực hiện nhiều biện pháp để giảm giá
bán công nghiệp. Bằng các cuộc vận động củng cố kĩ thuật lao động, tiết
kiệm nguyên liệu vật t, chống lại cách làm ăn kinh tế đã làm tăng năng suất
lao động. Kết quả là lợi nhuận của công nghiệp quốc doanh tăng lên hơn 4
lần.
Nhờ chính sách giá cả tích cực, nhà nớc dành đợc thị trờng nông thôn.
trong năm 1924, đã thiết lập đợc tơng quan giá trị giữa hai ngành công
nghiệp và nông nghiệp, bảo đảm cho hai ngành phát triển ổn định, với nhịp
độ khá cao.
+ Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô trong công nghiệp.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

18
Khi các xí nghiệp quá độ sang hoạch toán kinh tế, sử dụng ngày càng rộng
rãi quan hệ hàng hoá tiền tệ thì vấn đề đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô đặt ra

19
Ngời vạch rõ nhiệm cụ của bộ máy quản lý kinh tế: chúng ta phải học tập
những quan hệ buôn bán trên phạm vi cả nớc, đó là một nhiệm vụ khó
khăn, nhng quyết không phải là không thể làm đợc.
Phơng hớng quản lý lu thông là: căn cứ vào thị trờng hiện có tính toán
đến các quy luật của nó, chiếm lĩnh thị trờng và bằng những biện pháp kinh
tế thơng xuyên có cân nhắc và đợc xây dựng trên sự kiểm kê chính xác
quá trình của thị trờng mà nắm vững việc điều tiết thị trờng và lu thông
tiền tệ.
Nội thơng trở thành mắt xích đặt biệt cần nắm vững trong dây truyền quản
lý, điều tiết hoạt động của kinh tế. Thơng nghiệp trở thành mắt xích trong
triển khai NEP vì: Mục đích cao nhất của NEP là thiết lập liên minh kinh tế.
Vì thế thơng nghiệp là mối liên hệ kinh tế duy nhất, là điều kiện tái sản
xuất; hơn nữa không có hoạt động thơng nghiệp thì không thể sử dụng các
hình thức quá độ trong sản xuất và lu thông.
Một trong nhữn vấn đề quan trọng nhất của NEP là phải chiếm các vị chí chỉ
huy trong thơng nghiệp khi triển khai quá trình lu chuyển hàng hoá, đồng
thời hớng quá trình lu thông đó đi thẳng tới nhu cầu của nông thôn và
thành thị. Để nắm chắc các vị trí thơng nghiệp và làm chủ thị trờng, nhà
nớc chú ý đặc biệt đến củng cố mối liên hệ chặt chẽ giữa công nghiệp quốc
doanh với thơng nghiệp quốc doanh và thơng nghiệp tập thể để nắm quỹ
hàng hoá công nghiệp dùng làm phơng tiện điều tiết thị trờng. Nhà nớc
sử dụng nhiều hình thức thơng nghiệp với một cơ cấu thơng nghiệp đảm
bảo vai trò của thơng nghiệp Nhà nớc, đấu tranh bằng cạnh tranh với t
bản thơng nghiệp.
Trong suốt quá trình khôi phục kinh tế, thơng nghiệp XHCN ngày càng thể
hiện đầy đủ vai trò của chiếc cầu nối nông nghiệp với công nghiệp. Cũng
trong quá trình tổ chức lu thông hàng hoá theo NEP, Nhà nớc Xô Viết đã
nắm vững tính quy luật liện kết giữa thơng nghiệp với tài chính và ngân
hàng nh một chỉnh thể. Việc đây mạnh chu chuyển nội thơng làm cho nhu

sau:
- Vai trò của chính sách tài chính có ý nghĩa quyết định thắng lợi của công
cuộc cải tạo và xây dựng trong thời kì quá độ.
- Chính sách tài chính phải thống nhất, đợc quy định rõ ràng và các quy tắc
phải đợc chấp hành từ trên xuống dới. Quan điểm về tập trung tài chính,
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

21
không mâu thuẫn với yêu cầu phát huy chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong
hoạt hoạt động thực tiễn.
- Hoạch toán kinh tế và kinh doanh theo nguyên tắc xí nghiệp hoàn toàn chịu
trách nhiệm về mặt tài chính đối với kết quả hoạt động kinh tế của mình.
- Nguyên tắc cân đối ngân sách, công tác tài chính gắn với công tác ngân
hàng và thơng nghiệp.
Vận dụng các quan điểm đó vào việc giải quyết những khó khăn về tài
chính, cụ thể là làm thế nào để tăng thu, giảm chi bằng những biện phát cụ
thể thuộc lĩnh vực tài chính trong cuộc khủng hoảng tài chính.
Để giảm chi, chính quyền Xô Viết đã thực hiện mấy biện pháp chủ yếu:
giảm biên chế nhà nớc, thi hành những quy định về các khoản chi tiêu ở
mức tối thiểu, không cấp ngân sách cho các xí nghiệp.
Để tăng thu, các cơ sở kinh tế nhà nớc chuyển sang hoạch toán kinh tế phải
tích nộp lợi nhuận và khấu hao cho ngân sách, xây dựng lại hệ thống thuế
(thuế công thơng nghiệp, thuế thu nhập, thuế tài sản, thực hiện cải cách
thuế đối với nông nghiệp, thi hành chế độ trả tiền đối với tất cả các loại hình
dịch vụ...), phát hành công trái và tín phiếu.
* ổn định tiền tệ.
Trong hệ thống các biện pháp để giải quyết cuộc khủng hoảng, từ thuế lơng

kinh tế đợc đảm bảo bằng hàng hoá và vàng.
- Bớc ba: hoàn thành cải cách tiền tệ
Nhà nớc ban hành đạo luật phát hành giấy bạc mới. Củng cố và phát triển
hệ thống ngân hàng. Mở rộng hệ thống tín dụng băng cách thành lập các
ngân hàng khác. Ngân hàng công thơng nghiệp, ngân hàng chuyên nghiệp
và năng lợng, ngân hàng trung tâm của sự nghiệp công cộng và xây dựng
nhà ở. Bên cạnh hệ thống ngân hàng là một hệ thống hợp tác xã tín dụng
rộng khắp ở nông thôn.
Thắng lợi vững chắc của cuộc cải cách tiền tệ đã góp phần quan trọng thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của NEP. Trong đó thắng lợi cơ bản nhất là
ổn định đời sống nhân dân, củng cố liên minh công nông, điều chỉnh lại
phân phối thu nhập quốc dân.
Thời kì 1921 đến 1924 là sự thử thách lớn, gay go đối với chính quyền Xô
Viết trẻ tuổi. Thắng lợi của NEP trong thời kì này biểu hiện khá đầy đủ sức
sống của nhà nớc xã hội chủ nghĩa.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

23
C. ý nghĩa của NEP và bài học thành công
Chính sách kinh tế mới NEP có ý nghĩa cực kì quan trọng. Trớc hết nó khôi
phục đợc nền kinh tế Xô Viết sau chiến tranh. Chỉ trong một thời gian ngắn
đã tạo ra một bớc phát triển quan trọng biết một nớc Nga bị tàn phá năng
lề sau chiến tranh trở thành một đất nớc có nguồn lơng thực dồi dào. Từ
đó, nó khắc phục khủng hoảng chính trị, củng cố lòng tin của nhân dân vào
sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của CNXH theo nguyên lý mà Lênin
đã vạch ra.
Chính sách kinh tế mới của Lênin còn đánh dấu một bớc phát triển mới về

cố nhà nớc trẻ tuổi cha có cơ sở kinh tế xã hội vững vàng. Đồng thời, xây
dựng động lực cách mạng trong giai đoạn mới, biến công cuộc xây dựng
CNXH thành sự nghiệp của quân chúng. Điều kiện đầu tiên để khởi động
phong trào quần chúng là phải ổn định, cải thiện ít nhiều đời sống quần
chúng vốn rất thấp và đã chịu thiếu thốn nhiều năm trong chiến tranh. Để
liên minh công nông về mặt kinh tế đáp ứng đợc yêu cầu xây dựng cớ sở
kinh tế bớc đầu của CNXH và tạo đọc động lực cho quá trình ấy thì phải
bắt đầu từ nông nghiệp và nông thôn.
Thứ hai, là con đờng từ nền kinh tế nhiều thành phần đến nền kinh tế
XHCN
Đặc điểm kinh tế chủ yếu trong thời kì quá độ là tính chất nhiều thành phần
của nền kinh tế có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần,
những bộ phận, những mảnh của CNTB lẫn vào CNXH.
(1)

chỉ trong một thời gian ngắn của mấy năm đầu thập kỉ 20, trong nền kinh tế
Xô Viết đã diễn ra hai quá trình chuyển biến kinh tế cơ bản. Quá trình thứ
nhất, chuyển thành phần kinh tế XHCN sang quỹ đạo NEP. Đây là đòi hỏi
của quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lợng
sản xuất. Trớc hết là phải đảm bảo những cân đối nhất định về tài chính,
nguyên liệu và nhiên liệu. Muốn vậy, phải kiên quyết tổ chức lại sản xuất
khu vực kinh tế XHCN lựa chọn những đơn vị cần thiết nhất có đủ điều kiện
sản xuất và quản lý để tập trung đầu t, sớm phát huy vai trò của chúng
trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tiếp theo, phải chuyển các cơ sở kinh tế
XHCN sang hoạch toán kinh tế, tạo điều kiện cho cúng hoạt động theo yêu
cầu mới bằng cách: phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh của cơ sở,
đổi mới nội dung và hình thức quản lý kinh tế Nhà nớc.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
h


i
in
n
h
h
â
â
p
pv
v
à
à
o
on
n


n

h
ế
ếg
g
i
i


i
i.
Sau khi Việt Nam hoàn toàn đợc giải phóng (sau 30/4/1975), nớc Cộng
Hoà Xã Hội CHủ Nghĩa Việt Nam non trẻ với vô vàn những khó khăn trong
quá trình xây dựng và phát triển đất nớc. Tuy nhiên chúng ta có những
thuận lợi cơ bản. Đặc biệt là cuộc đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI đã khởi xớng và đạt đợc những thành tựu bớc đầu quan trọng trong
việc phát triển một nền kinh tế vững mạnh theo định hớng XHCN. Và qua
đây đã khẳng định đợc con đờng chúng ta đang đi là đúng đắn.
Những thành tựu bớc đầu chúng ta đạt đợc sau 10 năm thực hiện đờng lối
đổi mới cho phép rút ra kết luận rằng: vị trí của Việt Nam trong quan hệ
chính trị kinh tế tuỳ thuộc rất nhiều vào viêc chúng ta có những chính
sách, biện pháp kịp thời và đúng đắn đến đâu, để kết hợp các nguồn lực
trong nớc với các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho việc tăng trởng, phát
triển kinh tế xã hội. Để chúng ta có một chỗ đứng trong nền kinh tế thế giới.
Nếu chỉ nhìn về mặt kinh tế đơn thuần, có thể nói rằng Việt Nam cha có
một vị trí đáng kể trong nền kinh tế quốc tế. Nếu nhìn trên quan điểm phát
triển thì Việt Nam đã bớc đầu tạo cho mình một vị trí quan trọng nhất định
trong quan hệ kinh tế chính trị quốc tế. Kết quả đó không tách rời việc thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status