MỤC LỤC
MỞ BÀI
Trong thời đại kinh tế mở hiện nay, có nhiều vẫn đề đặt ra buộc phải có
A.
những biện pháp thực tế nếu không sẽ để lại hệ quả nặng nề cho nền kinh tế.
Một trong những vấn đề đó là thất nghiệp. Vậy trên góc nhìn kinh tế học, thất
nghiệp là gì? Thất nghiệp có những loại nào? Tình trạng thất nghiệp của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay thế nào? Để hiểu rõ hơn về vấn đề đó, em xin
trình bày đề tài : “vấn đề thất nghiệp – Lí thuyết và thực tiễn ở Việt Nam hiện
nay”.
B.
NỘI DUNG
I. Những vấn đề cơ bản về thất nghiệp
1
1. Thất nghiệp là gì?
- Theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế ILO: thất nghiệp là tình
trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng
không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động,
không có việc làm và có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
2. Các loại thất nghiệp:
Để phân loại thất nghiệp người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau
ví dụ như phân loại theo độ tuổi, giới tính, khu vực….Tuy nhiên cách phân loại
thường được sử dụng nhất trong kinh tế vĩ mô là phân loại theo nguồn gốc
(nguyên nhân) và theo tính chất ( tự nguyện và không tự nguyện) của thất
thất nghiệp này cần có những thông tin đầy đủ hơn về thị trường lao động.
- Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự mất cân đối giữa
nhu cầu sử dụng lao động và cơ cấu của lực lượng lao động. hay nói cách khác
là lượng cung lao động vượt lượng cầu về lao động. Các nguyên nhân dẫn đến
cung lao động vượt cầu lao động: do thay đổi cơ cấu kinh tế, do lao động được
đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động, do luật tiền lương tối
thiểu.
Trên thị trường lao động, tiền lương làm cho cung và cầu về lao động bằng
nhau tại Wr0. Tại mức lương cân bằng đó, cả lượng cung và lượng cầu về lao
động đều bằng L0. ngược lại, nếu tiền lương buộc phải duy trì ở mức cao hơn
tiền lương cân bằng, có thể do luật tiền lương tối thiểu, lượng cung về lao động
tăng lên LS và lượng cầu về lao động giảm xuống LD mức thặng dư về lao động
LS - LD chính là số người thất nghiệp.
Chúng ta cần lưu ý thất nghiệp tạm thời nảy sinh từ tiền lương cao hơn mức
cân bằng khác với thất nghiệp tạm thời nảy sinh từ quá trình tìm kiếm việc làm.
Nhu cầu tìm việc làm không phải là do thất bại của tiền lương trong việc làm
cân bằng cung cầu về lao động gây ra. Khi sự tìm việc là lý do giải thích cho
thất nghiệp, công nhân đang tìm việc làm thích hợp nhất với sở thích và kỹ năng
của họ. Ngược lại, khi tiền lương cao hơn mức cân bằng, lượng cung về lao
động vượt lượng cầu về lao động và công nhân bị thất nghiệp vì họ đang chờ
việc làm mới.
3
- Thất nghiệp chu kỳ hay còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu: Đây là loại
thất nghiệp phát sinh khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái do tổng cầu
quá thấp. Để giảm loại thất nghiệp này chính phủ cần sử dụng chính sách tài
khoá và tiền tệ mở rộng, nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế trở về mức toàn
dụng.
Phân loại theo tính chất thất nghiệp được chia thành những loại sau:
vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân
tố cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là
nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn
tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách vị thu hẹp do thất
thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên
cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến ( bờ vực) của lạm phát.
Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và
lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường- Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát
cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố
kích thích phát triển kinh tế – xã hội.
Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.
Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập.
Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ se khó khăn. Điều đó
ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị
trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ
giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp
“đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn
họ đến những sai phạm đáng tiếc…
Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.
Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công,
biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội
cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ
của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có
những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.
5
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội khó khăn và nan giải của quốc
gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội.
thành thị. Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành
thị là 3,6% và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn
6
là 3,56%. Đây là một trong những nét đặc thù của thị trường lao động nước ta
trong nhiều năm gần đây.
Năm 2011, cứ 1000 người đang làm việc ở khu vực nông thôn thì có 36
người thiếu việc làm; tỷ lệ thiếu việc làm của lao động nông thôn cao gấp hơn
2,2 lần khu vực thành thị, trong khi có sự chênh lệch không đáng kể về mức độ
thiếu việc giữa nam và nữ ở khu vực nông thôn của các vùng kinh tế- xã hội.
Trong 6 tháng đầu năm 2011, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả
nước ước tính đạt 50,4 triệu người, tăng 33,2 nghìn người so với lực lượng lao
động trung bình năm 2010, trong đó nam 26 triệu người, tăng 72,4 nghìn người;
nữ 24,4 triệu người, giảm 39,2 nghìn người.
Tỷ lệ thất ngiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm ước tính
2,58% ( năm 2010 là 4,1%), trong đó khu vực thành thị 3,96%; khu vực nông
thôn 2,02%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính 3,9%,
trong đó khu vực thành thị 2,15% và khu vực nông thôn 4,6%.
c.
Tình hình thất nghiệp năm 2012
Theo báo cáo kết quả điều tra Lao động việc làm năm 2012 của Tổng cục
Thống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố chiều 18/12 cho thấy tỉ lệ
thất nghiệp 9 tháng năm 2012 là 2,17%, tỷ lệ thiếu việc làm là 2,98%. Trong khi
cùng kỳ năm 2011, 2 con số này lần lượt là 2,18% và 3,15%.
Về con số cụ thể, thống kê cho thấy cả nước hiện có 984.000 người thất
nghiệp và 1,36 triệu người thiếu việc làm. Trong đó, người thiếu việc làm ở
nông thôn là 1,1 triệu người, cao hơn rất nhiều so với thành thị (246.000 người).
Số người thất nghiệp ở khu vực thành thị là 494.000, khu vực nông thôn là
53,7%; nữ chiếm 46,3%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các
ngành kinh tế chín tháng năm 2013 ước tính 52,4 triệu người, tăng 0,5% so với
cùng kỳ năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chín tháng năm
nay của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng số, không biến
động nhiều so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,7%,
giảm 0,5 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 31,9%, tăng 0,5 điểm phần
trăm.
Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang
làm việc chín tháng năm 2013 ước tính 33,7%, trong đó khu vực thành thị là
47,1%; khu vực nông thôn là 28%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi
chín tháng năm 2013 ước tính là 2,22%, trong đó khu vực thành thị là 3,67%,
khu vực nông thôn là 1,56% (Số liệu của chín tháng năm 2012 tương ứng là:
8
2,06%; 3,31%; 1,48%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi chín
tháng năm 2013 ước tính là 2,66%, trong đó khu vực thành thị là 1,50%, khu
vực nông thôn là 3,18% (Số liệu của chín tháng năm 2012 tương ứng là: 2,75%;
1,46%; 3,33%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 chín tháng
năm 2013 ước tính là 5,97%, trong đó khu vực thành thị là 10,79%, tăng 1,27
điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 4,49%, tăng
0,05 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên chín tháng
năm 2013 ước tính là 1,29%, trong đó khu vực thành thị là 2,45%, khu vực nông
thôn là 0,77%. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản xuất
vẫn gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động.
e.
Tình hình thất nghiệp năm 2014
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến thời điểm trên là
47,75 triệu người, tăng 333,7 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014,
Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15 - 24 tuổi) năm 2014 là 6,3%, cao
hơn mức 6,17% của năm 2013; khu vực thành thị là 11,49%, cao hơn mức
11,12% của năm trước; khu vực nông thôn là 4,63%, xấp xỉ 2013.
f.
Tình hình thất nghiệp năm 2015
Theo thông tin từ Tổng cục thống kê cho biết, tỷ lệ thất nghiệp của lao
động trong độ tuổi năm 2015 của cả nước là 2,31% (năm 2013 là 2,18%; năm
2014 là 2,10%). Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,29% (năm
2013 là 3,59%; năm 2014 là 3,40%); khu vực nông thôn là 1,83% (năm 2013 là
1,54%; năm 2014 là 1,49%).
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm dần theo quý (quý I là
2,43%; quý II là 2,42%; quý III là 2,35%; quý IV là 2,12%) và giảm chủ yếu ở
khu vực thành thị (quý I là 3,43%; quý II là 3,53%; quý III là 3,38%, quý IV là
2,91%).
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2015 là 6,85% (năm
2013 là 6,17%; năm 2014 là 6,26%), trong đó khu vực thành thị là 11,20% (năm
2013 là 11,12%; năm 2014 là 11,06%); khu vực nông thôn là 5,20% (Năm 2013
là 4,62%; năm 2014 là 4,63%).
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2015 là 1,27% (năm
2013 là 1,21%; năm 2014 là 1,15%), trong đó khu vực thành thị là 1,83% (năm
10
2013 là 2,29%; năm 2014 là 2,08%); khu vực nông thôn là 0,99% (năm 2013 là
0,72%; năm 2014 là 0,71%).
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2015 là
1,82% (năm 2013 là 2,75%; năm 2014 là 2,40%), trong đó khu vực thành thị là
0,82% (năm 2013 là 1,48%; năm 2014 là 1,20%); khu vực nông thôn là 2,32%
(năm 2013 là 3,31%; năm 2014 là 2,96%).
cách khác biệt về tỉ lệ này giữa khu vực thành thị và nông thôn là khá cao
(20,4% và 8,6%). Ngoài ra, thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình
kém, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng
máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế. Công tác chăm sóc sức khỏe và an
toàn nghề nghiệp chưa tốt; bên cạnh đó, kỷ luật lao động còn kém so với nhiều
quốc gia trong khu vực. Một bộ phận lớn người lao động hiện nay chưa được tập
huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, tùy tiện về giờ giấc và hành vi. Người lao
động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, thiếu khả
năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh
nghiệm làm việc.
Ba là, năng suất, hiệu quả lao động trong các ngành kinh tê thấp và có sự
khác biệt đáng kể giữa khu vực nông nghiệp với khu vực công nghiệp và khu
vực dịch vụ.
Bốn là, tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ vẫn thường
xuyên xảy ra. Thị trường lao động nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố
lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, nơi có nhiều KCX-KCN, như: Long An, TP
HCM, Bình Dương, Đồng Nai… Ngược lại một số tỉnh như Bạc Liêu, Ninh
Thuận, Thanh Hóa, Nghệ An lại có tình trạng dư cung, đang phải đối mặt với tỉ
lệ thất nghiệp cao.
Năm là, mặc dù đã tiên hành 2 đợt cải cách tiền lương (năm 1993 và
2004), bước đầu tách bạch tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực
hành chính sự nghiệp, tạo điều kiện đổi mới chính sách tiền lương khu vực sản
xuất kinh doanh theo định hướng thị trường nhưng mức tiền lương tối thiểu thấp
chưa được tính đúng, tính đủ cho mức sống tối thiểu và chỉ đáp ứng được 70%
nhu cầu cơ bản của người lao động, thấp hơn mức lương tối thiểu thực tế trên thị
trường khoảng 20% và hiện nay mới đạt khoảng 45% mức tiền lương tối thiểu
trung bình của khu vực ASEAN.
Sáu là, công tác quản ly nhà nước về lao động - việc làm còn nhiều hạn
chê, các chính sách, pháp luật đang từng bước hoàn thiện, hệ thống thông tin thị
trường lao động còn sơ khai thiếu đồng bộ. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp hết
sách ưu đãi cho khu vực doanh nghiệp này trước hết là nhằm kích thích sản
xuất, từ đó tạo ra việc làm. Bên cạnh đó, kích cầu bằng việc đầu tư vào phát
triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đang được đánh giá là giải pháp tối ưu hơn cả.
Đây cũng là giải pháp mà các quốc gia đã từng áp dụng trước đây. Việc đẩy
nhanh tiến độ các công trình đang thi công và làm mới, cải tạo, nâng cấp các
13
công trình đã xuống cấp trên phạm vi rộng không chỉ giải quyết bài toán yếu
kém về cơ sở hạ tầng của nước ta như “phàn nàn” của nhiều nhà đầu tư nước
ngoài, mà hơn thế là sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, giải quyết vấn
đề lao động dôi dư do mất việc làm từ ảnh hưởng của suy thoái. Một khi vấn đề
yếu kém của cơ sở hạ tầng được giải quyết, cộng hưởng các chính sách kinh tế
vĩ mô khác thì việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài sẽ trở nên khả quan hơn khi
nền kinh tế thế giới hồi phục trở lại.
c. Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc.
Lao động bị mất việc cũng có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã
hội. Trước tình hình lao động của quý I/2009, Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam đã đưa ra ba giải pháp chủ yếu để hỗ trợ lao động mất việc làm.
Thứ nhất, Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao
động sớm tìm được việc làm mới. Hiện nay Tổng liên đoàn có hệ thống trung
tâm giới thiệu việc làm (31 trung tâm). Theo báo cáo của Tổng liên đoàn lao
động các tỉnh, thành thì đã có 80% lao động mất việc tìm được việc làm trở lại.
Tổng liên đoàn lao động cũng chỉ đạo các sang cả các doanh nghiệp các tỉnh lân
cận.
Thứ hai, các trường dạy nghề của tổ chức công đoàn có nhiệm vụ nâng cao
tay nghề cho người lao động hoặc thu hút người lao động vào học nghề, tranh
thủ lúc không có việc. Bên cạnh việc giải quyết việc làm thì đầu tư cho công tác
dạy nghề cũng là biện pháp kích cầu không kém phần quan trọng. Trong bối
cảnh lực lượng lao động mất việc làm tăng nhanh như hiện nay, hằng năm chúng
/> /> />ItemID=178
/>15