TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
SINH VIÊN: PHẠM XUÂN TRANG
TÊN ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN (KHOÁ LUẬN)
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI HUYỆN
MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã ngành:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Tên thành phố- Năm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng
Tác giả đồ án
năm 20...
: Tiến bộ kỹ thuật
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
USD
: Đô la Mỹ
TS
: Tiến sĩ
GRDP
: Tổng sản phẩm trên thị trường
HH
: Hàng hóa
VA
: Tăng trưởng giá trị gia tăng
CN-XD
: Công nghiệp xây dựng
NSTĐ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thay thế của sản xuất nông nghiệp nên việc sử dụng đất hợp lý, tiết
kiệm và có hiệu quả là rất quan trọng. Từ Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, Việt Nam đã thu được những thành quả to lớn trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, chuyển Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu
lương thực sang xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Nền
nông nghiệp nước ta từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang sản
xuất hàng hóa với sự tham gia nhiều hơn của máy móc và các tiến bộ khoa
học kỹ thuật trong quá trình sản xuất. Nông nghiệp có sự tăng trưởng nhanh,
sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, tiềm năng đất nông nghiệp dần
được khai thác.
Trong những năm qua, Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH đất
nước và đã thu được những thành quả to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy
nhiên, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số đã gây áp lực
mạnh mẽ đến sử dụng đất. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông
nghiệp sang các loại đất phi nông nghiệp đã làm cho diện tích đất nông nghiệp
- Xác định và đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất chính
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
`9
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất
1.1.
1.1.1. Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
a. Đất nông nghiệp
• Khái niệm đất sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, theo điều chỉnh của luật đất đai thì nông nghiệp bao gồm cả đất
nông nghiệp, do đó cần phân biệt rõ khái niệm đất nông nghiệp với đất sản
-
xuất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp : là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lầm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, và mục đích bảo vệ,
-
phát triển ( theo Luật đất đai năm 2003).
Đất sản xuất nông nghiệp : là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các
ngành như trồng trọt, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng đất nghiên cứu thí
nghiệm về nông nghiệp. Ngoài tên gọi đất sản xuất nông nghiệp, đất sử dụng
rừng, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do
các hoạt động của con người.
Theo Điều 13 Luật đất đai Việt Nam năm 2003 thì đất tự nhiên được chia
thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp,
nhóm đất chưa sử dụng. Trong đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản
xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất trồng
rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác.
b. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất là hết sức cần
thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại đất, vùng
đất để trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất. Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông
nghiệp có thể chia thành 3 nhóm:
* Yếu tố tự nhiên
Theo Vũ Ngọc Hùng (2002) thì yếu tố tự nhiên bao gồm điều kiện khí
hậu, đất trồng, cây trồng, môi trường sinh thái, nguồn nước. Chúng có ảnh
hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng
đất [3].
- Khí hậu
`11
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và
phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ,
không khí, nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và
độ ẩm không khí là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một trong
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây
trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ
độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét
Cây trồng là yếu tố trung tâm trong quá trình sản xuất nông nghiệp và sử
dụng đất nông nghiệp. Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây
trồng. Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu
thiết yếu cho con người và cho các hoạt động trao đổi hàng hóa, xuất khẩu.
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất sẽ đem lại
những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và tạo ra sự bền vững
cho môi trường đất. Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng
đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng
xấu đến đất.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học,
kỹ thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người
nông dân ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng
và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp
phần tạo tiền đề mạnh mẽ cho quá trình sản xuất hàng hóa trong sản xuất
nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ
số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho một đơn vị diện tích đất.
* Yếu tố kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người
Con người là chủ thể của quá trình lao động, là nhân tố tác động trực
`13
tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Con người với bàn tay và khối óc của mình có
thể tạo ra những phương thức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả.
Theo thông tin của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra
trong định hướng phát triển Nông nghiệp Việt Nam: Khi dân số còn thấp,
trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn
chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia
tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để
triệu tấn gạo hàng hoá đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Nền nông
nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp
hàng hóa đa dạng, hướng ra xuất khẩu.
Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín
dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo,
khuyến nông... thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông
nghiệp của những người nông dân.
Theo Đặng Kim Sơn và cộng sự (2002) trong sản xuất nông nghiệp, đặc
biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá, người nông dân thường chịu thiệt thòi
do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường, sức mua [2]... Hơn
nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp cũng làm cho sản
xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc
trừ cỏ... có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất.
Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp
đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo
tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Hiến pháp, pháp luật công
nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được
`15
quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất.
Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó
làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp
một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng,
từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để
hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá
trị hàng hoá cao.
- Tận dụng các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ
thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá
cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu.
- Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn
hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện
thâm canh toàn diện và liên tục.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa
dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây
trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và
bảo vệ môi trường.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với
định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
d. Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Khi con người chuyển từ cuộc sống hái lượm, sử dụng thức ăn có sẵn
trong tự nhiên sang cuộc sống biết trồng trọt thì con người đã bắt đầu biết sản
xuất, sử dụng đất. Thời buổi ban đầu việc trồng trọt chỉ mang tính tự cung, tự
cấp và đáp ứng được các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của con người. Sau này,
cùng với sự bùng nổ về dân số và phát triển của xã hội, nền sản xuất cũ không
còn thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng. Từ đó đặt ra một nền sản xuất mới và
`17
nền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp đã hình thành.
Theo học thuyết của Các Mác, hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra
không phải để cho người sản xuất tiêu dùng mà nó được sản xuất ra để bán.
Hàng hoá được bán ở thị trường. Như vậy, sản xuất hàng hóa là sản xuất ra
sản phẩm để bán. Đó là hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội trong đó mối
quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua thị trường qua việc
mua bán sản phẩm lao động của nhau. Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức
hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng
nông dân phải năng động và biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao
chất lượng các sản phẩm nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu xã hội. Khi có
sản xuất hàng hóa, quá trình xã hội hóa sản xuất nhanh chóng được thúc đẩy
làm cho sự phân công chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hóa
chặt chẽ, hình thành các mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, hình thành thị
trường trong nước và thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản
xuất, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng và tiến bộ xã hội. Vì vậy, sản
xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá mang lại rất nhiều lợi ích.
Ngày nay khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO thì vấn
đề sản xuất hàng hóa càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Hai mươi năm nay, hàng nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi
nhiều nước, nhiều mặt hàng nằm trong tốp đứng đầu thế giới như: gạo trung
bình mỗi năm xuất khẩu 4,5-5 triệu tấn; cà phê 6 nghìn tấn; hồ tiêu 110 nghìn
tấn; hạt điều chế biến 50 nghìn tấn...
Theo TS. Nguyễn Quốc Vọng, kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm
1995 của Việt Nam là 1,3 tỉ USD, năm 2005 đạt 5,7 tỉ USD. So với Thái Lan,
Malaixia, Philipin - các nước có tiềm năng tương tự Việt Nam, đã đạt và vượt
mức này từ lâu. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới là 15 tỉ
USD, xấp xỉ bằng của Mailaixia năm 1986, điều này cho thấy nước ta còn rất
`19
nhiều tiềm năng về khai thác nông sản chưa được khai thác và cũng cho thấy
việc sản xuất hàng hóa ở nước ta còn yếu so với các nước trong khu vực [14].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Định hướng
phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn là công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh
chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp
hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái trên
từng vùng”. Định hướng phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng cũng thể
mới quá khứ và hiện tại của Nguyễn Văn Bích (2007) [1];
- Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không
thể tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác. Một
nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm
lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc
“Khi sản xuất có hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên
giới hạn khả năng sản xuất”.
Ta có thể thấy bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất
và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng ngày càng cao về nhu cầu đời sống vật
chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội. Cho nên mỗi cá nhân và tổ
chức đều phải có bổn phận nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Hiện nay, khi nói đến hiệu quả sử dụng đất nói chung và sử dụng đất
nông nghiệp nói riêng, chúng ta thường đề cập đến 3 khía cạnh là kinh tế, xã
hội và môi trường. Sử dụng đất có hiệu quả là đảm bảo được cả 3 yếu tố đó.
a. Phân loại hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là hiệu quả do tổ chức và bố trí sản
xuất hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn, là tiêu chí được
quan tâm hàng đầu, khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác. Có khả
năng lượng hoá bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính.
`21
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu
quả kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và
giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông
nghiệp. Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả hay hiệu quả phân bổ mới
có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ
khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả
phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả xã hội: Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con
b. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đưa ra có ba tiêu chuẩn đánh
giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về
mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội, nghĩa là định hướng sự thay đổi
về kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu
của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau [20]. Đối với sử dụng đất
nông nghiệp, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cụ thể như sau:
- Mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt
ra. Cụ thể là tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản
phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và
tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp
bền vững.
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và
theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định.
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến
những người sống bằng nông nghiệp. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất
phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững.
c. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
`23
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng
đất nông nghiệp.
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp:
1
và 1 là chỉ số về thời gian
Tùy vào các hệ thống tính toán khác nhau mà các chỉ tiêu kết quả và
hiệu quả sẽ khác nhau. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đất nông
nghiệp có những sự khác nhau tùy vào từng hệ thống kinh tế.
•
Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp gồm:
+ Giá trị sản xuất (GTSX)
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một
thời kỳ nhất định, thường là 1 năm. GTSX chính là giá trị sản lượng trên một
đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
+ Chi phí trung gian (CPTG)
Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể
bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch
vụ sử dụng trong quá trình sản xuất.
+ Giá trị gia tăng (GTGT)
Giá trị gia tăng được tính theo công thức:
GTGT = GTSX - CPTG
Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất rất quan tâm đến GTGT, đặc
biệt trong các quyết định ngắn hạn. Nó là kết quả của việc đầu tư các chi phí vật
chất và lao động sống của từng hộ và khả năng quản lý của người chủ hộ.
Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động:
Hiệu quả kinh tế trên một ngày lao động thực chất là đánh giá kết quả
đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất hoặc từng cây trồng, làm cơ
sở để so sánh với chi phí cơ hội của từng lao động, bao gồm: GTSX/công LĐ