ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN AN GIANG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG
ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Hữu Liên
Thái Nguyên, năm 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Tĩnh, ngày
tháng
Tác giả
Nguyễn An Giang
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................................1
2. Mục tiêu tổng quát...............................................................................................2
3. Mục tiêu cụ thể ....................................................................................................2
4. Yêu cầu của đề tài...............................................................................................2
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..............................................................3
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp và tình hình sử dụng đất nông
nghiệp trên thế giới và Việt Nam ............................................................................3
1.1.1.Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp................................................3
1.1.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam ..................6
1.2. Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp...............9
1.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ..................9
1.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp ......9
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất ........................................12
1.2.4. Quan điểm sử dụng đất bền vững ............................................................15
1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO .....19
1.4. Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt
Nam .......................................................................................................................20
1.4.1Những nghiên cứu trên thế giới. ................................................................20
1.4.2 Những nghiên cứu trong nước ..................................................................21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU..........................................................................................................25
3.3. Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Can Lộc...................57
3.3.1.Cơ sở khoa học và thực tiễn của các đề xuất............................................57
3.3.2. Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng huyện Can Lộc ............58
3.4. Đề xuất một số giải pháp thực hiện ................................................................60
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ...........................................................................................63
1. Kết luận .............................................................................................................63
2. Kiến nghị ...........................................................................................................64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................65
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV
: Bảo vệ thực vật
BQ
: Bình quân
CPTG
: Chi phí trung gian
ĐVT
: Đơn vị tính
: Lao động
LUT
: Loại hình sử dụng đất
LUU
: Kiểu sử dụng đất
TNHH
: Thu nhập hỗn hợp
RRA
: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
PRA
: Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia.
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
trồng cây hàng năm ở Việt Nam ................................................................... 8
Bảng 3.1. Số liệu khí tượng thuỷ văn các tháng năm 2012 của huyện ..................... 29
Hình 2.1: Tiến trình các bước nghiên cứu thực hiện đề tài..............................27
Hình 3.1. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi các tháng trung
bình trong năm 2012 của huyện .......................................................29
Hình 3.2. Số ngày mưa và số giờ nắng các tháng trong năm...........................30
Hình 3.3. Cơ cấu kinh tế năm 2012 của huyện Can Lộc .................................35
Hình 3.4. Cơ cấu các loại đất năm 2010 huyện Can Lộc.................................39
Hình 3.5. Mối quan hệ hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của các
loại hình sử dụng đất.........................................................................57
Hình 3.6 Xây dựng mối quan hệ giữa 4 nhà ....................................................61
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đặc điểm nổi bật của vấn đề nông thôn và nông dân trong hơn mười năm qua
là sự đối diện với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa song hành với toàn cầu hóa
và thị trường hóa. Theo dự tính đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước
công nghiệp. Những gì các nước Âu Mỹ vượt qua trong hàng trăm năm, các nền
kinh tế Đông Á đi qua hàng chục năm, thì nay Việt Nam đang nếm trải gần như
cùng một lúc.
Những năm qua ở nước ta, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển sang
công nghiệp và đô thị đã diễn ra rất nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu
hẹp, và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh. Theo phương án quy hoạch sử dụng đất cả nước
đến năm 2010, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người sẽ giảm từ 0,113 ha
(năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010).
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người . Hầu
hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển
nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển
các ngành khác. Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có
tương lai.
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy sự phát
triển sản xuất nông nghiệp nâng cao mức thu nhập của người dân.
3. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp nhằm góp phần giúp người dân
lựa chọn loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện Can Lộc.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Can Lộc.
4. Yêu cầu của đề tài
- Thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
của huyện Can Lộc và các số liệu sơ cấp tại Vùng nghiên cứu. Các số liệu thu thập
chính xác, thống nhất và có hệ thống.
- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng
đất tại huyện Can Lộc.
- Đề ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế hộ nông dân, đề xuất
các biện pháp canh tác theo hướng bền vũng phù hợp với huyện
3
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp và tình hình sử dụng đất
nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.1.Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiêp
1.1.1.1 Đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con
người, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất. Tuy
trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới
được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng
vào mục đích nào là chính).
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích
sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy
sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông
nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông
nghiệp khác”.
1.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá
trình sản xuất nhưng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản xuất có tầm quan trọng
khác nhau. C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là
mẹ”. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch và pháp luật”, Luật đất đai 2003 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh và quốc phòng”. Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu
sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp,
bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất.
Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác
động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của
tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên. Điều này
5
đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm
1.1.1.3. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có nghĩa là
toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây
trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả của việc
sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính
toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử
dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất
phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội
trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu.
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền
vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có nghĩa là đất đai phải được
bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương
lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường. Vì vậy, các
phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường
đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản
xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và
hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
1.1.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.
Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không
giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng
thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự phát
triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm
là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường
các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều
nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành
cây bụi và cỏ dại.
Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác
thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương
thực thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình
8
quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt là một khu vực có dân số khá đông trên thế
giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh
tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia
ASEAN.
1.1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản
xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông
nghiệp. Theo kết quả kiểm đất đai năm 2007, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên
là 33.115.039,62 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 9.420.276,14 ha, dân
số là 85.154,9 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1106,25
m2/ người.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội
về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý
và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công
nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm
vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo
những tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến
động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thể
hiện ở bảng 1.1.
Bảng 1.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
2005
9.415,57
6.370,02
83.119,9
1.132,77
2006
9.436,16
6.348,15
84.155,8
1.121,27
2007
9.420,28
6.309,62
85.154,9
1.106,25
này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó
trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử
dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã
hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững.
1.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần
thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên
10
cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Các nhân tố
ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như dất đai, khí
hậu thời tiết, nước, sinh vật...có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì
đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối. Đánh giá đúng điều
kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư
thâm canh đúng.
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, ... quyết định
đến chất lượng đất và sử dụng đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất.
- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan
trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật
sinh trưởng và phát triển.
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là
yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi.
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh
sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp... sẽ quyết định
nông nghiệp.
* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố như chế độ xã hội, dân
số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách... các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ
đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất. Sau đây là một số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Trong các yếu tố cơ sở hạ
tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần
vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản
xuất. Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp
đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng. Trong đó thuỷ lợi và điện là
yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất
theo bề rộng và bề sâu. Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp
đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: Là cầu nối giữa người sản xuất
và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp
cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo.
12
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể
hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao
động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản
xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất. Do vậy, muốn nâng
cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học,
kỹ thuật là hết sức quan trọng.
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất,
chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính
sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư,
chính sách xoá đói giảm nghè. Các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến
đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các
nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn
của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi
trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp
dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đó là một
trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững.
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu
quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí
luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả
kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường.
* Hiệu quả kinh tế:
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy
luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo
các ngành sản xuất khác nhau. Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau,
Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết
kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt
động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội.
Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả
14
đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần
giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh
15
cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả
cộng đồng quốc tế.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu
dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó
gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường
sinh thái.
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả
trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không có
điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có
hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững.
1.2.4. Quan điểm sử dụng đất bền vững
1.2.4.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững.
Đất đai có những tác dụng to lớn đối với hệ sinh thái nói chung và với cuộc
sống của con người nói riêng. Theo E.R De Kimpe và B.P Warkentin (1998) thì đất
có 5 chức năng chính: một là duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hóa học,
hai là phân phối nước, ba là dự trữ và phân phối vật chất, bốn là tính đệm và năm là
phân phối năng lượng. Những chức năng này đảm bảo cho khả năng điều chỉnh sự
cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên trước những thay đổi. Tuy nhiên, các tác động
của con người đã làm cho hệ sinh thái biến đổi nhiều khi vượt quá khả năng điều
chỉnh của đất. Là một hệ sinh thái một phần do con người tạo ra nhằm mục đích
phục vụ con người nên hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động của con người
mạnh mẽ nhất. Con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động cả
vào khí quyển, nguồn nước để tạo ngày một nhiều hơn lương thực, thực phẩm và
hậu quả là đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng
ngày một xấu đi. Ngày nay những vùng đất đai màu mỡ đã giảm sức sản xuất một
cách rõ rệt và có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng, không những thế sự suy thoái đất
đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường...
nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội. Năm nguyên tắc trên
đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5
nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài
bộ phận hay sự bền vững có điều kiện. Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu
Thu và Nguyễn Khang (1998). Việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những
nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị
trường chấp nhận;
17
- Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai,
ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa
dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững
thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác
định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người. Đất đai trong sản xuất nông
nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của
đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy
giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh
hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật.
1.2.4.2 Khung đánh giá sử dụng đất bền vững
Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản lý đất
bền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các
công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với
các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng .