ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN NGUYÊN
PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN”
CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG
ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN VÙNG BIỂN
VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI–2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN NGUYÊN
PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN”
CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG
ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN VÙNG BIỂN
VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS ĐINH XUÂN LÝ
chưa hề gặp mặt, nhưng những tư tưởng, công trình nghiên cứu của họ đã có sự tác
động mạnh mẽ và sâu sắc tới tôi, tới quá trình nghiên cứu của tôi, giúp tôi có niềm
tin và động lực để hoàn thành công trình khoa học này.
5. Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè lời biết ơn sâu sắc
đã cổ vũ, khích lệ và ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện bản Luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 4
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................. 4
2. Tình hình nghiên cứu ..................................................................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................................ 11
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ..................................................................................... 11
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 11
NỘI DUNG ...................................................................................................................... 12
Chƣơng 1. PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” CỦA HỒ
CHÍ MINH....................................................................................................................... 12
1.1. Cơ sở hình thành và nội dung phƣơng châm “dĩ bất biến ứng vạn
biến” của Hồ Chí Minh................................................................................ 12
1.1.1. Cơ sở hình thành.........................................................................................12
1.1.2. Nội dung phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh .28
1.2. Giá trị chỉ đạo thực tiễn của phƣơng châm “dĩ bất biến ứng vạn
biến” đối với cách mạng Việt Nam (1945-1969) ..................................... 39
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................................. 46
Chƣơng 2. VẬN DỤNG PHƢƠNG CHÂM “DĨ BẤT BIẾN ỨNG
VẠN BIẾN” TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN Ở BIỂN
2. CNH-HĐH
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
3. COC
Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông (Code of Conduct)
4. DOC
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa
(Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea)
5. EU
Liên minh châu Âu
6. TPP
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(Trans Pacific Partnership Agreement)
7. UNCLOS
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
8. XHCN
Xã hội chủ nghĩa
động xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc, đòi hỏi phải quán triệt và vận dụng
sáng tạo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc
4
biệt quan trọng, đòi hỏi Đảng, trực tiếp là những người lãnh đạo cần phải có tầm
nhìn xa trông rộng, phải biết linh hoạt, mềm dẻo trong vận dụng phương châm “dĩ
bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bảo vệ vững chắc chủ quyền
biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Từ những lý do nêu trên cho thấy, việc nghiên
cứu đề tài: Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh và sự vận
dụng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển Việt Nam ở Biển Đông hiện nay,
được đặt ra một cách cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiên sâu sắc.
Là một người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí
Minh ở Trường Chính trị Tỉnh Bắc Giang và quá trình học cao học Hồ Chí Minh
học ở Khoa khoa học Chính trị, tôi đã tích lũy được một số kiến thức, tư liệu về tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và những tư liệu liên quan đến phương châm “dĩ bất
biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng tạo điều kiện thuận lợi để
tôi có thể hoàn thành luận văn này, đây là một trong những lý do để tôi lựa chọn chủ
đề này làm đề tài luận văn thạc sĩ.
Tóm lại, xuất phát từ tầm quan trọng nhiều mặt và tính thời sự của việc nghiên
cứu, vận dụng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong đấu tranh bảo vệ chủ
quyền quốc gia tại Biển Đông và cùng với lý do của bản thân nêu trên, tôi chọn đề
tài: Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong
đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển Việt Nam ở Biển Đông hiện nay, làm Luận văn
thạc sĩ, chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Những công trình liên quan đề tài
Liên quan đến đề tài luận văn đã có những công trình nghiên cứu được công
bố trong thời gian qua, với các nhóm nội dung như sau:
của Hồ Chí Minh.
- Trong cuốn Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc của GS. Song Thành, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội, 2009. Tại chương tổng luận: Hồ Chí Minh, tấm gương vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam, tác giả đã trình bày
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - hạt nhân của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Ở
đó, tiếp cận phương pháp Hồ Chí Minh theo hai hướng đó là: phương pháp biện
chứng Hồ Chí Minh và phương pháp cụ thể, các phương pháp được Hồ Chí Minh vận
dụng trong đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao…
6
Ngoài ra, còn có những bài viết khác về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, như:
- Lê Thị Huệ (Học viện chính trị khu vực IV): Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí
Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam - nhìn từ góc độ triết học. Trong bài viết tác giả đã tiếp cận “dĩ bất biến,
ứng vạn biến” dưới góc nhìn triết học, có thể hiểu là sự thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập giữa cái “bất biến” – “vạn biến. “Sự thống nhất” theo tư tưởng Hồ
Chí Minh ở đây chính là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” – đó là cái bất biến
mà Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã chọn. Bài viết cũng đã trình bày sự vận
động của tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.
- Trang thông tin điện tử tạp chí Văn hóa (8-4-2015): Phương châm “Dĩ bất
biến ứng vạn biến” với việc bảo vệ chủ quyền đất nước. Trong bài viết PGS,TS Bùi
Đình Phong đã chỉ ra cái “bất biến” là chiến lược, mục tiêu, lý tưởng, còn cái “vạn
biến” là con đường, cách làm, cách nhìn, cách xử lý, bước đi, nhịp độ. “Dĩ bất biến
ứng vạn biến” là giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu
dài, không thể chỉ biết mục tiêu trước mắt mà quên mục tiêu lâu dài. Bên cạnh đó,
tác giả cũng thể hiện sự quyết tâm của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ chủ
quyền đất nước trước tình hình hiện nay.
- Trang thông tin điện tử Báo Dân trí (19-5-2014): “Dĩ bất biến, ứng vạn
sản, số ra ngày 23-7-2014. Trong bài viết tác giả nêu việc vận dụng tư tưởng “dĩ
bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần quán triệt sâu sắc quan điểm
của Đảng, Nhà nước ta trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên Biển
Đông. Giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông một cách linh hoạt
theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa
đấu tranh song phương và đa phương, bình tĩnh, tỉnh táo, khôn khéo. Đó là sự kết
hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ
động và sáng tạo trong tấn công ngoại giao, trong nhận biết, tạo dựng và nắm bắt cơ
hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc
chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông của Tổ quốc.
- Vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển Việt Nam hiện nay, của PGS,TS
Đinh Xuân Lý đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 10-2014. Trong bài viết tác
8
giả đã phân tích, luận giải phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” cùng một số
quan điểm của Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ chủ
quyền vùng biển Việt Nam hiện nay cần: Quán triệt quan điểm mang tính nguyên
tắc, chủ quyền vùng biển Việt Nam là chủ quyền quốc gia Việt Nam trên biển là lợi
ích quốc gia thiêng liêng, bất khả xâm phạm, cái bất biến để đấu tranh bảo vệ lợi ích
thiêng liêng đó, phải linh hoạt – phải ứng vạn biến. Quán triệt quan điểm của Đảng
về kiên trì các giải pháp hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế; trên cơ sở phát huy
nội lực, linh hoạt, khôn khéo sử dụng các phương sách từ ngoại giao, pháp lý, đến
ứng xử trên thực địa, để bảo vệ chủ quyền vùng biển.
Tóm lại, Các công trình trên bước đầu làm rõ phương châm “dĩ bất biến ứng
vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bước đầu làm rõ sự vận dụng phương châm
“dĩ bất biến ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào đấu tranh bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ quốc gia hiện nay.
Để đạt được mục đích đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở hình thành, nội dung phương châm “dĩ bất biến ứng vạn
biến” của Hồ Chí Minh.
- Giá trị chỉ đạo thực tiễn của phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” đối với cách
mạng Việt Nam (1945-1969).
- Trình bày thực trạng đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam
trong thời gian qua.
- Phân tích những nhân tố trong và ngoài nước tác động đến đấu tranh bảo
vệ chủ quyền ở Biển Đông của Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp vận dụng phương châm “dĩ bất biến ứng
vạn biến” của Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh và sự vận dụng
trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển ở Biển Đông hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” và
phương hướng, giải pháp vận dụng trong tình hình hiện nay.
10
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu những nội dung nêu trên trong thời gian từ
năm 2009-đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
chính trị học.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu luận văn: Gắn logic với lịch sử, trừu tượng với cụ
từ này được ghép bởi các từ đơn: dĩ = lấy; bất = không; biến = biến hóa, thay đổi;
ứng = ứng phó, xử lý, đối xử; vạn (số từ) = vạn, hàng vạn. Có thể hiểu nghĩa đen
của cụm từ này là: lấy cái không thay đổi để ứng phó linh hoạt với những cái đang
biến đổi trong hiện tại. Chúng ta đều biết rằng, mối quan hệ giữa cái bất biến và cái
vạn biến, giữa cái không thay đổi và cái thay đổi, giữa bản chất và hiện tượng… là
vấn đề trung tâm của triết học xuyên suốt từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Như
vậy, “dĩ bất biến ứng vạn biến” còn có thể hiểu là lấy cái có tính quy luật để ứng
phó với cái phong phú đa dạng, biến đổi khôn lường. Còn ý nghĩa nhân sinh sâu xa
của phương pháp này là ở chỗ, trong cuộc sống nên nắm giữ cái bản chất, cái lớn
lao, không sa vào cái vụn vặt, lạc vào những biến đổi của hiện tượng, nên đứng ở
cái bất biến mà quan sát, từ đó dung hoà, xử lý các quan hệ, xử lý với ngàn vạn
những điều đang xảy ra trong cuộc sống một cách linh hoạt trên cơ sở mục tiêu cơ
bản, mục tiêu lâu dài, đích cuối cùng. Muốn thực hiện được, thực hiện đúng mục
tiêu cuối cùng thì phải lấy nó làm gốc khi ứng phó với những cái đang xảy ra trong
hiện tại và tương lai, ứng phó với những diễn biến phức tạp đang xảy ra trong hiện
tại dù linh hoạt tới đâu vẫn phải dựa trên cơ sở cái không đổi. Nếu không nắm được
cái bất biến mà cứ chạy theo cái vạn biến thì cả đời mỏi mệt, trăm lần khởi sự
không một thành công.
Thực tế cho thấy, trong cuộc sống, trong mỗi vấn đề, trong mỗi việc đều có
một điều bất biến riêng, đồng thời với mỗi điều bất biến ấy, tuỳ hoàn cảnh, thời
12
điểm mà lại có hàng vạn điều vạn biến khác nhau. Hiểu nghĩa của “dĩ bất biến ứng
vạn biến” như vậy, chúng ta thấy rằng ngay trong mối quan hệ giữa các cá nhân,
quan hệ gia đình, anh em, bạn bè cũng phải cư xử dựa trên cơ sở của cái bất biến.
Cái bất biến trong quan hệ gia đình, anh em, bạn bè trong xã hội xưa được quy định
bằng các quan hệ: vua - tôi; cha - con; vợ - chồng. Ngày nay, dù lễ giáo phong kiến
không còn tồn tại một cách chính thống, mối quan hệ trong gia đình và xã hội cũng
không thay đổi, lấy cái không thay đổi để ứng phó với hàng vạn cái thay đổi nhằm
hiện thực hóa cái không thay đổi. Ở đây phải hiểu, cái bất biến - cái không thay đổi
lúc đầu chỉ là mục tiêu của hành động, sau hành động với vạn cái thay đổi để đạt
được, giữ vững cái không thay đổi tức là đã biến mục tiêu lúc này đã trở thành hiện
thực, cái bất biến được giữ vững.
Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” được hình thành từ những cơ sở như:
- Truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do, quyết tâm giữ vững độc lập dân
tộc, thống nhất Tổ quốc
Việt Nam là một trong những quốc gia hình thành sớm. Với những đặc điểm
địa chính trị, kinh tế đặc thù chi phối, ngay từ rất sớm nhân dân ta đã phải tìm ra
nhiều cách thức, biện pháp để đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Để đấu
tranh chống lại những kẻ ngoại bang xâm lược, cộng đồng cư dân người Việt đã tạo
dựng và tiếp thu để từng bước xây dựng, bồi đắp cho mình những truyền thống văn
hóa, trong đó có phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước sơ khai từ thời đại Văn Lang – Âu
Lạc, trải qua nghìn năm Bắc thuộc, vẫn được bảo tồn trong môi trường sống
mang tính tự trị cao của cộng đồng làng xã. Tinh thần yêu nước được các phong
trào giải phóng dân tộc thổi bùng lên, mà những cuộc đàn áp tàn khốc của quân
đô hộ không bao giờ dập tắt được. Ý thức này được thể hiện đậm nét trong bài
thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên trên chiến luỹ chống quân Tống tại bến sông
Như Nguyệt cuối mùa Xuân 1077:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
14
15
kẻ thù xâm lược, nổi bật là phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” lấy cái không
đổi để ứng phó với muôn vạn sự thay đổi, “ngoại giao tâm công” đánh vào lòng
người phá đối phương. Người Việt Nam mỗi khi quyết định các vấn đề đối ngoại
đều cân nhắc kỹ các yếu tố và đi đến cân bằng các yếu tố để đạt được “nội yên,
ngoại tĩnh”. Tính cộng đồng còn là một cơ sở cho sự phát triển chủ nghĩa quốc tế
sau này trong thời kỳ hiện đại.
Về sự đền ơn, trả nghĩa, năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quan điểm:
“Trong thời kỳ chúng ta kháng chiến chống đế quốc Pháp, các dân tộc đó đã từng
hăng hái giúp đỡ chúng ta, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, hoặc ít, hoặc nhiều. “Một
miếng khi đói hơn mười gói khi no”. Bây giờ đến lượt chúng ta có nghĩa vụ giúp đỡ
các dân tộc anh em đó”. Kết thúc bài báo đó, Người viết:
Trăm năm trong cõi người ta
Giàu lòng bác ái, ấy là người Việt Nam.[43, tr.474]
Tiếp thu, kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của văn hoá dân tộc đã bồi đắp
cho Hồ Chí Minh có một nhân cách văn hoá cao đẹp. Qua gặp gỡ, trò chuyện với
Nguyễn Ái Quốc, tháng 12 năm 1923, không lâu sau khi Người đến Liên Xô, nhà
báo Xô viết Ôxíp Manđenxtam đã liên tưởng tới “… dân tộc An Nam đáng yêu, một
dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. Dáng dấp của con
người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang toả ra một cái gì
thật lịch thiệp và tế nhị... Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không
phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”.[32, tr.462]
Qua đó cho chúng ta thấy rõ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm
những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được
vun đắp nên quá trình lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó
là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng
đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung trọng
nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử,
Nghĩ đến kế lâu dài của nước
Thả cho về mười vạn tù binh
Nối hai nước tình hoà hiếu
Tắt muôn đời lửa chiến tranh;
Đất nước an toàn là thượng sách
Cốt sao cho dân được an ninh.
17
Nói đến ngoại giao Việt Nam là nói đến một nền ngoại giao thấm nhuần tinh
thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn. Tuy là nạn nhân của các cuộc chiến tranh
xâm lược tàn khốc, người Việt Nam vẫn giàu lòng nhân ái, khoan dung đối với
những kẻ địch đã bị đánh bại. Điều đó có cội nguồn từ lý tưởng nhân nghĩa của dân
tộc biết đứng trên nghĩa lớn khi buộc phải đương đầu với những thế lực ngoại xâm
hung bạo, nhưng đồng thời ngoại giao Đại Việt cũng luôn thể hiện tinh thần tự tôn
dân tộc. Phẩm chất tiêu biểu của sứ thần là trí, dũng song toàn, giữ gìn quốc thể.
Người đi sứ luôn thấu triệt phương châm “đi sứ bốn phương, không làm nhục
mệnh vua”. Qua đó thể hiện bản lĩnh kiên cường, ý chí kiên định và tài ngoại giao
của người dân nước Nam.
Từ quá trình nhân dân ta qua đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lịch sử
dựng nước - giữ nước của dân tộc khẳng định cái bất biến của dân tộc Việt là tinh
thần độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Ngoại giao truyền thống Việt Nam cũng
chính là nguồn gốc, là cơ sở nền tảng, là giá trị truyền thống để hình thành phương châm
“dĩ bất biến ứng vạn biến” Hồ Chí Minh - phương châm hành động số một của Hồ Chí
Minh và của Đảng ta trong sự nghiệp của cách mạng Việt Nam.
- Tinh hoa văn hóa nhân loại
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hiểu biết khá sâu
sắc văn hoá truyền thống phương Đông.
Trong quan niệm triết học phương Đông, Lão Tử cho rằng, mọi cái từ đạo
đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất
hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.[19, tr.343]
Khẳng định đó cho chúng ta thấy hiểu biết rất sâu sắc của Hồ Chí Minh về
triết lý sống và triết lý phát triển xã hội của các bậc vĩ nhân, thánh nhân từ Đông
sang Tây trong lịch sử nhân loại. Trong sự hiểu biết ấy, Hồ Chí Minh luôn đi đến
tận cùng, nắm chắc bản chất của vấn đề, bản chất của triết thuyết, từ đó hình thành
cho mình một phương châm tư duy giàu tính biện chứng phương Tây nhưng lại hết
sức tinh tế nhạy cảm của phương Đông. Lối tư duy độc lập sáng tạo ấy, cho chúng
ta thấy phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” Hồ Chí Minh rõ ràng phương
Đông, rất Việt Nam nhưng có sự vượt lên bởi tính biện chứng, khoa học của
phương Tây.
19
- Chủ nghĩa Mác – Lênin
Ngay từ đầu, khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã xác định mục tiêu là:
“Tôi muốn ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ
làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.[52, tr.13] Như vậy, Hồ Chí
Minh muốn đi tìm một phương pháp cách mạng có trong thực tiễn của các nước chứ
không chỉ là một phương pháp có tính chất lý thuyết sách vở. Phương pháp Người
tìm kiếm là phương pháp hoạt động xuất phát từ thực tiễn nhằm cải tạo thực tiễn.
Trên con đường nghiên cứu thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tìm tòi, nghiên cứu nhiều
học thuyết, trong đó Người tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin cái “cẩm nang thần
kỳ” để cứu nước, nhưng với tư duy độc lập và sáng tạo, cũng như xuất phát từ thực
tiễn hoàn cảnh Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ coi đó là những nguyên lý mang tính
chất gợi mở, cần bổ sung và phát triển bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Trong triết học Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ ra cái bất biến
là vật chất, nhưng vật chất luôn vận động biến đổi, luôn chuyển hoá từ dạng này
sang dạng khác; nó vĩnh viễn, vô cùng, vô tận; nó bất biến so với hiện tượng luôn
Cần nhận thức một cách khoa học rằng, mỗi dân tộc có quyền lựa chọn con
đường tiến lên để đạt mục tiêu cách mạng, phù hợp với đặc điểm, tình hình của
mình, không nhất thiết mọi nước đều có cùng khuôn mẫu giống nhau. Chính Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định không có một mô hình, con đường chung đi lên
chủ nghĩa xã hội cho tất cả các nước. Người viết:
“Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế
độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển
theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển
theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản)
như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa
xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam”.[39, tr.293]
Người còn nhấn mạnh: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập
quán khác, có lịch sử địa lý khác... Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa
xã hội”.[41, tr.391]
Ở Hồ Chí Minh trước khi ra đi tìm đường cứu nước đã có sự thấm đẫm
truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống văn hóa phương Đông. Ở Người đã có
sẵn tư tưởng của phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” và khi bắt gặp chủ nghĩa
21