skkn đề xuất một số biện pháp góp phần tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học đọc hiểu văn bản - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT KIỆM TÂN
Mã số: ..........................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO SỰ HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Hồng

Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: x
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:
Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Hiện vật khác

1


Năm học: 2014-2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên



: Cử nhân Ngữ Văn

2. Năm nhận bằng

: 2009.

3. Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn.
III. KINH NGHIỆM GIÁO
C:
1. Lĩnh vực chuyên môn giảng dạy môn Ngữ văn
2. Số năm giảng dạy kinh nghiệm : 5 năm.

2


Mục lục
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
IV.Phương pháp nghiên cứu

5
5
5
6

PHẦN NỘI DUNG

27
28

3


Phần Mở đầu:
I. Lí do chọn đề tài
Luận ngữ viết: “ Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không
bằng say mà học”. Vậy niềm yêu thích say mê chính là động lực thúc đẩy, nuôi
dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi người. Vì thế với vai trò tổ
chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của HS, hơn ai hết việc phải tìm ra
nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực sáng tạo của người học, gây niềm
hứng thú say mê học tập ở các em chính là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người
GV.
Nhưng phải thừa nhận một thực tế rằng trong thời kì đất nước đang chuyển
mình hội nhập quốc tế, bên cạnh rất nhiều mặt tích cực thì cũng nảy sinh không ít
những khó khăn thách thức. Theo đó, chất lượng môn Văn và vai trò môn văn trong
nhà trường hiện nay đang có quá nhiều bất ổn. Đa số học sinh coi nhẹ vai trò của môn
Văn trong chương trình học và cả trong định hướng trong tương lai của các em.
Chính điều này đã tác động không nhỏ đến tâm lí học sinh, làm giảm niềm yêu thích
hứng thú của các em với môn Ngữ văn. Càng học lên lớp trên, các em càng ít hứng
thú học môn Ngữ văn. Hay nói cách khác, môn Văn trở thành gánh nặng, áp lực nặng
nề, thậm chí trở nên nhàm chán và nỗi ám ảnh trong học sinh. Đứng trước bối cảnh
đó, bên cạnh việc trau dồi nâng cao năng lực chuyên môn vững vàng, người dạy Ngữ
văn cần thiết phải có nghệ thuật đứng lớp cao hơn, linh hoạt hơn, sáng tạo hơn mới
có thể tạo được niềm hứng thú cho học sinh. Làm thế nào để thổi vào tâm hồn các
em sự yêu thích, niềm hứng thú môn Văn, đưa môn Văn trở về đúng quỹ đạo thực sự
của việc học văn là học làm người, bởi “Văn học là nhân học” là trách nhiệm của
người giáo viên đứng lớp và lương tâm của nhà giáo?

nay.
II. Cơ sở thực tiễn
Chúng ta phải thừa nhận rằng hiện nay học sinh ít còn hứng thú với những giờ
học môn Ngữ văn nói chung và giờ học Đọc hiểu nói riêng, chủ yếu là học đối phó.
Những giờ học Đọc hiểu có khi chỉ là giờ thông tin kiến thức một chiều, khô cứng và
nhạt nhẽo. Học xong một giờ đọc văn, học sinh thu được cái mà họ cần quá ít ỏi,
thậm chí cá biệt có em không thu hoạch được gì. Chính điều đó dẫn đến kiến thức
thực tế về văn học của các em còn nghèo nàn, dùng từ ngữ trong giao tiếp một cách
thiếu chính xác, đặc biệt trong các bài Tập làm văn thường mắc lỗi chính tả, câu văn
6


viết chưa đúng ngữ pháp, cách diễn đạt vụng về, sáo mòn, lệ thuộc vào sách
tham khảo. Số lượng hồ sơ khối C thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao
đẳng, Trung cấp trong cả nước cũng ngày một giảm.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh THPT không hứng thú trong
giờ học Đọc văn, theo tôi có những nguyên nhân cơ bản sau:
* Về chương trình phân môn Đọc văn có một số điều bất cập. Thiết kế chương trình
chưa hợp lý lặp đi lặp lại những gì đã học ở cấp dưới, nặng về lý thuyết thiếu thực
hành đã gây nhàm chán và lãng phí thời gian mà lại không phát huy sự tìm tòi khám
phá những điều mới mẻ của học sinh. Có nhiều tác phẩm lượng kiến thức cần khai
thác rất lớn (như “Hạnh phúc một tang gia” - Vũ Trọng Phụng, “Chí Phèo” Nam Cao, hay các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ văn lớp 12) nhưng
thời lượng phân phối lại lại rất ít (2 tiết/bài), giáo viên chỉ lo dạy không kịp bài thì
làm sao tạo được hứng thú cho HS.
* Về phía GV: Trong những năm gần đây, ngành luôn đề cao việc đổi mới
phương pháp dạy học, nhưng thật sự việc đổi mới ở các giáo viên dạy Ngữ văn còn
gặp khá nhiều khó khăn, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy cũng chưa
đạt được kết quả mong muốn, do vậy ngoài các tiết dự thi, thao giảng, dạy tốt, thanh
tra, đa phần tiết dạy Ngữ văn là tiết "dạy chay", thầy vẫn giữ phương pháp cũ là
thuyết giảng, thầy đọc trò chép. Chính điều đó đã làm giảm rất nhiều sự hào hứng,

bản
1. Đọc diễn cảm văn bản
Mỗi văn bản văn học cần có một giọng điệu đọc riêng. Tác phẩm trữ tình
đọc khác với tác phẩm tự sự, đọc một đoạn đối thoại khác với đoạn độc thoại nội tâm,
đọc văn tả khác với văn kể, văn tường thuật, đọc văn chính luận khác với tùy bút ...
Giáo viên dạy Ngữ văn phải nắm bắt đúng giọng điệu đó. Bên cạnh đọc đúng
quy tắc ngữ pháp, đúng với đặc trưng thể loại, điều quan trọng là giáo viên phải thể
hiện được cảm xúc của tâm hồn, sự xúc động chân thành của bản thân. Có như vậy
việc đọc diễn cảm văn bản mới có hiệu quả thực sự, tạo ra những bất ngờ hứng thú,
giúp các em có những cảm nhận mới mẻ, kích thích khả năng liên tưởng tưởng tượng
để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Trong những năm học vừa qua, khi dạy tiết đọc văn, tôi luôn chú trọng việc đọc
diễn cảm văn bản. Nhất là với những tiết học đầu năm, giáo viên cần đọc mẫu và
hướng dẫn HS đọc đúng, diễn cảm văn bản. Việc đọc mẫu trước của GV rất quan
8


trọng, không chỉ đơn thuần là hướng dẫn học sinh cách đọc đúng, đọc hay mà còn
phải bước đầu gieo vào tâm hồn học sinh những cảm xúc, rung động trước cái đẹp,
cái hay của tác phẩm, trước mảnh đời của nhân vật. Qua đó, học sinh hiểu bài học
hơn và khuyến khích lòng say mê ngôn ngữ, hình ảnh và câu chuyện đối với các em.
Cách đọc phù hợp nhằm tái hiện hình tượng, khắc họa nhân vật, nắm bắt tình tiết,
hình dung bức tranh được vẽ bằng nghệ thuật ngôn từ khiến văn bản trở thành
một thế giới sinh động, có hồn nhất trong cảm nhận bước đầu của học sinh.
Tôi còn nhớ rõ khi tôi vừa đọc xong bài “Tự tình” - CTNV 11, đã chứng kiến
những niềm xúc động thật sự của các HS, chưa cần tìm hiểu văn bản mà HS đọc hiểu
và cảm thông được rất nhiều với tâm trạng của nữ sĩ vừa đau buồn, vừa phẫn uất
trước duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch.
Hoặc khi hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản “Tiễn dặn người yêu” Ngữ văn 10
tập 1, đã có rất nhiều học sinh phải lặng mình trước nỗi đau thân phận của cô gái và

cho cả chị nữa, với chị đó là cả một tình yêu đầu tiên, chân thành, say đắm nhất. Hai
từ “của chung” sao mà xót xa, cay đắng, ngậm ngùi, của chung ấy lẽ ra chỉ của riêng
nàng với Kim Trọng. Hai từ “ của chung” đã diễn tả tinh tế sự mâu thuẫn giằng xé, sự
đấu tranh giữa lí trí và tình cảm, một bên muốn trao hết cho Vân nhưng sâu thẳm đáy
lòng lại muốn giữ lại chút gì cho riêng mình. Sức nặng của câu thơ như dồn hết vào
cả hai từ này.
Lời bình là sản phẩm của sự xúc động sâu sắc, sự rung động của tâm hồn
trước vẻ đẹp của tác phẩm văn chương, nó cần thiết trong một giờ đọc văn. Tuy
nhiên, người giáo viên không được lạm dụng, bởi lẽ, nhiệm vụ chính của GV là phải
tổ chức để HS tự cảm thụ và lĩnh hội giá trị của tác phẩm văn học. Giáo viên chỉ nên
đưa ra lời bình khi học sinh cảm thụ chưa tới, chưa xác đáng, đầy đủ. Khi bình giảng
nên chú ý thay đổi ngữ điệu linh hoạt để gây chú ý, cách giải thích thuyết phục có
tính hài hước, thuyết giảng kết hợp với phương tiện dạy học, với trao đổi ngắn với
học sinh tạo nên sự cộng hưởng trong tiếp nhận cảm thụ. Có những lời bình của giáo
viên sẽ khắc sâu mãi trong tâm trí của mỗi học sinh . Vì thế, giáo viên cũng nên kết
hợp nắm bắt phản hồi của học sinh từ ánh mắt, nét mặt, không khí lớp học để có điều
chỉnh kịp thời. Có như vậy việc bình giảng của GV mới có tác dụng hỗ trợ, khắc sâu
ấn tượng thẩm mĩ cho học sinh.
Khi hướng dẫn học sinh tiếp cận bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, giáo viên đã
đưa ra những lời bình độc đáo, đúng thời điểm, làm cho học sinh như được chìm vào
10


dòng cảm xúc của tác giả Xuân Diệu với một tình yêu đời, yêu nguời tha thiết đến
cuồng si “ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Có lẽ trước Xuân Diệu chưa có
ai dám có cách so sánh táo bạo như ông. Một sự so sánh cực kì táo bạo, mạnh dạn
đến bất ngờ, táo bạo đến thú vị. Từ “ ngon “ không chỉ gợi được vẻ đẹp, sự quyến rũ
bên ngoài mà còn gợi được sức sống từ bên trong. Với Xuân Diệu thì mùa xuân, tình
yêu, tuổi trẻ là phần ngon nhất, đẹp nhất, quyến rũ nhất của cuộc đời
3. Lồng ghép trò chơi trong giờ học Ngữ văn:


Nghệ thuật

Nội dung chính

1 Xuất dương lưu biệt - Phan
Bội Châu
2 Hầu trời - Tản Đà
3 Vội vàng - Xuân Diệu
4 Tràng giang - Huy Cận
5 Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc
Tử
6 Tương tư - Nguyễn Bính
7 Chiều xuân - Anh Thơ
8 Chiều tối - Hồ Chí Minh
9 Từ ấy - Tố Hữu
10 Về luân lý xã hội ở nước
ta - Phan ChâuTrinh
11 Một thời đại trong thi ca Hoài Thanh
12 Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải
phóng các dân
tộc bị áp bức - Nguyễn An
Ninh
+ Các nhóm HS nhận phiếu bốc thăm và tiến hành thảo luận để tìm ra kiến thức phù
hợp với các ô trống - ghi nội dung vào các bảng thảo luận nhóm, cử đại diện lên dán
bảng lớn
Trò chơi này giúp HS thống kê được kiến thức đã học mà không gây nhàm chán, lại
huy động được sự tham gia của cả lớp, tạo sự gắn bó giữa các thành viên
- Lồng ghép trò chơi ô chữ.
Do đặc trưng của giờ Đọc văn nên việc vận dụng trò chơi cần ở mức độ

6. LÊ
7. TIẾN SĨ
8. LÊ THÁNH TÔNG
Sau khi HS đã hoàn thành ô chữ, GV củng cố kiến thức về tác giả Ngô Sĩ Liên và bộ
“Đại Việt sử kí toàn thư”. Như vậy, HS cũng nhớ bài hơn, mà tiết học thật sự sôi
động.
- Lồng ghép trò chơi đọc - bình thơ, văn.

13


Với các bài thơ gồm nhiều khổ, GV chia lớp thành nhiều nhóm tương ứng với các
khổ hay. Đại diện nhóm đọc diễn cảm, rồi bình đoạn đó, các nhóm khác nhận xét,
chấm điểm, GV kết luận ý đúng. Qua việc vận dụng trò chơi này với bài Đây thôn Vĩ
Dạ (Hàn Mặc Tử) - CTNV lớp 11, tôi thấy HS rất hứng thú với giờ học, nhiều em có
những lời bình hay, súc tích. Không những thế, các giờ học đó còn có thể giúp chúng
ta phát hiện ra những em năng khiếu, đồng thời rèn kĩ năng giao tiếp cho HS rất thuận
lợi.
Qua thực tế, chúng ta thấy rằng việc lồng ghép các trò chơi vào giờ học Đọc văn
mang lại hiệu quả tốt. Nhưng cũng cần lưu ý rằng khi lồng ghép trò chơi phải có sự
linh hoạt, hợp lí, đúng mức, không xáo trộn quá nhiều không gian lớp học, kết thúc
trò chơi nên khen thưởng đội thắng cuộc, và phạt nhẹ nhàng dí dỏm đối với đội thua
cuộc.
4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học Đọc hiểu
Một trong những biện pháp góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học là
ứng dụng CNTT. Bên cạnh những điều bất cập khi ứng dụng CNTT trong giờ học
Ngữ văn như: giáo viên không phân định rạch ròi giữa nội dung giảng và nội dung
HS cần ghi chép.
Chính điều này đã gây nên sự lúng túng cho HS, HS cứ mải miết ghi mà không
tập trung để cảm thụ tác phẩm; GV quá lạm dụng CNTT trình chiếu mà không khai

đằng sau niềm hoài niệm mơ tưởng.
Với bài “Từ ấy” (Tố Hữu), GV trình chiếu cho HS xem một đoạn phim tư liệu
ngắn về lễ kết nạp Đảng viên mới trang nghiêm, từ đó, HS có cơ sở thực tế để hiểu
đúng, cảm thụ tốt niềm vui sướng, say mê tột bậc của nhà thơ Tố Hữu khi được giác
ngộ lí tưởng cách mạng.
Trong phạm vi đề tài này, tôi không thể dẫn ra hết tất cả những giờ dạy ứng dụng
CNTT đã thành công, nhưng mỗi chúng ta đều đã thừa nhận việc ứng dụng CNTT
trong giờ dạy Ngữ văn văn nói chung và trong giờ Đọc hiểu mang lại những hiệu
quả thiết thực, góp phần quan trọng để tạo sự hứng thú cho HS.
5. Vận dụng linh hoạt những phương pháp dạy học tích cực
Theo PGS.TS Vũ Hồng Tiến, phương pháp dạy học tích cực là thuật ngữ dùng để
chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học, chứ không phải tập trung tập trung vào người dạy.
15


Có nhiều phương pháp dạy học tích cực mà GV có thể sử dụng như vấn đáp, đặt
và giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm, đóng vai, động não
- Tiến hành phương pháp vấn đáp, GV đặt ra câu hỏi để HS trả lời, HS cũng có
thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó lĩnh hội được bài học. Lưu ý GV không
nên đặt câu hỏi quá nhiều, nên đặt câu hỏi có hệ thống, bám sát yêu cầu bài học, phù
hợp với trình độ HS, tạo điều kiện cho tất cả các em được tham gia bằng cách đặt ra
câu hỏi, để các em suy nghĩ, trao đổi, chỉ định trả lời, yêu cầu em khác nghe bổ sung,
nhận xét. GV nên có những khuyến khích, động viên để tạo hứng thú cho học sinh trả
lời, hướng học sinh từng bước khám phá vấn đề.
- Với phương pháp hoạt động nhóm, GV sẽ chia lớp thành từng nhóm nhỏ, nhóm
có thể được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, HS tập trung thảo luận hoàn thành
yêu cầu, cử đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần.

16

20


Một số hình ảnh của hoạt động ngoại khóa tác phẩm Chí Phèo của lớp 11C9
21


Tuy nhiên để tránh sự nhàm chán đơn điệu, trong một tiết Đọc văn nói riêng,
một giờ Ngữ văn nói chung, GV cần có sự thay đổi về phương pháp, tạo nên sự đa
dạng linh hoạt trong từng mục của bài học. Và theo tôi phương pháp đặt và giải quyết
vấn đề nếu được sử dụng hợp lí sẽ mang lại hiệu quả cao. Tình huống có vấn đề đó
có thể do GV chú ý tạo ra, cũng có thể do HS tự phát hiện. Vấn đề đó không quá dễ
mà cũng không nên quá khó. HS sẽ so sánh các phương án khác nhau, sau cùng chọn
một phương án giải quyết tối ưu nhất, vì vậy sẽ duy trì sự hứng thú cho HS với khát
khao tìm ra câu trả lời.
Minh họa: Khi dạy bài “Tôi yêu em” (Pu-skin)- CTNV lớp 11, ở phần: Tìm
hiểu chung về tác giả tác phẩm, GV có thể sử dụng phương pháp vấn đáp, đến phần
Đọc hiểu văn bản, để tạo sự hứng thú cho HS, GV sẽ đặt vấn đề: “Tình yêu là một đề
tài muôn thuở của thơ ca, đã có biết bao bài thơ tình, song bài Tôi yêu em vẫn đã,
đang, sẽ sống mãi trong lòng mọi người. Vì sao như thế? Và tình yêu của nhà thơnhân vật trữ tình được thể hiện trong bài thơ có gì độc đáo, mới lạ, hấp dẫn?”
Khi dạy bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) - CTNV lớp 12, GV sẽ đặt
HS vào một tình huống giả thiết: “Nếu bản thân gặp 1 tai nạn, cận kề cái chết, có
người sẽ cứu sống ta, nhưng đổi lại ta phải làm một điều mà mình không muốn. Lúc
đó ta sẽ làm gì? đồng ý hay không đồng ý? Đặt mình là Trương Ba, lí giải vì sao cuối
tác phẩm lại xin được chết hẳn chứ không chấp nhận sống nhờ vào thân xác người
khác”.
Tóm lại, để tạo hứng thú cho HS THPT với bước Dạy bài mới trong giờ học
Ngữ văn, GV rất cần thiết phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực,
phải đầu tư công sức thời gian rất nhiều, có trình độ chuyên môn sâu rộng, trình độ sư
phạm lành nghề để mỗi khi lên lớp đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên,

Lớp

Khi chưa sử dụng các biên Sau khi sử dụng các biện
pháp tạo sự hứng thú

pháp tạo sự hứng thú

Điểm >_ 5

Điểm >_ 5

10C2

32 HS

15

25

10S6

36 HS

17

28

11C5

38 HS

tình yêu, ông hoàng của thơ tình Việt thơ tình Việt Nam
Nam?

- Sự nghiệp sáng tác (sgk)

3. Vai trò của Xuân Diệu trong lịch sử - Các tác phẩm chính (sgk)
văn học dân tộc?
GV : Sau khi yêu cầu học sinh trả lời, gv
chốt lại và yêu cầu hs thuyết trình về tài
liệu mình đã chuẩn bị.
GV : Em hãy nêu xuất xứ của bài thơ ?

2. Tác phẩm : Vội vàng

Phân chia bố cục, nêu ý chính của từng a. Xuất xứ: Trích từ tập Thơ Thơ (1938)
phần

b. Bố cục: chia làm 3 phần

*Chủ đề chính: Là sự thể hiện hai khía - 13 câu đầu
canh hoàn toàn đối lập trong tâm hồn nhà - 14 câu tiếp
thơ, một tình yêu đời tha thiết, đắm say , - Phần còn lại
một sự nuối tiếc khi thời gian trôi qua và c. Chủ đề:
mong muốn tận hưởng đến từng giây
phút của cuộc sống trần gian.
Hoạt động 2: Hướng dẫn hs tiếp cận văn II. Đọc hiểu:
bản
GV nhắc cho hs nhớ lại cách tiếp cận một
24


=> Một ước muốn kì lạ, đoạt quyền của
tạo hóa, lập nên bước tường thành vững
Ta là một, là riêng, là thứ nhất
chắc – chặn đứng bước chân của thời
gian, vĩnh viễn hóa vẻ đẹp của cuộc sống
Không có ai bè bạn nổi cùng ta
trần thế cho hương thơm còn lưu giữ, sắc
Gv: Vậy tại sao ngay từ đầu bài thơ, tác màu còn vẹn nguyên.
* Một cái tôi đầy cá tính, táo bạo
giả lại muốn chặn đứng bước chân của
Việt Nam và từng tuyên bố:

thời gian?
Nhóm 2: Liệt kê các yêu tố nghệ thuật
xuất hiện trong 9 câu thơ tiếp

b. Chín câu thơ tiếp: Bức tranh thiên
nhiên tuyệt đẹp, lung linh ánh sáng, sắc
màu, âm thanh như một bữa tiệc trần gian
GV lên hệ: sau 15 năm lưu lạc trở về, trên mặt đất
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status