SKKN một số PHƯƠNG PHÁP GIÚP học SINH GIẢI bài tập về KIỂU xâu - Pdf 37

Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH
GIẢI BÀI TẬP VỀ KIỂU XÂU
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang diễn ra quá trình
tin học hoá trên nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người và đem lại nhiều
hiệu quả to lớn. Việc sử dụng máy tính không còn chỉ bó hẹp trong viện nghiên cứu,
các trường đại học, các trung tâm máy tính mà còn mở rộng ra mọi cơ quan, tổ chức
kinh tế,.. và trong các gia đình. Song song với quá trình trên, việc giảng dạy Tin học
trong các trường đại học, THPT cũng được đẩy mạnh đi đôi với việc tăng cường
trang bị máy vi tính. Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy được tầm quan trọng của
ngành Tin học và đã đưa môn học này vào trường phổ thông như những môn học
khác bắt đầu từ năm học 2006-2007.
Chính vì vậy, đối với mỗi giáo viên giảng dạy môn Tin học ở các trường phổ
thông, việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về Tin học, cùng với việc tìm các biện
pháp giảng dạy Tin học trong các trường phổ thông là một công việc cần phải làm
thường xuyên, nhằm đáp ứng với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.
Trong nghiệp vụ của người thầy (cô) giáo có hai vấn đề quan trọng: thứ nhất
là thực tiễn về tiềm năng - những kiến thức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản.
Thứ hai là thực tiễn về nghiệp vụ - thầy (cô) giáo phải biết cách truyền thụ kiến thức
phù hợp với trình độ của học sinh. Trong đó, thực tiễn thứ hai là điều quyết định
trong nghiệp vụ của thầy (cô) giáo, nó đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy (cô)
giáo. Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhất với nhau. Thầy
(cô) giáo không thể mang hết các kiến thức lý thuyết cao xa và trừu tượng dạy cho
học sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầy (cô) giáo hiểu biết
quá ít.
Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt
động học tập. Điều 24.2 của Luật giáo dục đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp

ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt các mục
tiêu đó.
Các cách thiết kế bài giảng hiện nay nhằm mục đích áp dụng phương pháp
hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực ham muốn học hỏi, tư duy sáng tạo,
năng lực tự giải quyết vấn đề, rèn luyện và phát triển năng lực tự học sáng tạo,
nghiên cứu, nghĩ và làm việc một cách tự chủ… Đồng thời để thích ứng với sự phát
triển tư duy của học sinh trong xã hội mới và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến
trên thế giới. Bên cạnh đó, trong các kỹ thuật dạy học mới, vai trò của người thầy có
2

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

sự thay đổi là: “hướng dẫn học sinh biết tự mình tìm ra hướng giải quyết những vấn
đề nảy sinh trong quá trình học tập, biết cách làm việc độc lập, làm việc tập thể.
Thầy là người định hướng, là người cố vấn giúp học sinh tự đánh giá, cũng như giúp
học sinh luôn đi đúng con đường tìm hiểu, lĩnh hội kiến thức…”.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy tại trường THPT Thanh Bình tôi thấy rằng,
để đạt hiệu quả cao trong mỗi phần học, tiết học cần có cách thiết kế bài giảng cho
phù hợp với nội dung kiến thức, phương pháp, phương tiện dạy học phải phù hợp
với từng đối tượng học sinh. Để qua mỗi phần học, tiết học học sinh thích thú với
kiến thức mới, qua đó hiểu được kiến thức đã học trên lớp, đồng thời học sinh thấy
được tầm quan trọng của vấn đề và việc ứng dụng của kiến thức trước hết để đáp
ứng những yêu cầu của môn học, sau đó là việc ứng dụng của nó vào các công việc
thực tiển trong đời sống xã hội (nếu có).
Trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay, việc lập được các chương trình tự
hoạt động cho máy tính, máy gia dụng là cần thiết và để làm được việc đó cần có
một quá trình nghiên cứu, học tập về ngôn ngữ lập trình lâu dài, qua đó người lập

thanh… được xử lý như thế nào. Kiến thức mới và khó, học sinh sợ học môn Tin
học 11, kết quả giảng dậy thấp, nhất là ở các lớp học sinh yếu về môn tự nhiên, ít có
điều kiện sử dụng máy tính. Người thầy phải làm gì để khắc phục được điều này?
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1/ Cơ sở lí luận
- Nhiều gia đình và học sinh chưa có điều kiện trang bị máy tính cho học sinh
vì đời sống gia đình còn gặp nhiều khó khăn.
- Nhiều gia đình còn ngại cho học sinh sử dụng máy tính vì sợ con em mình
ham mê các trò chơi điện tử . . .
- Một số học sinh chưa thực sự số gắng tự học, tự nâng cao khả năng tư duy về
toán học cũng như các tư duy về ngôn ngữ lập trình.
- Một số học sinh chưa hiểu hết tầm quan trong của lập trình và chưa ứng dụng
môn học này vào quá trình giải quyết một số bài toán bằng máy tính điện tử.
- Tình hình ứng dụng tin học nói chung và ngôn ngữ lập trình đã góp phần
không nhỏ trong việc học tập của học sinh trong một vài năm gần đây cùng với xu
hướng đổi mới phương pháp giảng dạy, học sinh đã không ngừng ứng dụng thành
quả của lập trình vào học tập.
- Trong giáo dục phổ thông cần phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh phù hợp với từng lớp học, môn học, tác động đến tình cảm
đem lại niềm vui, hứng thú trong khi học môn tin học.
- Phương pháp tích cực là phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học thông qua việc tổ chức hiệu quả
các hoạt động của học sinh.
4

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu


10
12
4
1
1

Tỉ lệ
12.5%
17.5%
25%
30%
10%
2.5%
2.5%

Đối với hai ví dụ trên hấu hết các em chưa hình dung ra được thuật toán cũng
như các bước để viết chương trình
Để khắc phục được điều đó, theo tôi chúng ta cần phải tìm tòi, nghiên cứu
tìm ra những phương pháp phù hợp, kích thích tính tích cực của học sinh trong học
tập. Học sinh có thể tự mình tìm ra được những ý tưởng sáng tạo vận dụng thiết thực
vào cuộc sống, thực tế khi nhu cầu nảy sinh, khi đó các em có thể tự mình hoàn
thành được ý tưởng đó.

5

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu


liên quan đến bài tập kiểu xâu, sử dụng thành thạo vòng lặp biết trước, thủ tục chuẩn
vào/ra đơn giản bước đầu làm quen với 1 số chương trình con dạng thủ tục tạo điều
kiện thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức về cách viết chương trình có cấu trúc.
b/ Về phương tiện:
- Giáo viên chuẩn bị máy tính “để bàn hoặc xách tay”, một máy chiếu, một màn
chiếu, bút chỉ laze, bảng phụ …
- Học sinh cần có đầy đủ sách bút, vở ghi…
2/ Các bước thực hiện bài giảng.
Bài tập 1: Viết chương trình nhập vào một xâu ký tự từ bàn phím. Đổi xâu ký tự đó
sang chữ in hoa rồi in kết quả ra màn hình.
Ví dụ : Input:

‘abcdAbcD’

Output: ‘ABCDABCD’
Giáo viên nêu câu hỏi:
Ứng dụng của viết chữ in hoa các em gặp trong những trường hợp nào?
Học sinh: Khi đi làm giấy khai sinh, kê khai lý lịch, làm hồ sơ thi tốt nghiệp, ĐHCĐ…
Giáo viên: Làm thế nào để khi ta nhập họ tên vào máy là chữ thường thì khi hiện
lên trên màn hình là chữ in hoa có dấu?
Học sinh: Sử dụng hàm upcase(ch)
Giáo viên: Nhưng hàm upcase(ch) chỉ đổi được 1 kí tự thành ký tự in hoa, ở đây
chúng ta đổi cả 1 xâu kí tự? vậy chúng ta xử lý vấn đề này như thế nào?
Học sinh: Đưa ra cách xử lý.
7

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

xác định từ cuối của chuỗi, trước tiên phải cắt bỏ các khoảng trống ở cuối chuỗi. sau
đó xác định vị trí (vitri) khoảng trống đầu tiên tính từ cuối trở về đầu. Từ cuối cùng
chính là: các ký tự bắt đầu từ vị trí (vitri+1) đến cuối chuỗi.

8

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

Ví dụ: s=’N Thanh Huong ’, length(s) trả về giá trị 16, Sau khi cắt khoảng
trống cuối s=’N Thanh Huong’, length(s) trả về giá trị 13. vị trí khoảng trống tìm
thấy đầu tiên trong chuỗi tính từ cuối lên là vitri = 8. Vậy ký tự từ vị trí đến cuối
chuỗi tạo thành từ cuối là Huong.
Chương trình bài tập 2
Program BT2;
Uses crt;
Var

s: String;
i, vitri: byte;

Begin
Clrscr;
Writeln(‘chuong trinh in tu cuoi cung cua chuoi’);
Write(‘Nhap vao chuoi s=’);
Readln(s);
{1} While s[length(s)=#32 do
{2} Delete (s,length(s),1);

Sau lệnh {2}, s = ‘N Thanh Huong ’ , length(s)=15, s[15]= #32 → tiếp tục lặp
Sau lệnh {2}, s = ‘N Thanh Huong ’, length(s)=14, s[14]= #32 → tiếp tục lặp
Sau lệnh {2}, s = ‘N Thanh Huong’ , length(s)=13, s[13]= ‘g’#32 → thoát lặp
{3} →{9}: Bắt đầu vòng lặp, biến xác định vị trí tìm thấy khoảng trống đầu
tiên bằng 0. Vòng lặp {4} lần lượt duyệt từ vị trí cuối đến vị trí đầu của chuỗi s. nếu
ký tự i khác trống thì giảm i để xét ký tự trước nó, nếu là khoảng trống {5}, thí cất vị
trí này vào biến vitri{7} và kết thúc ngay vòng lặp for {4} mà không cần đợi i giảm
đến 1.
Trường hợp chuỗi s chỉ có một từ, không có khoảng trống (ví dụ: ‘Xuan’) thì
vòng lặp for sẽ kết thúc khi i giảm tới 1 và vị trí vẫn dữ nguyên giá trị 0 gán ở câu
lệnh{3}. Khi đó từ cuối bắt đầu bằng các ký tự (vitri+1) = 0+1=1 đến cuối chuỗi s.
{11} Vòng lặp for in các ký tự trong chuỗi s từ vị trí sau khoảng trống tìm được
(vitri+1) đến cuối chuỗi. Với length(s) trả về số ký tự thực có trong chuỗi s sau khi
đã cắt bỏ những khoảng trống ở cuối chuỗi.
Bài tập 3: Nhập 1 xâu St từ bàn phím (St
dụng thành thạo thủ tục write và writeln, sự khác biệt giữa 2 thủ tục này.
Giáo viên: gọi học sinh nhắc lại sự khác biệt giữa 2 thủ tục, sau đó gọi học sinh lên
bảng viết chương trình.
11

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

Giáo viên chạy chương trình hoặc sửa chương trình của bài tập 4, học sinh
theo dõi kết quả thực hiện trên màn hình  sự hứng thú cho học sinh khi học bài
kiểu xâu và kết hợp với các thủ tục tưởng chừng như đã rất quen thuộc nhưng khi
vận dụng thì các em thấy được sự kì diệu của tin học.
Chương trình bài tập 4:
Program baitap3;
Uses Crt;
Var

St: String[25];
i:Byte;

Begin
Write(‘Nhap xau St: ‘); Readln(St);
Write(‘ket qua la: ‘);
For i:=1 to length(St) do writeln(St[i]:15);
Readln;
End.

Bài tập 5: Nhập 1 xâu St từ bàn phím (St
End.
Khi giáo viên chạy chương trình cho các em học sinh theo dõi kết quả trên
màn hình máy chiếu mà mình đã sửa thì các em ngạc nhiên và rất hào hứng: đơn
giản chỉ sửa chương trình có 1 ít mà đã có kết quả rất thú vị, các em thấy tin học 11
không khó lắm.
Giáo viên: Vậy chúng ta có thể tô màu cho chữ được không? Chẳng hạn xâu S đưa
ra có màu xanh hoặc đỏ hoặc mỗi kí tự có một màu khác nhau?
Giáo viên làm mẫu cho học sinh để các em thấy được kết quả cho các kí tự
hiện ra có màu xanh lá. Tất cả học sinh trong lớp đều thấy phấn chấn và hào hứng
học tập.
Chương trình:
Program baitap5;
Uses Crt;
Var

St: String[25];
i:Byte;

Begin
Write(‘Nhap xau St: ‘);
Readln(St);
Write(‘ketqua la:’);
Textcolor(2);
13

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu


uses Crt;
14

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

type st79=string[79];
var

s1,s2: st79;
stop:bolean;

procedure catdan(s1:st79; var s2:st79);
begin
s2:=copy(s1,2,length(s1)-1)+s1[1];
end;
procedure cangiua(var s:st79);
var i,n:integer;
begin
n:=length(s);
n:=(80-n) div 2;
for i:=1 to n do s:=s+ ‘ ‘;
end;
begin
clrscr;
write(‘Nhap xau s1: ‘);
readln(s1);
stop:=false;

Uses CRT;
Var

s: String;
i: integer;

Begin
Clrscr;
Writeln(‘Chuong trinh doi chu hoa ra thuong va nguoc lai’);
Write (‘Nhap vao chuoi s=’);
Readln(s);
For i:= 1 to length(s) do
If(s[i]<=’Z’) and (s[i]>=’A’) then
S[i]:= CHR(ord(s[i])+32);
Else
If(s[i]<=’z’) and (s[i]>=’a’) then
S[i]:= CHR(ord(s[i])-32);
Writeln(‘Chuoi da doi s=’,s);
Readln;
End.
Giáo viên giải thích: Hai cách viết sau sẽ cho kệt quả hoàn toàn khác nhau:
Cách 1:
If(s[i]<=’Z’) and (s[i]>=’A’) then
16

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu


i, word: Integer;

Begin
17

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

Clrscr;
Writeln(‘Nhap vao chuoi s:=’);
Readln(s);
{Vòng lặp xóa các khoảng trống đầu chỗi s}
While s[1]=#32 do delete(s,1,1);
{Vòng lặp xóa các khoảng trống cuối chỗi s}
While s[length(s)]=#32 do delete(s,length(s),1);
{Vòng lặp xóa bớt các khoảng trống các từ cáchnhau nhiều hơn một khoảng trống}
While pos (‘ ‘,s)0 do delete(s,pos(‘ ‘,s),1); word:=0;
{Vòng lặp for đếm số từ trong chuỗi s)
For i:=1 to length(s) do
If (s[i]=#32 and (s[i+1]#32) then

{Nếu bắt đầu một từ mới}

inc(word);

{Tăng biến đếm số từ word lên 1}

if s[1]#32 then inc(word);

IV/ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Trong quá trình trao đổi, thảo luận, trình bày học sinh được thể hiện khả năng
vận dụng, hiểu biết của mình nên các em tỏ ra hăng hái trong việc giơ tay phát biểu
tranh luận. Đồng thời tiết học trở nên sinh động hơn và giáo viên không đóng vai trò
là người xây dựng lý luận mà học sinh là người chủ động để giải quyết các vấn đề.
So sánh, đối chứng tỉ lệ % kết quả của học sinh trước và sau khi thực hiện đề
tài ta thấy rõ ràng kết quả của học sinh sau khi được học bằng giáo án điện tử trên
máy chiếu kết hợp mô phỏng trực quan, lấy dẫn chứng thực tế …cao hơn hẳn so với
khi chưa thực hiện đề tài.
Cụ thể kết quả thực tế đối với lớp 11a5 có 40 học sinh (với đề kiểm tra giống
lớp 11A3 ở trên) sau khi thực hiện đề tài như sau:
Điểm
3
4
5
6
7
8
9
10

Số học sinh
0
0
7
10
8
7
5
3

đã chủ động để tìm tòi lại kiến thức đã học qua đó giải quyết được vấn đề do giáo
viên đặt ra. Trong quá trình giải quyết vấn đề, giáo viên chỉ ra những sai lầm mà các
em học sinh mắc phải do hiểu không rỏ vấn đề giúp cho các em hiểu rỏ hơn về câu
lệnh.
Kết quả là có rất nhiều em đã dể dàng vận dụng được câu lệnh lặp để giải các
vấn bài toán lặp do giáo viên đặt ra.

20

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

V/ NHỮNG KIẾN NGHỊ
1/ Đề xuất
- Qua việc áp dụng phương pháp trên vào giảng dạy tại trường THPT Thanh
Bình bản thân tôi nhận thấy rằng: Việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một điều
hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất lương giáo dục. Tuy nhiên nhân tố quyết
định ảnh hưởng tới hiệu quả giảng dạy vẫn là giáo viên. Theo tôi người thầy chẳng
những phải có kiến thức vững chắc, nhận thức đúng đắn mà còn phải có tinh thần yêu
nghề và tận tâm với nghề.
- Phương pháp giảng dạy cho phép học sinh chia sẻ những kiến thức, kinh
nghiệm, hiểu biết của bản thân cho các bạn trong nhóm, trong lớp từ đó tiết học trở
nên sôi động ,hấp dẫn có sức lôi cuốn học sinh để học sinh có thể học hỏi lẫn nhau
mà không cần phải tiếp cận và lĩnh hội kiến thức một cách thụ động. Nhưng giáo
viên cũng không nên quá rập khuân trong các phương pháp mà phải kết hợp hài hòa
thì kết quả của tiết dạy sẽ tốt hơn.
- Tóm lại để tiết học có hiệu quả người thầy phải biết vận dụng linh hoạt các
phương pháp, biết vận dụng đúng lúc, phù hợp tửng nội dung yêu cầu của tiết dạy.

3. Lý thuyết và Bài tập lập trình Pascal 5.5-6.0

Nguyễn Thị Kiều Duyên

4. Lý thuyết và bài tập Pascal

Hạnh Nguyên.

5. Một số sáng kiến kinh nghiệm và ý kiến của đồng nghiệp.
6. Một số bài tập tham khảo trên Internet.

22

Người thực hiện: Nguyễn Quang Hưng


Một số phương pháp giúp học sinh giải bài tập về kiểu xâu

MỤC LỤC
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI ------------------------------------------------------------------ 1
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ------------------------------------------------- 4
1/ Cơ sở lí luận ------------------------------------------------------------------------------ 4
2/ Thực tiễn của vấn đề ------------------------------------------------------------------- 4
a/ Tình trạng thực tiễn khi chưa thực hiện đề tài ----------------------------------- 5
b/ Khảo sát thực tế --------------------------------------------------------------------- 5
c/ Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm --------------------------------------------- 6
III/ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ------------------------------------- 6
1/ Chuẩn bị ----------------------------------------------------------------------------------- 7
a/ Về phương pháp -------------------------------------------------------------------- 7
b/ Về phương tiện ---------------------------------------------------------------------- 7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status