ÂẢI HC HÚ
TRỈÅÌN G ÂẢI HC SỈ PHẢM
KHOA GIẠO DỦC CHÊNH TRË
------
PHẢM THN H NGHÉA
ÂN G BÄÜ THỈÌA THIÃN - HÚ TRONG
TÄØN G TIÃÚN CÄNG V NÄØI DÁÛY MA XN 1975
KHỌA LÛN TÄÚT NGHIÃÛP
Ngn h hc : GIẠO DỦC CHÊNH TRË
Gin g viãn hỉåïn g dáùn : ThS. TRÁƯN VÀN LỈÛC
Hú, Khọa hc 2012 - 2016
Lời Cảm Ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, ThS. Trần
Văn Lực đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Giáo dục
Chính trò Trường Đại học Sư phạm Huế, các bạn sinh
viên lớp Giáo dục Chính trò 4 và gia đình đã quan tâm
giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn và lời chúc tốt
đẹp nhất đến tất cả bạn bè của tôi, những người đã
luôn ở bên tôi, chia sẻ, những lúc khó khăn, cùng tôi
trải qua những tháng ngày đầy ý nghóa suốt quãng
đời sinh viên.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2016
2.1.2. Chủ trương Tổng công kích - tổng khởi nghĩa của Đảng......................22
2.2. Thừa Thiên - Huế trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975............28
2.2.1. Tình hình chiến trường Thừa Thiên - Huế.............................................28
2.2.2. Chủ trương của Đảng bộ Thừa Thiên - Huế trong Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân năm 1975.........................................................................................34
Chương 3........................................................................................................48
NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ............................48
3.1. Nhận xét.......................................................................................................48
3.1.1. Thành tựu..............................................................................................48
3.1.2. Hạn chế..................................................................................................53
3.2. Bài học kinh nghiệm.....................................................................................54
3.2.1. Quán triệt và tuân thủ sự chỉ đạo của Trung ương, linh hoạt, sáng tạo
phù hợp với thực tiễn kháng chiến ở địa phương...........................................55
3.2.2. Luôn nhận thức rõ đặc điểm, vị trí chiến lược, nhiệm vụ chính trị của
chiến trường Thừa Thiên – Huế......................................................................56
3.2.3. Cơ quan các cấp luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, nắm
chắc tình hình, nhiệm vụ mới, kịp thời chỉ đạo theo yêu cầu của thực tiễn....57
3.2.4. Thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng.......................................................57
C. PHẦN KẾT LUẬN...................................................................................59
PHỤ LỤC ẢNH.............................................................................................62
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................65
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
địch, tiêu diệt, làm tan rã lực lượng lớn và gây cho chúng hoang mang tột độ
đã tạo điều kiện hỗ trợ, thúc đẩy lực lượng chính trị của quần chúng nổi dậy,
đập tan bộ máy kìm kẹp của địch ở địa phương, cơ sở để giành quyền làm
chủ. Mặt khác, sự nổi dậy mạnh mẽ của lực lượng quần chúng đông đảo trên
nhiều địa bàn từ nông thôn đến thành thị, với nhiều hình thức phong phú, linh
hoạt đã tạo thuận lợi cho bộ đội chủ lực cả về thế, lực và điều kiện để nhanh
chóng đập tan sự kháng cự của địch; đồng thời, để tập trung lực lượng vào
những mục tiêu chủ yếu của cuộc Tổng tiến công.
Chiến dịch đã giải phóng được hoàn toàn Thừa Thiên - Huế, trong đó
thành phố Huế là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa lớn ở miền
Nam, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ to lớn đối với cả nước và có ảnh hưởng lớn về
chính trị đối với thế giới; đã chứng minh sức mạnh tiến công và nổi dậy của
quân và dân ta không những có khả năng tiêu diệt, quét sạch những tập đoàn
phòng ngự mạnh của địch ở chiến trường rừng núi, mà còn có khả năng giải
phóng những vùng đồng bằng, thành phố rộng lớn, nơi địch cố sức bảo vệ.
Thắng lợi triệt để và trọn vẹn của chiến dịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho
Đảng bộ và quân dân Thừa Thiên - Huế nhanh chóng xây dựng chính quyền
nhân dân, ổn định cuộc sống, thiết lập trật tự và phát huy được sức mạnh mới
của cách mạng, trước mắt là tập trung, động viên sức người, sức của chi viện
cho cuộc Tổng tiến công giải phóng Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung.
Để tái hiện lại cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân và dân
Thừa Thiên - Huế trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước nói chung và
trong đại thắng Xuân 1975 nói riêng nên tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ Thừa
Thiên - Huế trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 ở Thừa
Thiên - Huế.
- Góp phần làm rõ vai trò của Trung ương Đảng, của Khu ủy Trị - Thiên
và Đảng bộ Thừa Thiên - Huế trong lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Làm rõ cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt, tinh thần đấu tranh anh
dũng, kiên cường, đoàn kết của quân và dân Thừa Thiên - Huế trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát chung về Thừa Thiên - Huế
- Làm rõ chủ trương trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của
Trung ương Đảng, của Khu ủy Trị Thiên và Đảng bộ Thừa Thiên - Huế.
- Nhận xét và đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo
quân và dân tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của Đảng bộ
Thừa Thiên - Huế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương, đường lối của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Sự lãnh đạo của Đảng trong Tổng tiến công và nổi dậy.
- Về thời gian: Mùa xuân năm 1975.
- Về không gian: Tỉnh Thừa Thiên - Huế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các
văn kiện Đại hội, Hội nghị về đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trên cở sở đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp…để giải quyết và làm
bất khuất cần cù, bình dị. Từ trên mảnh đất này, các tổ chức của Đảng Cộng
sản Việt Nam đã ra đời và lãnh đạo nhân dân đánh giặc cứu nước, xây dựng
quê hương ngày càng thêm giàu mạnh.
Thừa Thiên - Huế là một tỉnh miền Trung Việt Nam nằm ở 16 - 16,80
vĩ độ Bắc và 107,8 - 108,20 kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Trị,
phía Nam giáp với thành phố Đà Nẵng, phía Tây là dãy Trường Sơn giáp
nước bạn Lào, phía Đông là biển. Diện tích tự nhiên khoảng 500.920 ha, với
số dân 1.127.905 người. Bình quân đất tự nhiên theo đầu người 5.560m2 .
Từ 1-5-1976 Thừa Thiên hợp nhất với Quảng Bình, Quảng Trị trở
thành tỉnh Bình - Trị - Thiên, đến 1-7-1989 thì trở về tỉnh cũ gồm thành phố
Huế, 6 huyện đồng bằng và 2 huyện miền núi: Phong Điền, Quảng Điền,
Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A-Lưới, Nam Đông. Là khúc
ruột miền Trung, phía đông tỉnh là một dải đồng bằng đẹp, phía tây là rừng rú,
đồi núi chân Trường Sơn. Trường Sơn đoạn này không cao lắm, các tỉnh trên
dưới 1.100m, nhiều chỗ chân núi ăn ra tận biển. Chính địa bàn này đã chi phối
mạng lưới giao thông vận tải của tỉnh. Về đường bộ: Đường chính là quốc lộ
1A, cách Hà Nội 654km. Ngoài ra còn hệ thống đường cao (đường thượng
đạo) từ đường 14 qua Đakrông, Tà rụt, A-Lưới, A-so, A-sầu đi tiếp miền Tây
6
Quảng Nam. Về đường thủy: các sông ở Thừa Thiên - Huế đều ngắn, chỉ
thuận tiện cho việc thông thương trong tỉnh, trong từng vùng. Sông Hương dài
30km, không chỉ có giá trị về mặt giao thông mà còn nhiều giá trị về tiềm
năng kinh tế - du lịch.
Thừa Thiên - Huế có nhiều đầm phá thông với biển cả. Men theo phía
Tây dải biển Trường Sa đến quãng hợp lưu hai sông Ô Lâu, Vĩnh Định đi vào
Thừa Thiên là bắt đầu phá Tam Giang: Dải đất ven phá chạy suốt 6 huyện
trong tỉnh, hòa chung với phá Cầu Hai. Hai bên bờ phá có những xóm làng
của những huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc.
Nam. Bắc là cảnh quan đá Karstic với các hang động kì thú. Vùng giáp ranh
và miền núi còn có các thung lũng bao bọc các núi cao, trở thành căn cứ địa
kháng chiến như Hòa Mỹ, Dương Hòa, A-sầu, A-lưới…
Đặc điểm về kinh tế-xã hội và con người Thừa Thiên - Huế.
Thừa Thiên - Huế trình độ sản xuất còn thấp kém, ruộng đất nói chung
cằn cỗi và phần lớn là công điền. Nhân dân sống chủ yểu bằng nghề nông
nhưng lương thực thường không đủ cho địa phương, một số sống bằng nghề
đánh cá và tiểu thương. Những vùng gọi là trù phú ở đồng bằng về làm ruộng
hoặc đánh cá, dưới thời Mỹ ngụy tuy có được trang bị thêm chút ít máy móc
nhỏ, nhưng sản xuất chủ yếu vẫn là thủ công, năng suất rất thấp. Đặc biệt ở
vùng cao, đồng bằng các dân tộc ít người từ bao đời vẫn sống theo lối du canh
du cư, lương thực làm ra chỉ đủ ăn chủ yếu là sắn, ngô, dựa vào củ rừng hoặc
trao đổi lâm sản với vùng xuôi để lấy gạo, muối mà sinh sống.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tại các vùng giải
phóng và căn cứ địa của ta (chủ yếu là rừng núi) các dân tộc ở phân tán (du
canh du cư) sức sản xuất thấp kém, vận tải ở đây chủ yếu dựa vào cùi, cõng
và các phương tiện thô sơ khác. Nhân dân các dân tộc đã nỗ lực rất lớn, chịu
đựng biết bao gian khổ, hết lòng đóng góp với cách mạng. Địch đã tìm mọi
cách đánh phá ác liệt rải chất hóa học triệt phá mùa màng và bao vây cô lập
căn cứ của ta, cắt đứt hành lang tiếp tế từ miền Bắc vào và từ đồng bằng lên,
làm cho cuộc sống của nhân dân miền núi càng cực khổ, nạn đói thường
xuyên đe dọa. Sự nghèo nàn và lạc hậu về cơ sở vật chất là một nhược điểm,
8
đồng thời là khó khăn thường xuyên tác động đến mọi sinh hoạt, chiến đấu
xây dựng quê hương.
Với việc mở rộng thị trường buôn bán ở trong nước và ngoài nước,
giao lưu thương mại đã kích thích nền kinh tế hàng hóa phát triển và gắn liền
với nó là sự phát triển của các ngành thủ công như dệt, thêu, làm nón, làm
chống Mỹ lật ngụy trong đó nổi bật phong trào của hàng chục vạn học sinh,
sinh viên Huế, có nhiều tri thức nổi tiếng đã thường xuyên châm ngòi nổ và là
nơi phát khởi nhiều làn sóng đấu tranh chính trị rộng lớn chống xâm lược Mỹ
và bè lũ tay sai nhiều phen làm cho bọn địch phải nghiêng ngả, khiếp đảm.
Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, trực tiếp là sự lãnh đạo của Khu ủy,
quân và dân Thừa Thiên - Huế đoàn kết chiến đấu, phát huy sức mạng đoàn
kết đấu tranh quân sự chính trị ở cả ba vùng: vùng núi, nông thôn đồng bằng
và thành thị, nêu cao ý thức tự lực tự cường, đoàn kết nghị lực và trí tuệ, tính
mạng và của cải, đánh Mỹ lật ngụy đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Với những đặc điểm về mặt địa lí và lịch sử nên tỉnh Thừa Thiên - Huế
không chỉ là trung tâm chính trị của chế độ thực dân phong kiến, đế quốc mà
còn là vị trí chiến lược quan trọng về mặt quân sự. Có thể nói từ khi thất thủ
Kinh đô đến 1945 là thời kì chuyển tiếp để Huế bàn giao lại cho lịch sử vai trò
Kinh đô của nước Việt Nam, nhưng Thừa Thiên - Huế vẫn giữ lại trong lịch sử
vai trò là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Đi qua hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bằng bản sắc của mình, Thừa Thiên
- Huế vẫn chứng tỏ khả năng miễn dịch hết sức mạnh mẽ trước sức tấn công
của văn hóa thực dân cũ và mới, góp phần to lớn trong lĩnh vực bảo vệ và phát
huy văn hóa dân tộc. Kế thừa một gia sản nghèo nàn về cơ sở vật chất kỹ thuật,
Thừa Thiên - Huế bước vào kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội với những
khó khăn không nhỏ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Thừa Thiên - Huế đã
cố gắng chuyển mình để bắt kịp đà phát triển của đất nước.
1.2. Truyền thống cách mạng của Thừa Thiên - Huế
Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, nhân dân Huế đã cùng
nhân dân cả nước tụ nghĩa dưới trướng của các tướng lĩnh tài ba có tinh thần
yêu nước để bảo vệ Huế. Mặc dầu Huế là dinh lũy cuối cùng của chế độ thực
10
dân phong kiến ở Trung Kỳ, được bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng không vì thế
Khoa Văn. Đặc biệt là sự ra đời của tổ chức cách mạng ở Thừa Thiên Huế:
Đảng Tân Việt, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Qua các
phong trào đấu tranh, tri thức, học sinh Huế đã dần dần khẳng định được vị trí
của mình trong cuộc đấu tranh chung vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Một trong những ảnh hưởng có tác động mạnh đến phong trào đấu
tranh của tri thức, học sinh Huế những thập niên đầu thế kỷ XX là ảnh hưởng
của cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917 mở ra một thời đại mới
trong lịch sử loài người, thời đại mà trong đó cách mạng giải phóng dân tộc là
một bộ phận khăng khít với cách mạng của thế giới. Và sự truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng
chí của mình thực hiện qua các con đường bí mật, từ Pháp, Quảng Châu, ảnh
hưởng của cách mạng tháng Mười Nga đã lan rộng trong nhân dân ta. Ở Thừa
Thiên - Huế đã xuất hiện nhiều tác phẩm của Mác - Ăngghen như: “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản”, “Tư bản luận” cùng nhiều bài viết ca ngợi thắng
lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga.
Hoạt động của đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài, cùng với
những tác phẩm của Người như: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Báo “Người
cùng khổ” cũng tác động rất sâu sắc tới nhận thức tư tưởng của thanh niên trí
thức Huế, hướng dẫn họ tham gia vào các hoạt động cách mạng. Qua báo
Người cùng khổ thanh niên học sinh Huế bắt đầu biết đến Nguyễn Ái Quốc
với cách mạng tháng Mười Nga.
Năm 1921 học sinh lớp Đệ tam trường Quốc học bãi khóa, có sự tham
gia của đồng chí Trần Phú, sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.
Năm 1924 một số giáo viên tiến bộ trong các trường Quốc học, Quốc
Tử giám và một số y sĩ trong bệnh viện, do chán ghét chế độ thực dân, có tinh
thần yêu nước đã đứng ra tổ chức hoạt động công khai, tiêu biểu trong nhóm
này là Trần Đình Ngân, Trần Đình Nam, Lê An…Cũng trong thời gian này
phong trào đọc sách tiến bộ cũng phát triển ở nhiều nơi trong tỉnh.
những năm trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 3-2-1930, Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát
triển của dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên Huế, phong trào đấu tranh
trong các xí nghiệp, trường học phát triển rất nhanh. Mặc dù bị đàn áp khốc liệt,
Đảng bộ Thừa Thiên - Huế đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi
13
qua các cao trào 1930 -1931, 1936-1939 và đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám
năm 1945, và trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Cách mạng tháng Tám ở Thừa Thiên - Huế (1940-1945)
Sau khi bị lôi vào vòng binh lửa của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai,
chính phủ phản động Pháp liền thi hành một chính sách hoàn toàn phát xít,
giải tán Đảng Cộng sản và các tổ chức dân chủ tiến bộ ở trong nước cũng như
ở các nước thuộc địa của Pháp. Tỉnh ta có thành phố Huế lúc bấy giờ là trung
tâm chính trị của Trung kỳ nên chính sách đàn áp bóc lột ở đây càng nặng nề.
Giữa năm 1940, thấy được nhu cầu cần có tổ chức Đảng trong lao tù để
lãnh đạo các cuộc đấu tranh và giữ mối liên lạc với Đảng, đồng chí Nguyễn Chí
Thanh cùng một số đồng chí chủ chốt khác của Đảng bộ tỉnh đã quyết định
thành lập chi bộ Thừa Phủ. Chi bộ đã chú trọng đến việc nâng cao giác ngộ, bồi
dưỡng năng lực công tác, khí tiết cách mạng cho đảng viên để sẵn sàng đối phó
với sự đàn áp dã man của kẻ thù. Trong lao Thừa Phủ, chi bộ lãnh đạo nhiều
cuộc đấu tranh chống chính sách khủng bố, đàn áp dã man của nhà tù, đòi cải
thiện đời sống tù nhân. Đêm 13 rạng ngày 14-7-1940, truyền đơn xuất hiện
nhiều nơi trong thành phố Huế và các địa phương như: Thanh Lương (Hương
Trà), Tài Ba, Sịa, Niêm Phò (Quảng Điền), Ưu Điềm, Phò Trạch, Phò Ninh
(Phong Điền), Diêm Trường (Phú Lộc). Truyền đơn kêu gọi nhân dân tiếp tục
chống chiến tranh đế quốc, chống chủ trương đưa thanh niên Đông Dương sang
Phú Bài. Lực lượng Pháp khá đông nhưng tinh thần rất bạc nhược nên cầm cự
yếu ớt và đầu hàng ngay đêm đó. Sáng 10-3, quân Nhật làm chủ hoàn toàn
thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên - Huế, kiểm soát toàn bộ các đồn bốt, công
sở, đường giao thông.
Ngày 11-3, vua Bảo Đại theo lệnh Nhật đã triệu tập Hội đồng cơ mật
của triều đình Huế, ra tuyên bố “Việt Nam độc lập” xóa bỏ những hiệp ước đã
kí với Pháp và xác lập quan hệ với chính phủ Nhật Bản để xây dựng “khối
thịnh vượng chung đại Đông Á”.
Như vậy, kể từ khi Nhật đảo chính Pháp, tình hình chính trị ở Thừa
Thiên - Huế, đặc biệt là kinh đô Huế diễn biến rất phức tạp. Thực tế lịch sử
đòi hỏi tổ chức Đảng ở Thừa Thiên - Huế phải kịp thời có chủ trương và sách
lược đúng đắn với kẻ thù và những tổ chức chính trị của chúng.
Tháng 7 năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến
chuyển, ngày tận thế của chủ nghĩa phát xít đang đến gần, Thường vụ Việt
Minh tỉnh triệu tập cuộc họp khẩn cấp tại nghẹo Giàng Xay (An Cựu) để xúc
15
tiến việc võ trang khởi nghĩa. Được tin phát xít Nhật có nguy cơ bị tiêu diệt,
ngày 10-8-1945, Thường vụ Việt Minh tỉnh họp thảo luận kế hoạch khởi nghĩa
ở Thừa Thiên - Huế.
Đúng như ta dự đoán, ngày 14-8-1945 phát xít Nhật đầu hàng Đồng
minh, thường vụ Tỉnh ủy triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh tại nhà ông Tô
Tuấn và bà Phan Thị Luận ở 16 Giáp Hạ (phường Phú Bình - Huế). Hội nghị
hoàn toàn nhất trí với chủ trương khởi nghĩa và quyết định chọn huyện Phú
Lộc để phát động giành chính quyền trước nhằm rút kinh nghiệm cho các
huyện khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Huế tiến hành khởi nghĩa.
Tại các huyện, khí thế cách mạng quần chúng sôi sục. Từ ngày 18 đến
22 -8-1945, thực hiện quyết định của Hội nghị mở rộng ngày 15-8, các Uỷ
ban khởi nghĩa đã tổ chức lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
những thử thách nghiêm trọng, tưởng chừng như không vượt qua nổi. Song
nhân dân Thừa Thiên - Huế có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đấu
tranh cách mạng kiên cường, có khối đoàn kết toàn dân, có chính quyền mới,
đặc biệt có một Đảng bộ kiên cường trong đấu tranh cách mạng được nhân
dân tin cậy, lại được sự chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Trung ương Đảng đã
vượt qua những thử thách của tình hình “ngàn cân treo sợi tóc” để đưa phong
trào cách mạng tiến lên, giữ vững thành quả cách mạng Tháng Tám.
Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, âm mưu trở lại xâm
lược nước ta. Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ nổ ra. Hưởng ứng lời kêu
gọi của Hồ Chủ tịch ủng hộ sức người, sức của cho đồng bào miền Nam kháng
chiến, Đảng bộ Thừa Thiên - Huế đã động viên con em mình vào Nam chiến
đấu. Phong trào “Nam tiến” và “Tây tiến” ở Thừa Thiên - Huế khá sôi nổi.
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương và Hồ Chủ tịch, Đảng bộ
Thừa Thiên - Huế đã thực hiện đối sách với quân Tưởng là hết sức mềm dẻo,
hòa hoãn và tránh những cuộc va chạm để rơi vào âm mưu khiêu khích của
chúng. Đối với bọn phản động tay sai của quân đội Tưởng Giới Thạch thì
cương quyết không cho một đảng phái phản động nào được lập trụ sở và hoạt
động trên đất Thừa Thiên - Huế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân
Thừa Thiên - Huế đã đối phó khéo léo và cương quyết đối với quân đội
Tưởng Giới Thạch và bọn tay sai.
17
Đối với thực dân Pháp, nhân dân ta đã thấy rõ dã tâm xâm lược của
chúng. Ngày 6-3-1946, Chính phủ ta đã kí với đại diện của chính phủ Pháp
bản Hiệp định sơ bộ, đặt cơ sở cho một cuộc đàm phán chính thức.
Trước tình hình đó, thái độ của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên - Huế
là bình tĩnh, sáng suốt, chấp hành triệt để những điều khoản của Hiệp định sơ
bộ, kìm chế, tránh những va chạm, xung đột, tìm cách ngăn chặn những hành
tiện cho Quảng Bình, Quảng Trị và Trung Lào để sửa soạn cho kế hoạch
khủng bố xuân hè 1949. Trước tình hình ấy, hưởng ứng nhật lệnh ngày 1-1
của đại tướng Võ Nguyên Giáp, ta chủ trương đánh giao thông nhằm vào các
đoàn tàu chở vũ khí quan trọng của địch để phá kế hoạch của chúng, lấy vũ
khí của chúng trang bị cho các đơn vị, cổ vũ các đại đội độc lập, lực lượng vũ
trang địa phương, đẩy mạnh tác chiến, tạo bước phát triển mới trong phong
trào chiến tranh du kích. Thực hiện chủ trương trên, ngày 12-1-1949, trận giao
thông chiến, tiêu diệt, phá hỏng phương tiện chiến tranh của địch được tiến
hành đầu tiên tại Hói Mít (Phú Lộc). Đây là trận phục kích tấn công đoàn xe
lửa của địch dưới chân đèo Hải Vân cách ga Lăng Cô 2km.
Đầu năm 1952 với những âm mưu thủ đoạn mới Pháp gây cho ta không
ít khó khăn, nhiều làng mạc bị triệt hạ, chiến trường ngày càng quyết liệt. Ngày
6-2-1952, Thường ủy Tỉnh ủy Thừa Thiên họp để kiểm điểm, phân tích, đánh
giá tình hình địch và ra chỉ thị về việc “vận động phong trào tòng quân”. Đặc
biệt là phong trào toàn dân tự nguyện tự giác tham gia ngụy vận, liên kết ngụy
vận với chống tổng động viên của địch, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giải
thích trong nhân dân các chính sách, chủ trương của Chính phủ, của Đảng. Các
cuộc càn quét của địch đều bị quân và dân Thừa Thiên - Huế bẽ gãy liên tục
gây cho địch nhiều tổn thất.
Đầu năm 1954, với khí thế mới của cục diện chiến tranh trong cả nước,
chiến trường Thừa Thiên - Huế tích cực đấu tranh chính trị kết hợp diệt ác
phá tề, phá thế kìm kẹp, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng kháng
chiến toàn dân toàn diện. Để ngăn chặn địch, hạn chế chúng di chuyển quân
phối hợp càn quét, cướp phá, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã liên
tục chặn đánh trên những trục đường giao thông quan trọng.
Bước sang xuân hè 1954, những thắng lợi liên tiếp trên các chiến
trường khác trong cả nước đã cổ vũ mạnh mẽ quân và dân tỉnh ta. Giữa lúc
quân và dân Thừa Thiên - Huế đang liên tục tấn công địch thì trên khắp các
19
chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Xét toàn cục về mặt chiến lược, nó
được chia làm hai giai đoạn cơ bản: giai đoạn một, từ năm 1954 – 1973,
“đánh cho Mỹ cút”; giai đoạn hai, từ năm 1973 – 1975, “đánh cho ngụy
nhào”, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước.
Bị thất bại đau đớn trước đòn tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến
trường miền Nam và cuộc tập kích không quân chiến lược vào Hà Nội, Hải
Phòng vào cuối tháng 12-1972, Chính phủ Mỹ buộc phải chấp nhận ký Hiệp
định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27-1-1973);
đơn phương rút hết quân chiến đấu Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ
ra khỏi miền Nam Việt Nam (29-3-1973). Tuy nhiên, với bản chất ngông
cuồng, hiếu chiến, Mỹ ngấm ngầm gia tăng ngân sách viện trợ, đưa thêm
nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, nhằm "vực" quân đội
Sài Gòn có đủ sức đương đầu với Quân giải phóng miền Nam nói riêng, quân
và dân miền Nam nói chung.
Được Mỹ "hà hơi, tiếp sức," quân đội Sài Gòn đã huy động khoảng 6070 tiểu đoàn chủ lực cơ động phối kết hợp với quân địa phương và các lực
lượng khác, trong thời gian ngắn triển khai hàng trăm nghìn cuộc hành quân
"lấn chiếm, bình định" quy mô khác nhau. Chúng xác định đây là "keo cuối
21