BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
BÙI MINH NHẬT
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CHỈ SỐ ABI TRONG SÀNG LỌC
BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI Ở NGƯỜI TRÊN 60 TUỔI
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số:
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
GS.TS. NGUYỄN HẢI THỦY
HUẾ - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến:
Ban giám hiệu Trường đại học Y Dược Huế
Ban giám đốc bệnh viện Trường đại học Y Dược Huế
Phòng đào tạo đại học Trường đại học Y Dược Huế
Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện trường đại học Y Dược Huế
Thư viện Trường đại học Y Dược Huế
Ban chủ nhiệm, các thầy, cô trong bộ môn nội Trường đại học Y Dược
Huế đã trực tiếp giảng dạy và giúp đở tôi trong quá trình học tập và thực hiện
luận văn này.
BMI
: Body Mass Index
CS
: Cộng sự
ĐM
: Động mạch
ĐMCD
: Động mạch chi dưới
ĐTĐ
: Đái tháo đường
HATTCC
: Huyết áp tâm thu cổ chân
HATTCT
: Huyết áp tâm thu cánh tay
HDL
UKPDS
: United Kingdom Prospective Diabetes Study
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................................................................1
CHƯƠNG 1 ........................................................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................................................................................3
1.1. ĐỊNH NGHĨA............................................................................................................................3
1.2. GIẢI PHẤU HỆ ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI...................................................................................3
1.3. SINH LÝ BỆNH CỦA BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI.................................................................4
1.3.1. Quá trình phát triển VXĐM..............................................................................................5
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh.............................................................................................................5
1.4. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI....................................................8
1.4.1. Các yếu tố nguy cơ thuộc cơ địa......................................................................................8
1.4.2. Các yếu tố nguy cơ có thể dự phòng................................................................................8
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI........................................11
1.5.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh động mạch chi dưới........................................................11
1.5.2. Các phương pháp cận lâm sàng....................................................................................16
1.6. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỈ SỐ ABI....................................................................25
CHƯƠNG 2......................................................................................................................................27
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................................27
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU....................................................................................................27
2.1.1. Nhóm nghiên cứu..........................................................................................................27
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.....................................................................................27
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ.........................................................................................................27
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................................................27
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.......................................................................................................27
BÀN LUẬN........................................................................................................................................44
4.1. BÀN LUẬN VỀ TỈ LỆ ABI THẤP................................................................................................44
4.2. BÀN LUẬN VỀ TỈ LỆ MẮC CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ Ở ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.....................46
4.3. BÀN LUẬN VỀ MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ ABI THẤP VỚI CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ.............47
4.3.1. Chỉ số ABI và hút thuốc lá..............................................................................................47
4.3.2. Chỉ số ABI và tăng huyết áp...........................................................................................48
4.3.3. Chỉ số ABI và đái tháo đường.........................................................................................48
4.3.4. Chỉ số ABI và tăng lipid máu...........................................................................................49
4.3.5. Chỉ số ABI và tuổi...........................................................................................................49
4.3.6. Chỉ số ABI và giới tính....................................................................................................49
4.3.7. Chỉ số ABI và vòng bụng, BMI........................................................................................50
KẾT LUẬN.........................................................................................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................................1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch ngoại vi đang dần chiếm một vị trí quan trọng trong
chăm sóc sức khỏe do tỉ suất và tỉ lệ mắc cao cũng như hậu quả nặng nề của
nó gây ra. Theo kết quả nghiên cứu của cuộc điều tra dinh dưỡng và sức khỏe
tại Mỹ năm 1999-2000 ( nghiên cứu NHANES National Health and Nutrition
Examination Study) trên 2174 người > 40 tuổi, tỷ lệ mắc động mạch ngoại vi
chiếm 4.3% [56]. Tương tự, theo kết quả nghiên cứu dịch tể học
PERART/ARTPER trên 3786 bệnh nhân lứa tuổi > 49 tại Tây Ban Nha, tỉ lệ
mắc bệnh động mạch ngoại vi đến 7.6% [49].
Bệnh động mạch chi dưới là bệnh lý thường gặp nhất trong các bệnh
động mạch ngoại vi. Đây là biểu hiện tại chổ của bệnh toàn thân liên quan đến
xơ vữa động mạch, bệnh có thể phối hợp với tổn thương mạch vành hay mạch
não đưa lại nguy cơ tử vong cao , theo Kallero 1985 tỉ lệ tử vong của bệnh
ngoại vi ở nhóm tuổi 40-49 chỉ chiếm 0,9%, nhóm tuổi 50-59 chiếm 2,5%,
nhóm tuổi từ 60-69 chiếm 4,7%, nhưng nhóm tuổi > 70 tuổi chiếm tới 14,5%
[38] .Với điều kiện ở nước ta, cần nhận ra vai trò của chỉ số ABI trong việc
sàng lọc bệnh động mạch chi dưới để tiến hành áp dụng trước hết cho người
già. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “ Vai trò của chỉ số ABI trong
sàng lọc bệnh động mạch chi dưới ở người > 60 tuổi”. Qua nghiên cứu, có 2
mục đích cần đạt được:
1. Khảo sát tỉ lệ mắc bệnh động mạch chi dưới thông qua đo chỉ số cổ
chân- cánh tay ( ABI) nhập viện tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
2. Xác định mối liên quan giữa giá trị của chỉ số ABI với triệu chứng
lâm sàng và các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch chi dưới.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐỊNH NGHĨA
Theo hội nghị chuyên đề bệnh lý mạch máu ngoại vi do xơ vữa lần thứ
2 năm 2008 của Hội tim mạch Hoa Kỳ, bệnh lý động mạch ngoại vi là một
thuật ngữ mô tả tình trạng bệnh lý do xơ vữa hệ thống động mạch ngoại vi
bao gồm hệ động mạch chi trên, chi dưới. Như vậy, bệnh động mạch ngoại vi
không bao gồm các bệnh lý của động mạch vành, động mạch não, động mạch
mạc treo hay động mạch thận do xơ vữa mạch máu, đồng thời cũng loại trừ
các bệnh lý động mạch ngoại vi không do xơ vữa [39].
Do đó, bệnh động mạch chi dưới (ĐMCD) là bệnh lý hệ động mạch chi
dưới, loại trừ các bệnh lý khác không có nguyên nhân xơ vữa. Bệnh ĐMCD là
tình trạng bệnh lý của động mạch chủ bụng và các động mạch chi dưới, trong
đó lòng động mạch bị hẹp gây giảm tưới máu cơ và các bộ phận liên quan (da,
thần kinh) phía hạ lưu. Bệnh nhân bệnh ĐMCD có thể biểu hiện triệu chứng
lâm sàng hoặc chưa, nhưng chỉ số huyết áp cổ chân- cánh tay (ABI) giảm so
chỉ gồm nguyên nhân bệnh động mạch do xơ vữa [39].
Xơ vữa động mạch (XVĐM) là hiện tượng xơ hóa thành ĐM bao gồm
các ĐM trung bình và ĐM lớn. Biểu hiện chủ yếu là sự lắng động mỡ và các
mảng tế bào tại lớp bao trong thành ĐM gọi là mảng vữa.
Đầu tiên mảng vữa chỉ là sự dày lên của thành mạch máu, nhưng trong
quá trình diễn tiến bệnh theo thời gian và điều kiện phát triển, các mảng vữa
trở nên nguy hiểm do lồi vào bên trong lòng ĐM làm cản trở luồng máu. Hậu
quả gây hẹp ĐM sau đó gây tắc ĐM [12],[68].
5
1.3.1. Quá trình phát triển VXĐM
Giai đoạn đầu: do rối loạn huyết động tại chổ (hiện tượng xoáy máu)
làm biến đổi cấu trúc bình thường của lớp nội mạc. Tổn thương xuất hiện sớm
nhất là tình trạng phù nề không có mỡ, về sau mới xuất hiện các tế bào ăn mỡ
dưới dạng các tế bào có hạt, tụ lại thành đám dưới tế bào nội mô. Giai đoạn
này thành mạch bị rối loạn tạo điều kiện cho sự lắng đọng lipid. Tiếp theo là
sự hình thành những vệt mỡ trên bề mặt nội mạc.
Giai đoạn hai, mảng xơ vữa đơn thuần xuất hiện. Mảng bao gồm một
vỏ bằng mỡ chứa cholesterol và mảnh tế bào, với bao tế bào bọt. Lớp vỏ bằng
mỡ này nằm trong một mang dày, xơ tạo bởi collagen và mô cơ mềm viêm
toàn bộ lớp nội mạc và làm giảm đi lớp trung mạc. Tuy vậy, mảng vữa vẫn
còn được bao bọc bởi một lớp tế bào nội mạc. Mạch máu nuôi xuất phát từ
lớp ngoại mạc cũng xuyên qua lớp trung mạc cho đến khi chạm đến đáy mảng
vữa. Ở giai đoạn này, luồng máu vẫn chưa bị ảnh hưởng.
Giai đoạn sau cùng là sự biến đổi mảng vữa và gây biến chứng, làm tắc
nghẽn khẩu kính lòng mạch và gây nên tai biến thiếu máu cục bộ. Hiện tượng
chủ yếu của quá trình này là sự loét của lớp nội mạc, nghĩa là lớp tế bào nội bì
bị xé rách. Máu sẽ chảy qua chổ loét tạo nên cục máu tụ. Sự rách của nội mạc
gây ra sự dính của tiểu cầu, xuất phát của tắc nghẻn và tạo tành cục tắc, cục
nội mạc tổn thương bài tiết. Những yếu tố này đưa đến hình thành mảng sợi
và những tổn thương khác sâu sắc hơn,[42],[57].
1.3.2.2. Giả thuyết về tế bào
Sự xâm nhập vào thành ĐM của bạch cầu đơn nhân mất khả năng thực
bào làm tổn thương hoặc kích thích phát triển các tế bào cơ trơn, đại thực bào,
tổ chức liên kết, lipid, phát triển những vùng tổn thương từ đó gây VXĐM
như thuyết tổn thương đã nêu [57].
7
1.3.2.3. Giả thuyết về ty lạp thể
Các men ty lạp thể tế bào ở thành mạch có thể gây thoái hóa và tích tụ
mỡ ở tế bào cơ trơn, nhất là men cholesterol ester hydrolase .
1.3.2.4. Giả thuyết đơn dòng (Monoclonal hypothesis)
Tại nơi tổn thương, nội mạc động mạch sản sinh những dạng isozym
kích thích phát triển tế bào cơ trơn của thành mạch giống cơ chế tạo u lành
tính, sau đó là quá trình tạo xơ vữa.
1.3.2.5. Giả thuyết về lipid (Lipogenic hypothesis)
Dựa vào sự gia tăng LDL.C (Low Density Lipoprotein Cholesterol)
huyết tương trong những người có tổn thương XVĐM. Có sự lắng đọng lipid
ở tế bào cơ trơn tăng sinh, ở đại thực bào và ở ngoài tế bào (trong tổ chức liên
kết) trong các tổn thương XVĐM.
Đây là giả thuyết được nhiều tác giả công nhận nhất bởi những ghi
nhận sau [12],[52]:
- Có thể gây VXĐM trên thực nghiệm ĐM với chế độ ăn nhiều mỡ và
cholesterol.
- Những người có nồng độ lipid cao hay bị VXĐM hơn những người
bình thường.
- Thành phần cấu trúc của mảng VXĐM chủ yếu là lipid.
Bình thường lớp nội mạc có quá trình chuyển hóa rất mạnh, đặc biệt với
1.4.2. Các yếu tố nguy cơ có thể dự phòng
1.4.2.1. Thuốc lá
Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng thuốc lá góp phần quan trọng trong
sự phát triển của bệnh ĐMCD và là yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh này.
Thuốc lá làm tăng tần suất mắc bệnh ĐMCD. Số lượng thuốc lá được tình bởi
công thức:
Số gói.năm = số gói / ngày x số năm hút thuốc.
9
Nguy cơ này là toàn cầu và giống nhau ở hai giới. Nghiên cứu của
Freund và cộng sự (1993) cho thấy tỷ suất chênh lệch giữa người hút thuốc lá
và không hút thuốc lá là 3,2 [9],[12]. Các nghiên cứu dịch tể lớn cho thấy hút
thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐMCD gấp 2-6 lần, và tăng nguy cơ cắt
cụt chi từ 3-10 lần. Hơn 80% bệnh nhân mắc bệnh ĐMCD có hút thuốc lá .
1.4.2.2. Tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) cũng là yếu tố nguy cơ cao của bệnh ĐMCD.
Huyết áp cao làm tăng sinh tế bào cơ trơn làm dày trung mạc ĐM và làm gia
tăng chất elastin, chất keo và glycosaminoglycans. Áp lực do huyết áp cao tạo
ra cũng làm dễ mảng xơ vữa cũng như làm tăng tính thấm của nội mạc với
cholesterol. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc bệnh THA cao ở bệnh
ĐMCD: tỉ lệ này là 51,9% so với tỉ lệ mắc bệnh THA ở người bình thường
chỉ là 9,8% [31]. Trong nghiên cứu của Framingham, THA làm tăng nguy cơ
bị đau cách hồi lên 2,5 lần đối với nam, và 4 lần đối với nữ, mức độ tăng tỉ lệ
thuận với mức độ nặng của THA [58].
1.4.2.3. Tăng lipid máu
Hầu hết các khảo sát dịch tể học đều xác nhận tăng cholesterol máu là
nguy cơ chính gây XVĐM, tuy nhiên nguy cơ này tùy thuộc vào loại
lipoprotein chuyên chở cholesterol. Nhưng tăng LDL-cholesterol dù ở mức độ
nào trong máu đều tăng nguy cơ gây XVĐM. Lipoprotein (a) cũng là yếu tố
đưa đến đến dễ tạo cục máu đông [5],[58].
Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng đi lệch cách hồi ở bệnh nhân ĐTĐ thay
đổi tùy tác giả, với Framingham (1989) là 11,5% ở nam và 8,6% ở nữ; với
Uusitupa (1990) là 40% ở nam và 44% ở nữ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy ĐTĐ là tăng nguy cơ mắc bệnh ĐMCD lên
2-4 lần [24],[35],và khoảng 12-20% bệnh ĐMCD có kèm theo ĐTĐ [30],
[48]. Trong nghiên cứu Framingham, ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị đau cách hồi
chi dưới gấp 3,5 lần với nam giới và 8,6 lần với nữ giới [50]. Hơn nữa, nguy
cơ phát triển bệnh ĐMCD tương xứng với mức độ nặng và thời gian mắc
bệnh ĐTĐ [26],[36]. Khi so sánh bệnh ĐMCD giữa hai nhóm mắc ĐTĐ và
11
không mắc ĐTĐ, nghiên cứu của Lange S đã chỉ ra tỉ lệ mắc bệnh ĐMCD ở
nhóm ĐTĐ cao hơn hẳn với tỷ lệ 26,3% so với 15,3% . Theo nghiên cứu
UKPDS ( United Kingdom Prospective Diabetes Study) HbA1c tăng lên mỗi
1% sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐMCD thêm 28% [26].
1.4.2.6. Tăng Homocystein máu
Tăng homocystein máu làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý ĐM do xơ
vữa từ 2-3 lần. Một nghiên cứu đa phân tích chỉ ra homocystein máu tăng mỗi
5 µmol/l làm tăng tỉ suất chênh của bệnh ĐM vành và đột quỵ là 1,5. Khoảng
30-40% bênh nhân bệnh ĐMCD có tăng homocystein. Homocystein máu tăng
dường như tăng nguy cơ tiến triển của bệnh ĐMCD, nhưng cơ chế cụ thể vẫn
chưa được nghiên cứu đầy đủ.
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI
1.5.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh động mạch chi dưới
Trên lâm sàng thể hiện bởi các hình thức:
1.5.1.1. Bệnh động mạch chi dưới không triệu chứng:
Khoảng 40% bệnh nhân bệnh ĐMCD không có triệu chứng lâm sàng,
đặc biệt ở bệnh nhân bị ĐTĐ kèm theo có triệu chứng thần kinh ngoại vi đi
chỉ có độ nhạy từ 60-68% cho dù có độ đặc hiệu cao 90-100%. Năm 1992,
Leng và Fowkes đã đưa ra bảng câu hỏi chẩn đoán lâm sàng đau cách hồi hay
còn gọi là bảng đau cách hồi Edinburg, bộ câu hỏi này có độ nhạy 91,3% và
độ đặc hiệu 99,3% và đang được áp dụng rộng rãi để phát hiện triệu chứng
đau cách hồi .
13
Bảng 1.1. Bảng câu hỏi của Endinburg chẩn đoán đau cách hồi
(theo Leng và Fowkes 1992).
Câu hỏi
Khi bệnh nhân có triệu chứng đau ở chân
Trả lời/Chẩn đoán
hoặc không thỏa mái khi đi lại, hỏi:
Triệu chứng xuất hiện khi đứng hoặc ngồi?
Không = Đau cách hồi
Anh/chị bị đau khi đi nhanh hoặc leo dốc?
Có = Đau cách hồi
Anh/ chị có đau khi đi lại với tốc độ
Không = Đau cách hồi nhẹ
bình thường trên cùng một mặt phẳng?
do tắc mạch. Bệnh nhân bệnh ĐMCD có thiếu máu chi trầm trọng có nguy cơ
cao bị hoại tử, nhiểm trùng bàn chân, cắt cụt chi và tử vong.
14
Chẩn đoán bệnh ĐMCD thiếu máu chi dưới trầm trọng mạn tính dựa
một số dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng sau:
• Đau khi nghỉ: là cảm giác đau, rát bỏng ở vùng bàn ngón chân hoặc
xung quanh những vùng tổn thương loét hoặc hoại tử do tắc mạch. Đau
thường diễn ra vào ban đêm nhưng trong trường hợp nặng có thể xảy ra suốt
cả ngày. Đau khiến bệnh nhân phải thức giấc, nắn bóp chân hoặc đi lại xung
quanh phòng. Đau giảm khi bệnh nhân đứng nhưng tăng lên khi bệnh nhân
nâng cao bàn chân hoặc gặp lạnh. Bệnh nhân có triệu chứng này thường có
thói quen ngủ bằng cách đưa chân bị đau ra ngoài hoặc ngủ trên ghế ngủ, dẫn
đến hậu cẳng và bàn chân bị phù. Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân hầu
như không thể ngủ được vì đau xuất hiện nhanh ngay sau khi bệnh nhân vừa
bắt đầu ngủ, khiến cho người bệnh suy sụp về thể lực, tinh thần nghiêm trọng.
• Loét và hoại tử chi do tắc mạch là quá trình diễn tiến tiếp sau triệu
chứng đau khi nghỉ. Loét do tắc mạch có đặc điểm: đau, mất mạch, bờ không
đều, vị trí hay gặp ở ngón chân, không có chai chân, bàn chân lạnh.
• Hoại tử thường tác động đến ngón chên, trên những bệnh nhân nằm
liệt giường hoặc ở gót chân. Trường hợp nặng, hoại tử có thể tác động đến
phần mũi chân. Hoại tử thường khởi phát bằng một chấn thương nhỏ, áp lực
tại chổ (đi dày không phù hợp), hoặc do nhiệt, bỏng có thể dẫn tới loét hoặc
hoại tử phẩn khác của cẳng bàn chân. Hoại tử mô có thể ở dạng vảy, teo đét,
thậm chí hoại tử khô.
• Đặc điểm cận lâm sàng: với thăm dò Doppler đo được chỉ số ABI
≤ 0,4; Huyết áp tâm thu cổ chân ≤ 50 mmHg; Huyết áp tâm thu ngón chân
≤ 30 mmHg.
16
● Nghiệm pháp:
Để xác định sự biến đổi màu sắc da có thể tiến hành một trong số các
nghiệm pháp sau:
- Nghiệm pháp gấp duỗi cổ chân: bệnh nhân năm sấp, gấp khớp cổ
chân vài lần, chỉ trong vài giây đồng hồ bàn chân sẽ tái nhợt. Bảo bệnh nhân
đứng dậy, nếu sau 10 giây màu sắc bàn chân không trở lại bình thường là
chứng tỏ có rối loạn tuần hoàn rõ rệt ở chi dưới [64].
- Nghiệm pháp Oppel và Buerger: bệnh nhân nằm ngữa, duỗi thẳng
chân và giơ chân lên cao, chỉ sau vài giây màu da của chi tái nhợt. Dấu hiệu
này xuất hiện sớm bao nhiêu càng chứng tỏ sự rối loạn tuần hoàn ở chi nặng
lên bấy nhiêu [63].
- Dấu hiệu ép ngón cái: ấn vào ngón cái để máu dồn đi, sau đó thả tay.
Bình thường, sau khi thả tay thì màu sắc của ngón cái trở lại rất đậm sau vài
giây kể cả khi để chân thấp.
● Nghe:
Nghe rất quan trọng: tiếng thổi ở ĐM chủ bụng, ĐM đùi.
● Ngoài ra bệnh còn được phát hiện trong dịp khám thường qui trong
những tình huống sau:
- Bệnh suy tuần hoàn những vùng khác
- Bệnh đái tháo đường
- Nguyên nhân khác, nhất là bất lực.
1.5.2. Các phương pháp cận lâm sàng
1.5.2.1. Thăm dò bằng Doppler
1.5.2.1.1. Sơ lược nguyên lý thăm dò bằng Doppler
Thăm dò Doppel dựa trên nguyên tắc vật lý của nhà vật lý toán học
Christian Doppler tìm ra năm 1842 [2],[8].
Bình thường huyết áp tâm thu cổ chân (HATTCC) và huyết áp tâm thu
cánh tay (HATTCT) gần bằng nhau hoặc HATTCC có giá trị cao hơn một ít
do sự phản xạ sóng mạch [48]. Chỉ số ABI thay đổi tùy tác giả.
Bảng 1.2. Chỉ số ABI theo một số tác giả
Tác giả
INSERM
CRISTOL
CREAGER
BECKER
ABI
[47]
1,1 ± 0,1
ROBERT [54]
1,0 ± 0,1
MARK A [32]
1,0
JACOTTE [48]
1,13
Đánh giá mức độ lâm sàng theo chỉ số ABI của một số tác giả
Bảng 1.3. Đánh giá mức độ lâm sàng tương đương ABI theo Leriche [62].
gắng sức thực hiện nhằm tăng tốc độ dòng chảy sẽ làm tăng khả năng biểu
hiện nếu có tổn thương. Sự sụt giảm chỉ số ABI sau gắng sức giúp chẩn đoán
bệnh ĐMCD.