UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY YẾU TỐ HÌNH HỌC
VỀ THỂ TÍCH
CHO HỌC SINH LỚP 5
BỘ MÔN: TOÁN
1
Năm học 2014 - 2015
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Đổi mới phương pháp dạy yếu tố hình học về thể
tích cho học sinh lớp 5
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Toán Tiểu học
3. Tác giả:
Họ và tên: Vũ Thị Hạnh
Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 13 - 11 - 1976
Trình độ chuyên môn: ĐHTH
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn 4+5
Đơn vị công tác: Trường TH Nhân Huệ.
Điện thoại: 0979752835
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường TH Nhân Huệ
Địa chỉ: Xã Nhân Huệ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
nâng cao chất lượng dạy và học về thể tích cho HS lớp 5.
2. Các điều kiện, thời gian, đối tượng để áp dụng sáng kiến:
Điều kiện áp dụng sáng kiến:
* Đối với nhà trường: Tạo điều kiện cho GV nghiên cứu và áp dụng sáng kiến.
*Về phía giáo viên: GV phải nghiên cứu kĩ và nắm chắc nội dung chuẩn kiến
thức, kĩ năng của môn học nói chung và phần hình về thể tích một hình nói
riêng.
- Cần vận dụng phương pháp dạy học một cách linh hoạt, kích thích hứng thú
học tập và phát huy được sự sáng tạo, chủ động khám phá kiến thức của HS.
* Về phía học sinh: Có đầy đủ đồ dùng học tập, sách giáo khoa, vở ghi, có một
số sách tham khảo như: Bài tập Toán 5, vở bài tập Toán 5.
- Học sinh phải chuẩn bị bài chu đáo, có ý thức tự học, tự nghiên cứu, có lòng
hăng say trong học Toán.
Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2014 - 2015
Đối tượng áp dụng sáng kiến: học sinh lớp 5.
3. Nội dung của sáng kiến
3
+ Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Áp dụng sáng kiến trong dạy học là GV không còn phụ thuộc vào hướng
dẫn giảng dạy của sách giáo viên (SGV), không dừng lại như nội dung của sách
giáo khoa (SGK). Các giải pháp được đưa ra trên cơ sở mục tiêu của các tiết
học đảm bảo phát triển kĩ năng thực hành cho HS. Dạy học phải đi đôi với thực
hành. Chính vì vậy tôi đã đề nghị thực hiện một tiết thực hành cho phần thể
tích.
+ Khả năng áp dụng của sáng kiến:
Các giải pháp của sáng kiến được tôi áp dụng cho HS lớp 5 ở trường TH
nơi tôi công tác. Trong điều kiện nhà trường ở vùng khó khăn của thị xã Chí
Linh, HS còn chịu nhiều thiệt thòi, ít được tiếp xúc với thế giới bên ngoài,
tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của
địa phương nói riêng và của ngành giáo dục nói chung. Một trong những môn
học góp phần không nhỏ trong kết quả giáo dục HS là môn Toán.
Đối với bậc học phổ thông nói chung và bậc tiểu học nói riêng, môn
Toán với tư cách là một môn học độc lập, nó cùng với các môn học khác góp
phần đào tạo nên những con người phát triển toàn diện. Môn Toán có một vị trí
hết sức quan trọng đối với học sinh tiểu học. Trong đó nội dung hình học có
một vai trò không nhỏ đối với kết quả học tập của học sinh. Phần hình học ở
tiểu học được chia ra làm hai mảng kiến thức rõ rệt là hình học phẳng và hình
học không gian, trong đó hình học không gian chiếm một phần không nhỏ. Để
học tốt phần hình học, các nhà giáo dục đã bố trí dung lượng kiến thức từ đơn
giản đến phức tạp, từ nhận dạng hình cơ bản đến cách tính chu vi, diện tích, thể
tích theo từng khối lớp. Trong các mạch kiến thức của môn Toán lớp 5 thì nội
dung hình học được trình bày trong chương 3 với 35 tiết và 5 tiết ôn tập trong
chương 5. Ngoài ra, các bài toán có nội dung hình học còn xen kẽ trong các
chương khác chiếm tương đối nhiều tiết. Ở nội dung hình học mà học sinh lớp
5 được tìm hiểu thì toán về thể tích là một dạng bài khó mà học sinh cần nắm
chắc để vận dụng trong cuộc sống.
Qua các buổi họp tổ chuyên môn, một số đồng chí giáo viên thường đưa
ra thắc mắc về việc dạy khái niệm hình học cho học sinh lớp 4+5. Trong đó
việc dạy thể tích cho học sinh lớp 5 được nhiều giáo viên quan tâm và đưa ý
5
kiến thảo luận. Tuy nhiên, để thống nhất về phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học như thế nào cho phù hợp là vấn đề cần được tìm hiểu và nghiên cứu kĩ
hơn. Vì thế tôi luôn suy nghĩ và tìm các biện pháp để cùng thực hiện giảng dạy
trong khối sao cho chất lượng học tập của HS được nâng cao.
1.2. Trong thực tế cuộc sống
Qua việc phỏng vấn một số học sinh lớp 6 của Trường THCS mà năm
kiến đề xuất.
2. Cơ sở lí luận
Phần "yếu tố hình học” là một mạch kiến thức trong chương trình Toán ở
Tiểu học nhằm cung cấp một số kiến thức gắn với thực hành trong đời sống
thực tế, chưa là phần hình học theo nghĩa quen thuộc. Do đặc điểm phát triển trí
tuệ của học sinh tiểu học, việc dạy học các yếu tố hình học chưa thể dạy trên
phép suy diễn, mà chủ yếu dạy trên sự quan sát, thực hành, giúp học sinh bước
đầu tiếp xúc với các biểu tượng hình học cơ bản, một số tính chất của các hình
hình học.
Các hoạt động hình học ở Tiểu học bao gồm:
- Hoạt động ”thuần túy” hình học: Nhận dạng, vẽ hình, cắt ghép, xếp hình.
- Hoạt động về hình học đo lường mà cốt lõi là tính toán với các số đo đại
lượng.
- Hoạt động giải các bài toán có nội dung hình học, có sự kết hợp giữa hình
học, số học và đại lượng hình học giúp học sinh làm quen với phương pháp suy
luận, suy diễn (cuối cấp học), vận dụng kiến thức đã học giải quyết tình huống
thực tế đơn giản.
Nội dung phần dạy học về thể tích là một trong các hoạt động có nội
dung hình học. Việc nghiên cứu đưa ra các phương pháp dạy học thể tích cho
học sinh lớp 5 góp phần nâng cao chất lượng hoạt động hình học nói chung và
chất lượng phần học về thể tích nói riêng.
Ở lớp 5, nội dung phần hình học gồm:
- Giới thiệu: hình hộp chữ nhật, hình lập phương (phần hình trụ, hình cầu được
giảm tải). Tính diện tích hình tam giác, hình thang, tính chu vi, diện tích hình
tròn. Tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật,
hình lập phương. Trong đó nội dung, chương trình dạy về thể tích một hình ở
lớp 5 gồm những nội dung sau:
7
8
đưa ra nội dung thật sơ sài, khó hiểu, khó nêu bật vấn đề cho học sinh nắm
được kiến thức một cách chủ động.
- Trong quá trình hình thành công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật,
hình lập phương, GV cũng chỉ biết thực hiện theo SGK, không sáng tạo theo
một cách dễ hiểu hơn nên HS thuộc và áp dụng một cách máy móc các công
thức.
- GV chưa biết liên hệ thực tế để mở rộng kiến thức và áp dụng kiến thức
trong thực tế.
3.2. Việc học của học sinh
3.2.1. Ưu điểm:
- HS có đầy đủ SGK, vở ghi, VBT, các đồ dùng học tập.
- Chú ý nghe giảng, thực hiện các nhiệm vụ học tập theo đúng yêu cầu
của GV.
- Tích cực trong hoạt động nhóm, biết áp dụng các công thức với các số
đo cụ thể.
3.2.2. Hạn chế
- Các em được tìm hiểu bài học chủ yếu qua nội dung SGK, nên chỉ nắm
được bài một cách máy móc mà chưa thực sự hiểu về bản chất của các biểu
tượng hình học, các công thức liên quan.
- HS còn lúng túng khi tính thể tích của hình khối không phải dạng hình
hộp.
- Nhiều học sinh chưa vận dụng được công thức một cách thành thạo,
chính xác, còn sai về đơn vị đo.
- Việc vận dụng tổng hợp các kiến thức trong giải toán có lời văn còn hạn chế.
Cụ thể qua việc học sinh làm một bài kiểm tra ngắn, kết quả lớp tôi năm học
trước như sau:
Đề bài (thời gian 10 phút)
42,9%
Dưới 5
1
Theo bảng kết quả trên, tôi thấy đa số HS chỉ làm được một phần của bài
toán. Vẫn còn HS chưa đạt yêu cầu và tỉ lệ HS đạt điểm cao còn hạn chế. Điều
đó chứng tỏ HS vận dụng kiến thức chưa tốt, chưa biết phân tích tìm lời giải
của bài toán.
Từ những hạn chế của GV và HS, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện
pháp để đổi mới phương pháp đã thực hiện nhằm khắc phục các hạn chế đó,
nâng cao chất lượng của học sinh trong việc học nội dung về thể tích. Những
biện pháp sau
được tôi bắt đầu áp dụng trong năm học này. Đồng thời, tôi cũng trao đổi cùng
GV
trong khối để cùng tham khảo.
4. Các biện pháp thực hiện
4.1. Nghiên cứu kĩ nội dung phần hình học trong chương trình Toán
5
Phần hình học trong chương trình Toán 5 được trình bày trọn vẹn trong
chương 3 gồm 35 tiết (có một tiết giảm tải được thay bằng tiết do GV tự chọn).
Ngoài ra còn một số tiết trong chương 5 khi ôn tập cuối năm.
Theo tác giả cuốn “Thực hành phương pháp dạy học Toán ở TH”- Trần
Ngọc Lan thì chương trình Toán của học kì II lớp 5 có một số điểm đáng chú ý
sau:
- Mục tiêu cốt lõi trong chương trình kì II Toán 5 là hình thành khái niệm
về một số hình hình học; công thức tính diện tích, thể tích các hình và vận dụng
tổng hợp các kiến thức vào giải toán.
- Kiến thức khó đáng lưu ý là khái niệm về thể tích một hình, về đơn vị
đo thể tích.
HS.
Thể tích của một vật thể được hiểu như khả năng chiếm không gian của
vật thể đó. Biểu tượng thể tích được hình thành bằng cách xét một vật thể đặc
biệt là khối hình hộp chữ nhật. Học sinh sẽ tìm hiểu: khối hình chữ nhật này
chứa được bao nhiêu hình lập phương cạnh 1cm. Số lượng các khối hình lập
11
phương cạnh 1cm sẽ nói lên khả năng chiếm chỗ không gian của khối hình chữ
nhật. Qua đó học sinh có biểu tượng ban đầu về thể tích của khối hình chữ nhật
này. Qua các hoạt động tiếp với các khối hình hình học, HS sẽ có biểu tượng
đúng về thể tích.
Sau khi thực hiện các nội dung như SGK, tôi cho HS quan sát và so sánh
thêm về thể tích của một số vật khác, không thuộc dạng khối hộp như: viên sỏi,
hòn đá, hòn gạch, chai, lọ,..Học sinh dễ dàng nhận ra thể tích của viên sỏi nhỏ
hơn thể tích hòn đá mà các em quan sát được.
Từ các mô hình trong SGK, qua ví dụ 2( Hình C và hình D cùng có 4
hình lập phương như nhau nhưng hình dạng khác nhau), tôi giúp học sinh nhận
thấy: các hình có thể tích bằng nhau nhưng hình dạng có thể khác nhau. Qua ví
dụ 3( Hình P gồm 6 hình lập phương như nhau, ta tách hình P thành hai hình M
và N. Hình M gồm 4 hình lập phương, hình N gồm 2 hình lập phương như thế),
học sinh thấy được: Thể tích của một hình có thể tách ra mà tổng thể tích không
bị thay đổi. (GV có thể so sánh với hình học phẳng như chu vi chẳng hạn)
Cụ thể trong tiết dạy này, tôi đã thực hiện giảng dạy theo các bước như
giáo án trong phần phụ lục.(Tiết 1)
4.4. Dạy về các đơn vị đo thể tích thông dụng phải đảm bảo tính thực
tế.
Khi dạy về xăng- ti- mét khối, đề- xi- mét khối, mét khối, ngoài việc đảm
bảo
cho HS nắm được mục tiêu tiết dạy thì tôi đã liên hệ thực tế để học sinh lấy
“ Thực hành về thể tích một hình”
Thực hiện theo hướng dẫn giảm tải của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tiết
“Giới thiệu hình trụ, giới thiệu hình cầu” được giảm tải và thay vào đó nội dung
do tổ chuyên môn thống nhất. Tôi đã nghiên cứu và đề nghị Ban giám hiệu nhà
trường thống nhất trong chuyên môn thay tiết học đó bằng tiết “Thực hành về
thể tích một hình”. Ban giám hiệu nhà trường đã nhất trí với những nội dung tôi
đề xuất và duyệt kế hoạch thay đổi nội dung như trên. Trong tiết thực hành này,
tôi giúp học sinh tự đo thể tích của các loại hình hộp và thực hành đo thể tích
của một số vật thể không phải hình hộp. Đồng thời phân biệt cho HS khi nào sử
dụng từ “thể tích”, khi nào sử dụng từ “dung tích”. Các em đã biết đơn vị lít,
13
làm tính với đơn vị lít, tập đong, đo, ước lượng theo lít từ lớp 2. Mục tiêu của
tiết thực hành này là giúp học sinh có kĩ năng tìm thể tích của một hình bất kì
do GV yêu cầu. Các hoạt động cụ thể của tiết học này được thể hiện trong giáo
án phần phụ lục.(Tiết 3)
4.7. Nghiên cứu và hướng dẫn học sinh vận dụng tổng hợp các công
thức để giải các bài toán có lời văn.
4.7.1. Một số dạng bài liên quan đến thể tích hình hộp chữ nhật
Từ công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật, tôi hướng dẫn học sinh
cách rút ra các công thức liên quan:
Từ
Ta có
V=axbxc
a x b = V : c ; c = V : (a x b)
(Trong đó: V là thể tích, a là chiều dài, b là chiều rộng, c là chiều cao
của hình hộp chữ nhật; a x b là diện tích đáy của hình hộp chữ nhật.)
+ Xác định một vài yếu tố có liên quan.
+ Từ điều kiện bài toán rút ra mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và yếu
tố cần tìm.
Biểu thị bằng mối quan hệ toán học qua các công thức hoặc phép toán
thích hợp. Cần sàng lọc, lựa chọn yếu tố có liên quan.
Có thể tóm tắt đề bài toán bằng hình học, sơ đồ đoạn thẳng, ngôn ngữ, ký
hiệu sẵn có.
*Bước 2: Lập kế hoạch giải.
- Dựa vào công thức để lập kế hoạch giải.
- Tôi sử dụng lối phân tích xuất phát từ câu hỏi, yêu cầu của bài toán để
suy nghĩ xem tìm được kết quả của bài cần biết được những yếu tố nào, điều gì
đã biết. Dựa vào cái đã biết để tìm cái chưa biết.
- Qua cách phân tích ngược từ cuối lên từ các yêu cầu cần tìm trở về
những điều đã cho trong bài toán.
Sơ đồ như sau:
(cái cần tìm) X
C
B
A (cái đã biết hoặc có thể tìm được)
+ Muốn tìm X phải tìm được C.
+ Muốn tìm C phải tìm được B.
+ Muốn tìm B phải tìm được A.
* Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải.
15
Chiều dài = (Tổng + Hiệu) : 2 ; Chiều rộng = Tổng – chiều dài
Tổng của chiều dài và chiều rộng = Diện tích xung quanh : 2 : chiều
cao
16
(Tính chiều dài, chiều rộng dựa vào dạng toán Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu
của hai số đó.)
Để giải được bài toán này, từ sơ đồ biểu diễn trên ta cần làm từ dưới lên như
sau:
* Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải (viết lời giải)
Bài giải
Tổng của chiều dài và chiều rộng hình hộp chữ nhật là:
600 : 2: 10 = 30 (cm)
Chiều dài hình hộp chữ nhật là:
(30 + 6) : 2 = 18 (cm)
Chiều rộng hình hộp chữ nhật là:
30 – 18 = 12 (cm)
Thể tích hình hộp chữ nhật là:
18 x 12 x 10 = 2160 (cm3)
Đáp số : 2160 cm3
Với tất cả các bài toán lời văn, tôi đều hướng dẫn HS tự phân tích cách
giải như trên. Đây là ví dụ về một dạng bài cho HS đại trà được thưc hiện trong
các tiết học hàng ngày. Với tất cả các đối tượng HS, tôi nhận thấy cách làm này
rất phù hợp với các em. HS tiếp thu nhanh, dễ hiểu từ những bài cơ bản đến
những bài có yêu cầu phức tạp hơn. Ở bài tập trên, tôi phát triển cho HS năng
khiếu bằng cách thêm yêu cầu như sau: “ Nếu các kích thước của hình hộp chữ
nhật được tăng thêm 50% thì thể tích của hình hộp tăng bao nhiêu phần trăm?”.
Như vậy, với các bài tập cơ bản trong SGK, tôi đều có cách phát triển bài toán
*Giúp GV:
- Có được những cách làm hiệu quả trong việc dạy về thể tích một hình,
cách chuẩn bị một số đồ dùng sẵn có, đồ dùng tự làm phục vụ cho việc dạy học
về thể tích. Đồng thời sáng kiến cũng giúp GV đổi mới hình thức dạy học, tập
trung vào học sinh, phát huy tính sáng tạo của các em.
- GV chủ động hơn trong việc sử dụng SGK, sáng tạo trong dạy học, phát huy
được tính chủ động của HS, liên hệ được thực tế giúp HS hiểu rõ vấn đề.
*Giúp HS:
18
- Tích cực học tập, hăng say tìm tòi kiến thức, hiểu bài, nắm vững kiến thức và
vận dụng được trong thực tế cuộc sống.
- Các em được tìm hiểu bài học một cách chủ động, hiểu về bản chất của các
biểu tượng hình học, các công thức liên quan.
- HS biết tính thể tích của hình khối không phải dạng hình hộp.
- Nhiều học sinh vận dụng được công thức một cách thành thạo, chính xác.
- Việc vận dụng tổng hợp các kiến thức trong giải toán có lời văn có nhiều tiến
bộ.
Năm học 2014-2015 là năm học đầu tiên tôi áp dụng sáng kiến này trong
giảng dạy phần thể tích cho HS. So với năm học trước, năm học này nhiều học
sinh học rất tiến bộ, nắm chắc kiến thức, biết vận dụng trong thực tế. Năm học
trước tôi giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5a, năm học này tôi giảng dạy và chủ
nhiệm lớp 5b. Về sĩ số HS và trình độ HS của hai năm là tương đương nhau.
Tôi nhận thấy kết quả làm bài của học sinh năm học này tốt hơn hẳn so với
năm học trước về phần tính thể tích một hình.
Cụ thể thông qua một bài kiểm tra ngắn, tôi thu được kết quả như sau:
(So sánh với bài làm của HS năm trước)
Đề bài (thời gian 10 phút)
33,3% 7
19
Điểm 5-6
35,7%
46,7% 3
6
Dưới 5
42,9%
20%
1
0
7,1%
0
Qua bảng kết quả trên, tôi thấy sử dụng sáng kiến này vào dạy học về thể
tích cho học sinh lớp 5 sẽ đạt kết quả cao hơn hẳn so với năm chưa ứng dụng
phương pháp đó.
Sở dĩ lớp năm nay tôi dạy có kết quả cao hơn là do các tiết học các em
được phát huy tính tích cực, chủ động trong việc rèn luyện, củng cố, khắc sâu
và mở rộng kiến thức, nắm chắc các phương pháp giải từng dạng bài khác nhau
nên khả năng vận dụng tốt.
quan đến thể tích trong thực tế, …đó là vấn đề mà người giáo viên cần phải
quan tâm. Thông qua thực tiễn giảng dạy và qua nghiên cứu tài liệu, trao đổi
với đồng nghiệp, tôi đưa ra những giải pháp giúp GV có biện pháp nâng cao
chất lượng về thể tích cho học sinh lớp 5. Sáng kiến đã góp phần:
- Nâng cao chất lượng dạy giải toán về thể tích cho học sinh lớp 5, đáp ứng
được yêu cầu của giáo dục hiện nay là đào tạo những con người phát triển toàn
diện, linh hoạt, năng động, chủ động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề.
- Khai thác triệt để SGK, vận dụng được từ những bài cơ bản để phát triển
thành những bài toán đòi hỏi tư duy lớn hơn.
- Đổi mới cách đặt vấn đề trong dạy kiến thức mới cho học sinh một cách tích
cực.
- Giúp học sinh luôn tự giác, tích cực, chủ động học tập.
- Phát triển ở học sinh những phẩm chất đạo đức cá nhân như: tính kiên trì,
lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể. Phát triển được tinh thần
hợp tác và tương trợ lẫn nhau.
- Học sinh nắm vững, hiểu sâu và bền vững hơn về kiến thức.
Với kết quả đạt được như trên đã giúp tôi tự tin, mạnh dạn hơn để báo cáo
sáng kiến trước hội đồng khoa học của nhà trường và được hội đồng khoa học
của nhà trường đánh giá cao. Đó cũng là niềm động viên, khích lệ giúp tôi ngày
càng hăng say nghiên cứu, tìm tòi để nâng cao trình độ chuyên môn.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với nhà trường:
- Tổ chức các chuyên đề về dạy tính thể tích ở các dạng bài để giáo viên được
bồi dưỡng, học hỏi các phương pháp dạy học hay.
21
- Cần tiếp tục cung cấp đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trang thiết bị
dạy học,…khuyến khích các lớp thi đua đọc tạp chí về Toán học, tổ chức Câu
lạc bộ Toán học.
II- Đồ dùng dạy học:
- Thước, phấn màu, khối hộp chữ nhật trong suốt, khối hình lập phương, một số
viên sỏi, hòn đá nhỏ, chai, lọ, quả cam, dao con.
III- Các hoạt động dạy học chủ yếu:
1. Kiểm tra bài cũ.
- Nêu cách tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần hình hộp chữ nhật và
hình lập phương.?- 2 HS lên bảng trả lời
- Nhận xét, đánh giá.
2. Bài mới
2.1. Giới thiệu về thể tích của một hình.
Ví dụ 1: Lấy trong bộ đồ dùng:
- GV cho hs quan sát các mô hình:
- HS quan sát
hình hộp chữ nhật trong suốt chiều dài 20cm,
chiều rộng 16cm, chiều cao 10cm
và hình lập phương cạnh 1cm.
- GV đặt hình lập phương cạnh 1cm vào
trong hình hộp chữ nhật
- GV nêu: Thể tích hình lập phương bé
23
hơn thể tích hình hộp chữ nhật hay thể tích hình hộp chữ nhật lớn hơn thể tích
hình lập phương.
- GV đưa một số mô hình khác bằng
- HS quan sát và nhận xét về thể tích
- HS quan sát nhận xét theo hình vẽ
Kết luận: Thể tích của một hình có thể
SGK.
tách ra mà tổng thể tích không bị thay
đổi. (GV có thể so sánh với hình học
phẳng như chu vi chẳng hạn)
- Gv cắt đôi một quả cam, cho HS so
- HS nhận thấy thể tích của hai nửa quả
sánh thể tích của hai nửa quả cam và
cam chính là thể tích của quả cam lúc
quả cam lúc đầu.
đầu.
2 Thực hành
Bài 1.
- HS đọc yêu cầu bài 1.
- Hình A gồm 16 hình lập phương nhỏ.
- HS quan sát, nhận xét các hình trong
Hình B gồm 26 hình lập phương nhỏ.
- Nêu cách làm của mình.
Thể tích hình B bé hơn hình A.
- Nhận xét bài làm trên bảng, chữa bài.
Bài 3.
- Gọi hs đọc yêu cầu bài
- HS đọc yêu cầu bài .
- GV lấy 6 hình lập phương, gọi HS lên - HS lên bảng xếp
xếp theo yêu cầu
- Lớp theo dõi, nhận xét
- Nhận xét, chốt ý đúng
IV. Củng cố - dặn dò
- Nhận xét chung giờ học
- Cả lớp lắng nghe
- CBBS
2. Tiết 2: Giáo án minh họa tiết dạy hình thành công thức tính thể tích
hình hộp chữ nhật.
Toán
THỂ TÍCH HÌNH HỘP CHỮ NHẬT