skkn một số kinh nghiệm dạy các yếu tố hình học lớp 3THCS ai thương - Pdf 18

PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình môn Toán ở tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất
lớn trong quá trình học tập của học sinh tiểu học. Thông qua việc dạy -
học Toán, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy một cách tích cực.
Rèn cho các em kỹ năng tính toán, thực hành đo đạc Từ đó các em có
thể vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào thực tế cuộc sống.
Trong Toán học, mạch kiến thức số học là trọng tâm, là hạt nhân
của chương trình. Song các kiến thức về hình học cũng gắn bó rất chặt
chẽ với kiến thức số học và đại lượng. Nó cũng có rất nhiều ứng dụng
trong đời sống hằng ngày.
Việc dạy học các yếu tố hình học cho học sinh tiểu học nói chung
và cho học sinh lớp 3 nói riêng là nhằm trang bị cho học sinh những
biểu tượng chính xác về một số hình học đơn giản và một số đại lượng
hình học thông dụng. Đồng thời rèn cho học sinh một số kỹ năng: đo độ
dài các cạnh trong hình, kiểm tra góc vuông, vẽ các hình hình học đơn
giản. Từ đó giúp các em nắm được những đặc điểm cơ bản của các hình
hình học để nhận dạng hình một cách nhanh chóng, chính xác; biết so
sánh, phân biệt hình này với hình kia. Giúp các em phát triển các năng
lực trí tuệ, trí tưởng tượng không gian ( thông qua các bài tập vẽ hình,
ghép hình, phân tích tổng hợp hình )
Để trang bị cho học sinh lớp 3 những kiến thức trên thì quả là vấn
đề không phải là dễ. Nó đòi hỏi người giáo viên cần phải nắm chắc nội
dung chương trình, các kiến thức về hình học cũng như yêu cầu cần đạt
đối với từng bài. Đồng thời phải có phương pháp và các hình thức dạy
học phù hợp để tạo điều kiện cho các em được tiếp thu kiến thức một
cách tích cực, được thực hành kĩ lưỡng.
Trong thực tế nhiều năm gần đây, qua việc thăm lớp dự giờ học hỏi
đồng nghiệp, tôi thấy: một số ít giáo viên chưa xác định chắc chắn mục
tiêu bài học, thao tác vẽ hình chưa thật chính xác. Hơn nữa phần thực
hành vẽ hình, ghép hình chưa được đầu tư coi trọng, phương pháp truyền
1

2
- Dựa vào đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hình vuông
hình thành cách tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông và bước
đầu ứng dụng vào thực tế.
- Phân biệt điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng.
- Biết sử dụng com pa để vẽ hình tròn và nắm được tâm, bán kính,
đường kính, hình tròn, thực hành vẽ và trang trí hình tròn.
Từ những kiến thức trên học sinh ứng dụng vào việc nhận dạng
hình, ghép hình, vẽ hình và giải toán có lời văn liên quan đến các yếu tố
hình học.
Cụ thể: * Biểu tượng về các hình hình học.
- Nhận biết, gọi tên và nêu được một số đặc điểm của một số yếu tố
hình học như: góc vuông, góc không vuông; hình chữ nhật (có 4 góc
vuông, 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau); hình vuông (có 4
góc vuông và 4 cạnh bằng nhau); hình tròn ( tâm, đường kính, bán kính);
nhận biết điểm ở giữa 2 điểm, trung điểm
của một đoạn thẳng.
* Tính chu vi, diện tích của hình hình học:
- Biết tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc)
- Biết tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông ( theo quy tắc)
* Thực hành vẽ hình:
- Biết dùng ê ke để xác định góc vuông, góc không vuông.
- Biết dùng thước thẳng để xác định trung điểm của một đoạn thẳng
cho trước trong trường hợp đơn giản: đường thẳng vẽ trên giấy kẻ ô li, số
đo độ dài đoạn thẳng là các số chẵn (2cm, 3cm, 4cm, …)
- Biết dùng com pa để vẽ hình tròn.
- Biết vẽ đường kính, bán kính của một hình tròn cho trước (có tâm
xác định)
Như vậy, muốn học sinh học tốt phần hình học của môn Toán lớp 3
thì yếu tố quyết định là người thầy phải nắm chắc nội dung chương trình

ke. Hay khi dạy về hình tròn đã yêu cầu học sinh xác định khái niệm
hình tròn, đường tròn mà thực tế ở lớp 3 chỉ giới thiệu cho học sinh nhận
dạng hình tròn cùng với tâm, bán kính, đường kính của nó.
4
- Khi hướng dẫn học sinh thực hành, giáo viên đã hướng dẫn các
em cách sử dụng đồ dùng để vẽ hình hoặc vẽ góc vuông Song chỉ
hướng dẫn một cách qua loa, chưa cụ thể, rõ ràng dẫn đến các em không
nắm chắc cách vẽ và vẽ chưa đúng.
- Với loại bài luyện tập hoặc thực hành, giáo viên còn coi nhẹ việc
cho học sinh được hoạt động ( tự vẽ, xếp, ghép hình, tính toán tìm ra kết
quả …), đôi khi còn làm thay các em.
- Quá trình hình thành biểu tượng ban đầu của một số yếu tố hình
học như: biểu tượng về góc vuông, góc không vuông còn hạn chế, cứng
nhắc.
Qua khảo sát thực tế chất lượng đầu năm học 2012 – 2013, môn
Toán của lớp tôi chủ nhiệm cho thấy chất lượng học phần hình học thấp,
tỉ lệ học sinh giỏi ít. Cụ thể như sau:
Số học sinh
khảo sát
Số HS hiểu bài , thực
hành đo đạc, nhận dạng
hình, kẻ, vẽ và ghép hình
tốt
Số HS chưa hiểu kĩ bài và
thực hành đo đạc, nhận dạng
hình, kẻ, vẽ và ghép hình
chưa tốt
8 4 = 50% 4 = 50%
III. GIẢI PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Giải pháp

- Cuối cùng cho học sinh thực hành vẽ hình, vẽ góc vuông hay
kiểm tra góc vuông
2.3 Biện pháp 3: Lựa chọn cách tổ chức dạy học phù hợp đối với từng
dạng bài.
Cụ thể:
* Đối với dạng bài giới thiệu về biểu tượng, khái niệm hoặc nhận
dạng hình học, giáo viên tổ chức dạy học bằng cách:
+ Khai thác từ tính trực quan tổng thể đến cụ thể chi tiết để học
sinh nắm
6
vững và sâu sắc hơn về khái niệm.
Ví dụ: Bài Hình vuông, Hình chữ nhật. Giáo viên hướng dẫn học
sinh nhận dạng hình qua các yếu tố cạnh, góc bằng cách thực hành đo
đạc, kiểm tra. Hay khi dạy khái niệm diện tích và đo diện tích, giáo viên
cho học sinh đo rồi rút ra quy tắc tính, có thể liên hệ tới việc đếm số ô
vuông trong các hình đã được học trước đó,…sau đó tổng hợp đưa ra
công thức tính cụ thể.
+ Trong quá trình dạy, giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan hoặc
gắn với các đồ vật trong thực tế có hình dạng hình học phù hợp để học
sinh có biểu tượng hình học phong phú và nhận biết được hình đó một
cách nhanh chóng ( ví dụ: khung ảnh, con tem, tờ giấy, … có dạng hình
chữ nhật; viên gạch bông, mặt quân súc sắc, khăn mùi soa có dạng hình
vuông,…; Mặt đồng hồ treo tường, miệng rổ, miệng nón có dạng hình
tròn, …; hình ảnh 2 kim đồng hồ, 2 cánh quạt trần tạo thành một góc; ê
ke hoặc thước thợ mộc giúp học sinh làm quen với góc vuông ).
+ Hướng dẫn học sinh liên hệ khái niệm, kiến thức đã học với khái
niệm, kiến thức mới. (cách tính chu vi hình tứ giác ở lớp 2 đến cách tính
chu vi hình chữ nhật, hình vuông theo quy tắc ở lớp 3; khai thác khái
niệm trung điểm của đoạn thẳng ở bài trước với tâm hình tròn – trung
điểm của đường kính ở bài sau; sử dụng yếu tố góc vuông và đo độ dài

cạnh PM, PN
Góc không vuông
đỉnh E, cạnh EC, ED
- Giáo viên giới thiệu: Góc vuông đỉnh O, cạnh OA, OB. Từ đó học
sinh nhận dạng được 2 góc còn lại là các góc không vuông.
- Hướng dẫn học sinh đọc tên góc.
- Học sinh tự đọc tên các góc còn lại.
- Giáo viên chốt, nhấn mạnh kiến thức.
- Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng góc: (chóp nón, 2 cánh
quạt trần, góc nhà,…)
- Giáo viên giới thiệu ê ke, cách sử dụng ê ke để kiểm tra góc
vuông.
+ Giáo viên giới thiệu: Đây là cái ê ke, ê ke dùng để kiểm tra góc
vuông và vẽ góc vuông.
8
+ Ê ke có dạng hình gì? Có mấy cạnh và mấy góc? ( có dạng hình
tam giác, có 3 cạnh và 3 góc)
+ Học sinh tìm góc vuông của ê ke.
+ Giáo viên giới thiệu lại và chỉ rõ góc vuông , cạnh góc vuông
của ê ke:
+ Giáo viên vừa thao tác vừa hướng dẫn cách sử dụng ê ke: Đặt
góc vuông của ê ke trùng với góc cần kiểm tra, cạnh góc vuông của ê ke
trùng với một cạnh của góc cần kiểm tra. Nếu cạnh góc vuông còn lại
của êke trùng với cạnh còn lại của góc cần kiểm tra thì góc này là góc
vuông.
+ Yêu cầu học sinh thao tác lại trên ví dụ giáo viên vừa làm.
+ Học sinh dùng ê ke nhận biết các góc vuông trong hình.
Lưu ý: - Trong quá trình học sinh thực hành, giáo viên cần qua sát,
theo dõi giúp đỡ những em học yếu để các em nắm vững hơn cách sử
dụng ê ke.O B
A
+ Đọc tên các góc, cạnh của hình chữ nhật.
+ Dùng ê ke kiểm tra các góc của hình chữ nhật và nêu lên nhận
xét: 4 góc của hình chữ nhật đều là góc vuông.
+ Đo độ dài 2 cạnh dài, 2 cạnh ngắn của hình chữ nhật và nêu nhận
xét ( độ dài 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau.)
+ Đọc tên các cạnh có độ dài bằng nhau.
+ Nhắc lại: Hình chữ nhật ABCD có: 4 góc đỉnh A, B, C, D là các
góc vuông. 4 cạnh gồm 2 cạnh dài AB, CD, 2 cạnh ngắn BC, DA, 2 cạnh
dài có độ dài bằng nhau. 2 cạnh ngắn có độ dài bằng nhau.
- Giáo viên giới thiệu: Đây là đặc điểm của hình chữ nhật.
- Hình chữ nhật có đặc điểm gì?
- Giáo viên kết luận: Hình chữ nhật có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài
bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau.
- Học sinh nhắc lại đặc điểm của hình chữ nhật.
- Giáo viên giới thiệu: hai cạnh dài gọi là chiều dài hình chữ nhật,
hai cạnh ngắn gọi là chiều rộng.
- Học sinh lấy ví dụ một số đồ vật có dạng hình chữ nhật.
- Thực hành dùng ê ke và thước thẳng có chia vạch xăng ti mét để O B
- Học sinh quan sát nhận xét 3 điểm A; O; B là 3 điểm thẳng hàng.
- Giáo viên giới thiệu: O là điểm ở giữa hai điểm A và B.
+ Giới thiệu “Trung điểm của đoạn thẳng”
- Giáo viên đưa ra hình vẽ minh hoạ:
3cm 3cm
| | |
- Học sinh quan sát nêu điểm ở giữa hai điểm A và B.
- Học sinh đo độ dài đoạn thẳng AM và MB và nêu nhận xét: Độ
dài đoạn thẳng AM bằng độ dài đoạn thẳng MB.
- Giáo viên giới thệu: M được gọi là trung điểm của đoạn thẳng
AB.
- Giáo viên chốt kiến thức và lưu ý: M được gọi là trung điểm của
đoạn thẳng AB khi: + M là điểm ở giữa A và B.
+ Độ dài đoạn thẳng AM bằng độ dài đoạn thẳng MB.
- Lưy ý: Giáo viên cần nắm chắc kiến thức, tránh nhầm lẫn giữa:
điểm ở giữa và điểm chính giữa (trung điểm ) của đoạn thẳng.
* Với bài: “Hình tròn, tâm, đường kính, bán kính”
+ Giới thiệu hình tròn:
- Giáo viên đưa ra mặt đồng hồ, miệng rổ, miệng nón và giới thiệu:

chì chạm vào vạch số 2.
+ Đặt đầu nhọn của com pa trùng với tâm O, giữ chặt đầu nhọn và
quay đầu bút chì 1 vòng, ta được hình tròn tâm O có bán kính 2cm.
* Khi học sinh đã có khái niệm, biểu tượng hình học giáo viên cần
rèn cho học sinh kĩ năng nhận dạng, phân biệt hình. Cần phân dạng bài
tập và đưa ra cách tiến hành đối với từng dạng bài tập sao cho đạt hiệu
quả.
Ví dụ: + Dạng bài tập nhận dạng hình theo yêu cầu:
Với dạng bài tập này giáo viên tiến hành như sau:
- Yêu cầu học sinh làm việc cá nhân thao tác trên hình ( dùng ê ke,
thước kẻ hay com pa để đo, kiểm tra nhận biết góc theo yêu cầu). Giáo
viên bao quát giúp đỡ học sinh.
- Học sinh nêu kết quả và có thể giải thích theo cách lựa chọn hình
đúng hoặc giải thích theo hình sai.
Ví dụ: Bài 2/42 Trong các hình dưới đây:
a. Nêu tên đỉnh và các cạnh góc vuông;
12
b. Nêu tên đỉnh và các cạnh góc không vuông.
Như vậy ở bài tập trên, học sinh dùng ê ke để đo từng góc sau đó
đọc tên đỉnh và các cạnh góc vuông, góc không vuông. (Góc vuông đỉnh
A cạnh AD, AC; góc vuông đỉnh G cạnh GX, GY …).
Bài 1/84: Trong các hình dưới đây hình nào là hình chữ nhật?
A B M N E G
R S

D C Q P I H
U T
- Học sinh dùng ê ke và thước để đo, kiểm tra các góc và cạnh của
mỗi hình, dựa vào đặc điểm về cạnh và góc của hình chữ nhật để nhận
thấy các hình chữ nhật và nêu tên các hình chữ nhật ( MNPQ, RSTU)


Học sinh dùng thước có chia vạch xăng - ti - mét để đo độ dài các
đoạn thẳng trong hình tròn và dựa vào kiến thức đã học về hình tròn để
đưa ra kết luận về tâm, bán kính, đường kính của từng hình tròn.
+ Dạng bài tập trắc nghiệm: Cho sẵn một số tình huống trong đó
có 1 tình huống đúng, các tình huống còn lại đều sai, học sinh cần xác
định tình huống đúng/sai.
Với dạng bài tập này, giáo viên cho học sinh quan sát đo đạc, đối
chiếu với kiến thức đã học hay cắt ghép hình để nhận ra trường hợp đúng
/sai sau đó khoanh
vào chữ đặt trước câu trả lời hoặc đánh dấu x vào ô trống.
Ví dụ: Bài tập 4/42: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:
Số góc vuông trong hình bên là:
A. 1
B. 2
C. 3
14

O
C
A
B
D
M N
Q
O

I
P
D. 4

Độ dài đoạn thẳng OC ngắn hơn độ dài đoạn
thẳng OM.
Độ dài đoạn thẳng OC bằng 1/2 độ dài đoạn

thẳng CD.
O

A
B
Học sinh có thể so sánh diện tích của 2 hình bằng cách đếm số ô
vuông hoặc cắt ghép hình tam giác thành hình vuông để so sánh và
ngược lại.
+ Dạng bài tập thực hành vẽ hình:
Để học sinh vẽ được các hình, giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ
năng sử dụng đồ dùng (ê ke, com pa, thước) để vẽ hình. Những lỗi học
sinh thường mắc khi thao tác trên đồ dùng như: Đặt góc vuông của ê ke
chưa đúng; giữ thước không chặt, hay bị lệch; cầm com pa không đúng
cách dẫn đến các hình vẽ không đúng. Như vậy khi dạy giáo viên cần
chú ý tới các lỗi này của học sinh để sửa cho các em.
Ví dụ: B i 1a/42: Dïng ª ke ®Ó vÏ : à
- Góc vuông đỉnh O; cạnh OA, OB (theo mẫu)
- Góc vuông đỉnh M; cạnh MC, MD
Với bài này, giáo viên cần hướng dẫn mẫu một cách kĩ càng, cụ
thể: Đặt góc
vuông của ê ke trùng với đỉnh cho trước sao cho 2 cạnh góc vuông còn
lại của ê ke trùng với 2 cạnh đã cho.
+ Học sinh thực hành dùng ê ke vẽ góc vuông đỉnh M cạnh MC,



C D
Học sinh dùng thước có chia vạch xăng ti mét để xác định trung
điểm của đoạn thẳng.
* Đối với dạng bài hình thành công thức tính chu vi, diện tích
một hình, giáo viên tiến hành theo các bước:
Mỗi bài học thường thực hiện 3 bước:
+ Bước 1: Xây dựng (hình thành) quy tắc.
+ Bước 2: Nắm được (học thuộc) các quy tắc.
+ Bước 3: Vận dụng các quy tắc vào các bài luyện tập thực hành.
Ví dụ: Với bài “Chu vi hình chữ nhật”
+ Bước 1: Từ hình chữ nhật chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm giáo
viên yêu cầu
học sinh tính tổng độ dài các cạnh của hình chữ nhật: 4 + 3 + 4 + 3 = 14
(cm)
+ Giáo viên giới thiệu: chu vi hình chữ nhật chính bằng tổng độ
dài các cạnh.
+ Cho học sinh nhắc lại đặc điểm của hình chữ nhật (2 cạnh chiều
dài bằng nhau, 2 cạnh chiều rộng bằng nhau)
+ Dựa vào đặc điểm hình chữ nhật, học sinh tìm cách tính khác. (4
+ 3) x 2 = 14 (cm). Đây chính là cơ sở để hình thành quy tắc tính chu vi
hình chữ nhật.
+ Bước 2: Cho học sinh nắm quy tắc:
18
- Giáo viên giúp học sinh nhận thấy 4 và 3 là số đo của chiều dài và
chiều rộng.
- Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm như thế nào? ( lấy Chiều
dài + Chiều rộng rồi nhân 2.
- Giáo viên kết luận: Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta lấy chiều

- Nêu số đo chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật?
19
- So sánh các thừa số 4 và 3 trong phép nhân 4 x 3 với chiều dài và
chiều rộng hình chữ nhật.
- Nêu cách tính diện tích hình chữ nhật theo số đo chiều dài và
chiều rộng.
- Giáo viên kết luận cách tính diện tích hình chữ nhật: lấy chiều dài
nhân với chiều rộng ( cùng đơn vị đo).
+ Bước 3: Vận dụng quy tắc làm bài tập 1, 2, 3
- Học sinh nhắc lại cách tính diện tích hình chữ nhật và vận dụng
vào làm các bài tập phần luyện tập.
Với các bài toán có nội dung hình học được lồng trong mạch kiến
thức “Dạy học giải toán có lời văn” (Tính chu vi, diện tích hình chữ
nhật, hình vuông), bên cạnh kiến thức về hình học, giáo viên cần rèn kĩ
năng giải toán có lời văn theo các bước sau:
+ Bước 1: Đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề.
+ Bước 2: Phân tích đề, tìm hướng giải.
+ Bước 3: Trình bày bài giải
+ Bước 4: Kiểm tra lời giải và đáp số.
3. Dạy thực nghiệm
Tôi đã tiến hành soạn và dạy 1 bài.
Tiết 87: CHU VI HÌNH VUÔNG
I. Mục tiêu:
Giúp HS: - Biết cách tính chu vi hình vuông
- Vận dụng quy tắc để tính chu vi một số hình có dạng hình
vuông
II. Đồ dùng dạy học:
- Vẽ sẵn 1 hình vuông có cạnh 3dm.
III. Hoạt động dạy học:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh

khoa.
- Giáo viên hướng dẫn làm một

- Học sinh: 3 + 3 + 3 + 3 =12
(dm)

- Học sinh: 3 x 4 =12 (dm)
- 3 là độ dài cạnh của hình vuông
ABCD. 4 là 4 cạnh; 12 là chu vi
hình vuông.
- Muốn tính chu vi hình vuông ta
lấy độ dài 1 cạnh nhân với 4
- Nhắc lại cách tính chu vi hình
vuông.
- Viết vào ô trống ( theo mẫu)
Cạnh
hình
vuôn
g
8cm
8
×
4 =
32(cm)
12cm
12
×
4 = 48
(cm)
Chu 8

vi
hình
vuôn
g
32(cm) (cm)
- Đọc đề bài
- Ta tính chu vi của hình chữ nhật có
cạnh là 10 cm.
- làm vào vở, 1 em lên bảng làm
Đoạn dây đó dài là:
10 x 4 = 40 (cm)
- Đọc đề bài
- Học sinh quan sát hình vẽ.
- Ta phải biết được chiều dài và
chiều rộng của hình chữ nhật.
- Chiều rộng hình chữ nhật chính là
độ dài cạnh viên gạch hình vuông
- Chiều dài của hình chữ nhật gấp
3 lần cạnh của viên gạch hình
vuông
- Cạnh viên gạch hình vuông nhân
3
Bài giải
Chiều dài của hình chữ nhật là:
20 x 3 = 60 (cm)
Chu vi của hình chữ nhật là:
(60 + 20) x 2 = 160
22
- Cho học sinh thực hành đo độ
dài các cạnh của hình vuông trong

8 7 = 87,5% 1 = 12,5%
Như vậy với cách làm trên tôi thấy: tỉ lệ học sinh hiểu bài, thực
hành vẽ hình, kiểm tra hình tốt được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên vẫn
còn một số ít các em chưa thật hiểu bài, thực hành chưa tốt hi vọng dần
dần các em sẽ tiến bộ hơn.
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN:
Qua quá trình áp dụng kinh nghiệm dạy các yếu tố hình học lớp 3,
bản thân tôi nhận thấy việc nắm vững kiến thức, mục tiêu bài dạy, lựa
chọn phương pháp và cách thức tổ chức dạy học trong giờ học Toán ở
lớp 3 nói chung và khi dạy về các yếu tố hình học ở lớp 3 nói riêng là
23
một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Bởi nó không những giúp
giáo viên truyền đạt kiến thức một cách hệ thống, đúng trọng tâm bài mà
còn giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thực một cách nhẹ nhàng,
thoải mái. Đồng thời kích thích trí tưởng tượng, rèn kĩ năng kẻ, vẽ, ghép
hình; phát huy tính tự lập, sáng tạo của học sinh trong thực hành.
Như vậy để nâng cao chất lượng dạy Toán lớp 3 nói chung và nội
dung phần hình học lớp 3 nói riêng thì giáo viên cần phải:
- Lựa chọn, kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp, cách thức tổ
chức dạy học sao cho phù hợp với nội dung và yêu cầu cần đạt của từng
dạng bài. Đồng thời phải dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các
hoạt động học tập, giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực
hành.
- Phải khai thác bài học từ tính trực quan tổng thể đến cụ thể chi
tiết. Sử dụng đồ dùng trực quan hoặc gắn với các đồ vật trong thực tế có
hình dạng hình học phù hợp. Tổ chức cho học sinh liên hệ khái niệm,
kiến thức đã học với khái niệm, kiến thức mới.
- Những bài có nội dung luyện tập, giáo viên tổ chức cho học sinh
tự thao tác trên hình để tìm ra kết quả, tránh áp đặt hay làm thay học

2
2
3
4
4
5
16
18
Phần C: Kết luận và đề xuất
I. Kết luận
II. Đề xuất
20
20
20

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status